Trong ‘Tam quốc diễn nghĩa’, Viên Thiệu tự Bản Sơ được giới thiệu là ‘Tứ thế Tam công’ (四世三公: bốn đời đều làm chức Tam công, tức Chính phủ Tổng lý). Đến thời Đông Tấn cũng xuất hiện rất nhiều người như Viên Thiệu, nhưng sự hưng khởi của những sĩ tộc kiểu như Viên Thiệu lại là một vấn đề của triều đại này. Rốt cuộc đây là chuyện gì?

Tạ An vẫn điềm tĩnh nghe tin thắng trận

Lời bạch: Trong ‘Phì Thuỷ chi chiến, Phù Kiên thống lĩnh đại quân trăm vạn ‘Đầu tiên đoạn lưu’ (投鞭斷流: ném roi nghẹt dòng) tấn công Đông Tấn, nhưng lại gặp phải hoàn cảnh ‘Thảo mộc giai binh’, ‘Phong thanh hạc lệ’, ‘thần hồn nát thần tính’, cuối cùng thảm bại vong thân, quốc gia Tiền Tần cũng vì thế mà diệt vong. Phương bắc trở lại cục diện chiến loạn, còn thế cục của Đông Tấn ở phương nam như thế nào?

Giáo sư Chương Thiên Lượng giảng, sau ‘Phì Thuỷ chi chiến’, tin thắng trận được đưa đến đô thành Kiến Khang của Đông Tấn. Lúc này Tạ An đang chơi cờ với một vị khách. Khi tin báo đưa đến, bình thường mọi người sẽ rất quan tâm cuộc chiến như thế nào, nhưng Tạ An xem xong tin báo không có chút biểu cảm nào, sau đó xếp chồng những thông báo này lại với nhau, dường như không có phát sinh bất cứ chuyện gì. Tạ An lại tiếp tục chơi cờ.

Người chơi cờ cùng ông biết rằng đây là tin báo chiến trận, rất sốt ruột muốn xem kết quả ở tiền tuyến như thế nào. Sau đó vị khách này mới hỏi Tạ An rằng: ‘Tình huống như thế nào?’, Tạ An mới chầm chậm trả lời bằng 6 chữ: “Tiểu nhi bối, đại phá tặc” (小兒輩,大破賊: hậu bối nhỏ tuổi của ta đã phá được giặc lớn). Khi đó vị khách vui sướng đứng lên, không đánh cờ nữa, nói rằng: ‘Tôi phải nhanh chóng đem tin tức tốt này nói cho bạn bè thân thích’.

3 vấn đề lớn của chính quyền Đông Tấn

Năm 383 phát sinh ‘Phì Thuỷ chi chiến’, 37 năm sau, tức năm 420 thì Đông Tấn diệt vong.

Chính quyền Đông Tấn từ lúc kiến quốc đã bắt đầu có những vấn đề cố hữu, Giáo sư Chương khái quát thành 3 vấn đề lớn:

  • Vấn đề thứ nhất là ‘sĩ tộc đến cư ngụ’ (Kiều ngụ sĩ tộc – 僑寓士族) và ‘sĩ tộc bản địa’. 
  • Vấn đề thứ hai là mối quan hệ giữa ‘quân phiệt địa phương’ với ‘chính phủ trung ương’, cũng gọi là ‘Kinh Dương chi tranh’. 
  • Vấn đề thứ ba là ‘bắc phạt khôi phục quốc thổ Trung Nguyên’ với ‘yên phận một chỗ’.

Về vấn đề thứ nhất, Giáo sư Chương muốn giảng một chút về chính trị sĩ tộc thời Đông Tấn. 

Vì sao thời Đông Tấn có nhiều ‘Tứ thế Tam công’ như Viên Thiệu?

Chúng ta biết rằng vào thời kỳ Hán Vũ Đế ‘bãi truất Bách gia, độc tôn Nho thuật’, thì những học vấn của Nho gia rất được coi trọng. Kinh học (học vấn Nho gia) thời nhà Hán thuộc về hình thái ý thức mang tính đại biểu của triều đại này.

Triều Hán khi đó có rất nhiều sĩ tộc gọi là ‘Kinh học truyền gia’. Những sĩ tộc này nghiên cứu một kinh điển nào đó của Nho gia, có rất nhiều tâm đắc, họ chỉ đem những kinh điển này truyền lại con cái trong nhà hoặc các môn sinh của họ. 

Hán Vũ Đế thi hành ‘sát cử chế độ’ (察舉制度: chế độ khảo sát và tiến cử). Cái được gọi là ‘cử’ (舉) chính là tiến cử, còn ‘sát’ (察) chính là khảo sát. Đầu tiên là phải tiến cử nhân tài ở địa phương, sau đó chính phủ trung ương tiến hành khảo sát. Đương nhiên khi địa phương tiến cử nhân tài nhất định tiến cử những người có nghiên cứu học vấn Nho gia, bởi vì triều Hán coi trọng Nho thuật, cho nên những người ‘Kinh học truyền gia’ không ngừng được tiến cử. Gia này hiểu điều này trong kinh điển, khi địa phương tiến cử, thì lần tiếp theo cũng tiến cử gia này.

Do đó việc nghiên cứu ‘Kinh học truyền đời’ (Luỹ thế kinh học – 累世經學) đã biến thành ‘Công khanh truyền đời’ (Luỹ thế công khanh – 累世公卿). Thực lực kinh tế của những người làm quan cao cũng không ngừng tăng trưởng, thế là vây quanh những ‘Kinh học truyền gia’ đã xuất hiện những nông dân dựa vào họ. Những người ‘Kinh học truyền gia’ cho nông dân canh tác ruộng đất, họ còn vũ trang cho địa phương đó. Như thế ‘Kinh học truyền gia’ đã mang đến sự hưng khởi (興起: trỗi dậy) của sĩ tộc.

Loại sĩ tộc này vào thời kỳ Đông Hán đã rất minh hiển rõ ràng. Nếu chúng ta đọc ‘Tam quốc diễn nghĩa, hễ đề cập đến Viên Thiệu thì nói rằng: “Viên Bản Sơ Tứ thế Tam công, môn sinh người làm có đầy thiên hạ”, chính là từ Viên Thiệu trở về trước, liên tục 4 đời đều làm đến vị trí Tam công, tức vị trí Chính phủ Tổng lý (Thủ tướng Chính phủ). Vì thế Viên gia (gia tộc họ Viên) thời đó là một gia tộc rất hiển hách. 

Vào thời kỳ Đông Hán đã xuất hiện hình thức ban đầu của ‘chính trị quý tộc’. Sau này đến thời đại Tam quốc đã phát sinh một thay đổi nhỏ. Bởi vì Tào Tháo đánh trận, đánh trận thì không thể dùng người chỉ đọc kinh điển Nho gia, cho nên từ năm Kiến An thứ 10 đến năm Kiến An thứ 22, ông đã 3 lần ra ‘lệnh cầu hiền’, cũng gọi là ‘Nguỵ Vũ tam chiếu lệnh’ (魏武三詔令: Nguỵ Vũ Tào Tháo ba lần ra lệnh cầu hiền).

Khi đó Tào Tháo đề xuất một nguyên tắc mà sĩ tộc rất khó tiếp nhận, gọi là ‘duy tài thị cử’ (唯才是舉: chỉ cần có tài là tiến cử), tức là Tào Tháo ‘không quản gia thế của người ấy, cũng không nhìn vào phẩm chất đạo đức, người ấy chỉ cần có tài năng thì dùng’. ‘Duy tài thị cử’ là nội dung chính của ‘Nguỵ Vũ tam chiếu lệnh’.

Tranh vẽ Tào Tháo và nội dung chính ‘Duy tài thị cử’ (唯才是舉: chỉ cần có tài là tiến cử) trong ‘Nguỵ Vũ tam chiếu lệnh’.

Như thế Tào Tháo đã đắc tội với rất nhiều sĩ tộc thời bấy giờ. Kỳ thực rất nhiều sĩ tộc thời đó chỉ mong Viên Thiệu diệt được Tào Tháo; bởi vì Viên Thiệu là đại sĩ tộc, ông ấy có thể duy trì lợi ích của sĩ tộc. 

Đến khi Tào Tháo qua đời, Thế tử Tào Phi kế vị. Tào Phi muốn soán Hán, nếu muốn soán Hán ắt phải dựa vào sự ủng hộ của sĩ tộc. Sau này Tào Phi đạt được thoả hiệp với một người là Trần Quần (陳群), chính là những sĩ tộc sẽ ủng hộ Tào Phi soán Hán làm Hoàng đế, nhưng Tào Phi phải đảm bảo những sĩ tộc này đời đời làm quan. 

Thế là Trần Quần đã kiến nghị cho Tào Phi một chế độ gọi là ‘Cửu phẩm trung chính’ (九品中正), với nội dung chính là: căn cứ theo 3 phương diện là Dòng dõi, Đạo đức, Tài cán của một người mà phân thành 9 đẳng cấp. Sau đó mỗi đẳng cấp có thể làm chức quan như thế nào. Trên thực tế khi khảo sát, thông thường chỉ nhìn gia thế, còn những cái khác không quan tâm lắm. Do đó đến thời kỳ Nguỵ Tấn, thế lực của sĩ tộc đã vô cùng to lớn. 

Tranh vẽ Tào Phi và chế độ ‘Cửu phẩm trung chính’ dựa vào Dòng dõi, Đạo đức và Tài cán để phân thành 9 đẳng cấp, mỗi cấp làm được đến chức quan như thế nào.

Mâu thuẫn giữa sĩ tộc phương bắc và sĩ tộc phương nam

Sau thời ‘Vĩnh Gia chi loạn’, những đại sĩ tộc này thuận theo việc ‘Tấn thất nam thiên’ (tôn thất nhà Tấn di chuyển về nam sông Trường Giang), thì phía nam Trường Giang cũng có sĩ tộc, tức sĩ tộc của Đông Ngô.

Đông Ngô có tứ đại gia tộc chính là Chu – Trương – Cố – Lục. Chu trong thời kỳ Tam quốc có biểu hiện không rõ ràng lắm, còn Trương là Trương Chiêu – đệ nhất mưu thần quan văn của Tôn Quyền, Cố là Cố Ung – sau này là Tể tướng của Tôn Quyền, Lục chính là Lục Tốn – người dùng hoả thiêu 700 dặm liên trại. Đông Ngô có tứ đại gia tộc Chu – Trương – Cố – Lục như thế. 

Sau khi xảy ra ‘Vĩnh Gia chi loạn’ ở phương bắc, 4 gia tộc lớn của Đông Tấn là Vương – Tạ – Hoàn – Sưu đã đến phía nam của Trường Giang. Lúc này vấn đề xuất hiện.

Những sĩ tộc phương bắc không chỉ mang theo sách mà còn mang theo một lượng lớn tiền, cho nên sau khi đến phía nam Trường Giang, họ đã không ngần ngại mua đất, sau đó tìm người giúp họ canh tác.

Sĩ tộc đến từ phương bắc gọi là ‘kiều ngụ sĩ tộc’ (僑寓士族: sĩ tộc đến cư ngụ), đã chèn ép quyền lực những sĩ tộc Chu – Trương – Cố – Lục của Đông Ngô ở phương nam. Như vậy mang đến sự xung đột giữa sĩ tộc phương bắc và sĩ tộc phương nam.

‘Kinh Dương chi tranh’: xung đột giữa quân phiệt địa phương và chính phủ trung ương

Mâu thuẫn thứ hai chính là ‘Kinh Dương chi tranh’. Cái gọi là ‘Kinh Dương chi tranh’ chính là mâu thuẫn giữa chính phủ trung ương và quân phiệt địa phương.

Vì để đảm bảo an toàn cho đô thành Nam Kinh  của Đông Tấn, thì vùng trung – thượng lưu của Trường Giang, tức vùng Kinh Châu là một trọng trấn (trấn vô cùng quan trọng). Vì thế triều đình đã phái quân đội hùng hậu đồn trú ở Kinh Châu. Người lãnh binh ở Kinh Châu thông thường là người có dã tâm, họ có thể muốn phát động phản loạn. 

Do đó trong lịch sử hơn 100 năm của Đông Tấn, những nhà quân phiệt ở Kinh Châu thường phát động phản loạn. Ban đầu có Vương Đôn, sau này có Hoàn Ôn v.v. họ đều là những nhà quân phiệt ở Kinh Châu. Đây là mâu thuẫn giữa quân phiệt địa phương và chính phủ trung ương.

Mâu thuẫn giữa ‘bắc phạt Trung Nguyên’ và ‘yên phận một cõi’

Vấn đề thứ ba là mâu thuẫn giữa ‘bắc phạt’ và ‘yên ổn’. Từ đạo lý mà giảng, làm một vị Hoàng đế thì nên khôi phục quốc thổ đã mất ở phương bắc, khôi phục Trung Nguyên. Do đó một số người chủ trương ‘bắc phạt’, điển hình nhất là Tổ Địch với tích ‘Văn kê khởi vũ’ (聞雞起舞: nghe tiếng gà, dậy luyện võ), hy vọng khôi phục Trung Nguyên.

Những nhà quân phiệt ở Kinh Châu cũng không ngừng tổ chức bắc phạt, giống như Hoàn Ôn, Lưu Dụ… đều đã từng tổ chức bắc phạt. 

Vậy thì thái độ của chính phủ trung ương đối với bắc phạt như thế nào? Chính là 4 chữ: “Tuyệt bất chi trì” (絕不支持: tuyệt đối không ủng hộ). Vì sao? Bởi vì chính phủ trung ương cho rằng nếu nhà quân phiệt khôi phục quốc thổ, thì thực lực của họ sẽ quá cường đại, đồng thời danh vọng của họ cũng quá cao, lúc này sẽ ‘danh chính ngôn thuận’ mà soán vị. Đây sẽ là uy hiếp đối với Hoàng đế.

Khi nhà quân phiệt đánh trận ở tiền tuyến, hoặc bắc phạt ở tiền tuyến, triều đình sẽ không đề cập đến việc cung cấp binh lính hoặc lương thảo. Cho nên bắc phạt hầu như không có trường hợp ngoại lệ, đều là tự tổ chức rồi tự thi hành, cuối cùng vì binh lính hoặc lương thực cạn kiệt mà thất bại. 

Do đó chúng ta thấy rằng, 3 vấn đề trên đã dẫn đến năm 420, một người tên là Lưu Dụ đã soán đoạt chính quyền Đông Tấn, kiến lập nhà Tống. Như thế Trung Quốc đã tiến nhập vào thời kỳ Nam Bắc triều. Phương nam đã trải qua 4 triều đại là Tống – Tề – Lương – Trần; còn phương bắc thì đến năm 439, một người tộc Tiên Ti là Thác Bạt Đảo lại thống nhất được phía bắc Trường Giang.

Tựu trung lại, năm 420, phương nam tiến nhập vào chính quyền nhà Lưu Tống (nhà Tống do Lưu Dụ thành lập, chứ không phải nhà Tống do Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận thành lập); còn Thác Bạt Đảo đã thống nhất phía bắc Trường Giang; lúc này lịch sử Trung Quốc tiến nhập vào thời kỳ chia cắt ‘Nam bắc đối trĩ’ (南北對峙: Nam bắc sóng đôi). Vậy thì đoạn lịch sử này đã phát sinh những câu chuyện như thế nào, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo: Nam bắc đối trĩ.

Mạn Vũ

Chú thích:

(*) Link ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 2: Phì Thuỷ chi chiến.

(**) Ảnh trong bài chụp từ ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 2.