Nhắc đến đại nội cao thủ, mọi người chắc chắn sẽ nghĩ ngay đến những hiệp khách thân thủ phi phàm, dùng thuật khinh công di chuyển trên nóc nhà phiêu bồng như gió, có võ công cao cường, tinh thông đao kiếm quyền cước, đến rồi đi không để lại dấu vết…

Bởi vì nhiệm vụ của những người này là bảo vệ hoàng đế, cho nên tất cả họ đều là người giỏi nhất được lựa chọn trong hàng trăm ngàn người. Những vệ sĩ này thông thường đều có thân thủ và tuyệt kỹ vô song, người khác không thể nào đến gần. Bên cạnh Từ Hy thái hậu của nhà Thanh cũng có ba vệ sĩ như vậy, họ giúp Từ Hy tránh khỏi vô số lần bị ám sát, thậm chí trong số đó còn có người có khả năng né tránh đạn.

Trương Thục Cẩm

Trương Thục Cẩm sinh năm 1841, là người Quảng Bình tỉnh Hồ Bắc. Ông có thân hình tráng kiện, tướng mạo khôi ngô, võ nghệ cao cường. Trong cuộc thi Hội, Trương Thục Cẩm vượt qua các vòng thi, giành được vị trí thứ nhất một cách dễ dàng, được tiến cử lên Điện Thí.

Trong cuộc Điện Thí, Trương Thục Cẩm cưỡi ngựa bắn cung và đi bộ bắn cung đều liên tiếp bắn trúng, kéo đủ ba lần cây cung nặng với lực kéo 12 lực, nâng tảng đá nặng 300kg lên một cách dễ dàng, múa cây quan đao nặng 120kg rất điêu luyện. Trương Thục Cẩm hoàn thành tất cả các vòng thi đều với thành tích là người  đứng đầu, khiến tất cả mọi người có mặt đều vô cùng kinh ngạc, đương nhiên Từ Hy thái hậu cũng cảm thấy rất hài lòng.

Biểu hiện xuất chúng của Trương Thục Cẩm được trao giải đệ nhất giáp ngay tại cuộc thi, cũng tức là võ trạng nguyên. Sau đó Trương Thục Cẩm được Từ Hy chiêu dụng, ban cho chức thị vệ chánh tam phẩm, trở thành vệ sĩ thân cận hàng đầu trong đại nội hoàng cung.

Năm Quang Tự thứ 26, liên quân đánh vào thành Bắc Kinh, Từ Hy gặp muôn vàn khó khăn trên đường chạy về phía tây, Trương Thục Cẩm luôn theo sát bên cạnh Từ Hy thái hậu. Sau này bà được bình an ngự giá về kinh, không thể không kể đến võ nghệ cao cường và sự hết lòng bảo hộ của Trương Thục Cẩm, vì ông có công hộ giáo nên được phong làm Kiến uy Tướng quân.

Cung Bảo Điền

Cung Bảo Điền (1870-1943), tự Thiếu Lạc, người vùng núi thị trấn Mã Thạch Điếm thành phố Nhũ Sơn tỉnh Sơn Đông. Từ nhỏ nhà nghèo, từng vào trường Tư Thục học chữ bốn năm, sau đó vì gia cảnh khó khăn nên đã đến Bắc Kinh nương dựa vào anh trai là Cung Bảo Sơn, và trở thành người học việc trong tiệm gạo Nguyên Hanh Lợi. Cung Bảo Sơn tiến cử ông cho sư phụ mình là Doãn Phúc, Doãn Phúc rất biết nhìn người, liền thu nhận Cung Bảo Điền làm đệ tử, cho đi theo ông vào cung để luyện võ. Mà Doãn Phúc lại là đệ tử của Đổng Hải Xuyên, người sáng lập ra chiêu thức Bát quái liên hoàn chưởng, Doãn Phúc được chân truyền từ sư phụ nên đã luyện môn võ công này đạt đến cảnh giới xuất quỷ nhập thần. Dưới sự chỉ dạy tận tình của Doãn Phúc, và trải qua mười năm khổ luyện, cuối cùng Cung Bảo Điền cũng đã đạt đến đỉnh cao của bát quái chưởng. Cung Bảo Điền thân hình nhỏ bé, tướng mạo bình thường, có biệt hiệu là “Cung hầu tử”.

Cung Bảo Điền (Ảnh: Wikipedia).

Năm Quang Tự thứ 23, Cung Bảo Điền tiếp quản công việc của Doãn Phúc, trở thành thủ lĩnh của hộ vệ cung đình, được gia phong làm Tứ phẩm Đới đao thị vệ, phụ trách việc bảo vệ an toàn tính mạng của Từ Hy và hoàng đế Quang Tự. Năm 1899, phong trào Nghĩa Hòa Đoàn nổ ra, Cung Bảo Điền bảo vệ Từ Hy thái hậu và hoàng đế Quang Tự trốn khỏi Bắc Kinh, hộ giá tiến về Tây An, lập được công lớn nên được ban thưởng cho mặc hoàng mã quái (hoàng mã quái là một loại trang phục của quan viên nhà Thanh).

Năm 1905 sau khi Cung Bảo Điền từ quan đã mở một võ quán tại quê nhà, thu nhận rất nhiều đệ tử, dạy các đệ tử luyện võ để báo quốc. Tuy rằng lúc đó ông đã ẩn cư nhưng danh tiếng của ông vẫn rất vang dội, Trương Tác Lâm của quân phiệt Phụng hệ muốn Cung Bảo Điền xuống núi đến làm tổng giáo đầu của Phụng hệ, và còn đích thân đến tận nhà thăm hỏi, nhưng con người của Trương Tác Lâm rất đa nghi, ông thấy thân hình của Cung Bảo Điền nhỏ bé, nghĩ rằng chắc võ nghệ của ông không lợi hại như lời đồn, sợ rằng Cung Bảo Điền không thể nào quản lý được đội quân của mình.

Cung Bảo Điền nhìn ra được sự lo ngại của Trương Tác Lâm, liền cười lớn tiếng, ông thẳng thắn kêu Trương Tác Lâm nhắm thẳng vào ông mà nổ súng, nếu như ông không thể tránh được viên đạn của Trương Tác Lâm mà chết tại chỗ, cũng không cần Trương Tác Lâm phải chịu trách nhiệm, Trương Tác Lâm nghe xong liền nổ hai phát súng, nhưng đều không bắn trúng Cung Bảo Điền, đợi khi ông chuẩn bị bắn ra phát súng thứ ba thì Cung Bảo Điền đã vòng ra phía sau lưng Trương Tác Lâm, khiến ông giật bắn mình. Từ đó Trương Tác Lâm không chỉ nâng đỡ Cung Bảo Điền lên làm tổng giáo đầu của Phụng quân, mà còn cho Cung Bảo Điền làm vệ sĩ thân cận của mình, hai người họ trở thành bạn tốt vô cùng thân thiết.

Năm 1928, Quốc Dân Đảng chiếm đánh miền Bắc, Phụng quân rút khỏi Bắc Kinh, Trương Tác Lâm kêu Cung Bảo Điền ở lại Bắc Kinh để bảo vệ Trương Học Lương, một mình ông đi về Đông Bắc trước, không ngờ tại đồn Hoàng Cô bị quân Nhật gài bẫy cho nổ chết. Sau khi Trương Học Lương tiếp quản Phụng quân, Cung Bảo Điền từ bỏ chức vụ tổng giáo đầu, tiếp tục về quê mở võ quán dạy học, đào tạo được rất nhiều dũng sĩ yêu nước, ông tiên phong thống lĩnh binh sĩ trong cuộc kháng chiến chống Nhật, cuối cùng lâm bệnh chết vào năm 1943, hưởng thọ 73 tuổi.

Lý Thụy Đông

Lý Thụy Đông (1851-1917) sinh vào năm Hàm Phong, từ nhỏ đã thích quyền cước, từng theo học Trác cường quyền pháp của sư phụ Trác cước môn tại Nhiêu Dương tỉnh Hà Bắc, và theo học môn Đản thối pháp của Đại Đao Vương Ngũ tại Sơn Đông, đều học rất nghiêm chỉnh và bài bản, đến tuổi trưởng thành thì võ công của Lý Thụy Đông đã đạt đến mức điêu luyện, giao đấu với người khác luôn là trăm trận trăm thắng, chưa từng bị bại trận. Sau này được người ta giới thiệu vào Thụy vương phủ và Cung thân vương phủ làm thầy dạy võ, Lý Thụy Đông thường xuyên qua lại thân mật với Doãn Phúc và Trình Đình Hoa, và từng được đích thân Đổng Hải Xuyên chỉ giáo.

Lý Thụy Đông (Ảnh: Wikipedia).

Thụy vương Tái Y thấy Lý Thụy Đông võ công cao cường liền bái ông làm sư phụ, trong tiệc đại thọ 60 tuổi của Từ Hy thái hậu, trong lúc Lý Thụy Đông biểu diễn võ nghệ đã bị Thụy vương để mắt tới, sau khi Lý Thụy Đông biểu diễn xong một bộ quyền pháp, liền thi triển khinh công bay lên trên trụ cột trong đại điện Di Hòa Viên, giống như hạc trắng tung cánh, Từ Hy vô cùng phấn khích gọi Lý Thụy Đông là “thần ưng”. Vì vậy mà Lý Thụy Đông được ở lại trong cung, nhậm chức Tứ phẩm Đới đao thị vệ kiêm Giáo quan võ thuật.

Năm 1901, Từ Hy từ Tây An quay trở về Bắc Kinh. Dưới sự yêu cầu của liên quân tám nước, hạ chỉ “thanh trừng”, Tái Y ủng hộ chống lại liên quân nên bị áp giải đến Tân Cương, còn Lý Thụy Đông bị ép phải rời khỏi cung, ông bèn trở về quê nhà. Sau khi trở về quê, Lý Thụy Đông lại bái Cam Đạm Nhiên làm sư phụ, tập luyện bát quái kỳ môn quyền. Sau này kết hợp những võ học của mình, sáng lập ra thái cực quyền Lý Thị.

Trong những năm đầu Dân Quốc, Lý Thụy Đông từng đảm nhận công việc dạy võ cho Thân vệ đội của tổng thống Viên Thế Khải, cũng từng chủ trì Đại hội anh hùng võ lâm thiên hạ, đảm nhận chức vị trọng tài, ông qua đời vào năm 1917.

Theo Sound Of Hope
Châu Yến biên dịch