Triều Hán có một đặc điểm mà triều đại khác không có, đó là vấn đề ‘ngoại thích’ (họ bên ngoại) hầu như gắn liền với vận mệnh triều Hán. Rốt cuộc đây là chuyện gì? 

Trong Tiếu đàm phong vân phần 3: Tuỳ Đường thịnh thế, Giáo sư Chương Thiên Lượng có trích ra 4 tập miễn phí (chỉ cần có email là xem được), trong đó tập 1: Hợp cửu tất phân, Giáo sư Chương đã kể câu chuyện lịch sử thời nhà Hán, từ đó làm rõ vấn đề trên như sau.

Tuỳ Đường thịnh thế

Lời bạch: Trong ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 2: Tần Hoàng Hán Vũ, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã giảng đoạn lịch sử 130 năm từ thời Tần Thuỷ Hoàng đến Hán Vũ Đế. Trong đó triều Tần đã đặt định Trung Quốc về mặt địa lý cho đến chế độ chính trị kéo dài 2000 năm, còn triều Hán thì đặt định văn hoá Trung Quốc. Tần Hoàng Hán Vũ đã đặt định cơ sở vững chắc cho việc kiến lập và duy trì Trung Quốc thống nhất.

Nhưng đến những năm cuối thời Đông Hán, Trung Quốc hãm nhập vào thời đại chia cắt kéo dài 400 năm, cuối cùng thống nhất ở nhà Tuỳ. Hai triều Tuỳ – Đường khai đã khai mở ‘thiên triều thịnh thế’ (天朝盛世) có tính mô phạm kéo dài thiên cổ, trong đó rốt cuộc có những câu chuyện và ảnh hưởng nào? Thỉnh quý khán thính giả đón xem ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3: Tuỳ Đường thịnh thế.

Giáo sư Chương Thiên Lượng bắt đầu giảng về Tuỳ – Đường. Hai triều Tuỳ – Đường là ‘thời đại hoàng kim’ của văn hoá Trung Quốc. Tuỳ Văn Đế đã kết thúc thời đại chia cắt kéo dài 400 năm, khai mở thịnh thế thống nhất. Vào thời đại Tuỳ – Đường, văn hoá và kinh tế Trung Quốc vô cùng phát triển, quân sự cũng rất cường đại, do đó đã thu hút rất nhiều lưu học sinh, sứ đoàn, thương đoàn (đoàn thương nhân) của rất nhiều quốc gia đến Trung Quốc học tập. Đây quả thật là cảnh thịnh thế huy hoàng ‘vạn quốc lai triều’. 

Một thi nhân triều Đường là Vương Duy từng viết như thế này:

Cửu thiên xương hạp khai cung điện
Vạn quốc y quan bái miện lưu

Nguyên văn Hán tự:

九天閶闔開宮殿
萬國衣冠拜冕旒

Tạm dịch:

Chín bệ mở toang cung ngọc điện
Trăm quan mừng lạy đấng anh quân

Vào thời đại của Đường Cao Tông, diện tích lãnh thổ Trung Quốc đạt đến 12 triệu km2 (gấp 40 lần diện tích Việt Nam bây giờ). Đây là diện tích vô cùng lớn. Chúng ta biết rằng vào thời Tần, diện tích Trung Quốc là 3 triệu km2 (gấp 10 lần diện tích Việt Nam), đến thời Hán Vũ Đế diện tích Trung Quốc là 6 triệu km2, như vậy đến thời Đường, diện tích Trung Quốc đã gấp đôi thời Hán Vũ Đế.

Triều Tuỳ đã bắt đầu duy trì chế độ khoa cử kéo dài 1300 năm, đồng thời thiết lập chế độ quan lại ‘Tam tỉnh lục bộ’, điều này có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với hậu thế. Đến thời nhà Đường, tam giáo Nho – Thích – Đạo đạt đến đỉnh cao, cũng xuất hiện Thiên cổ nhất đế là Đường Thái Tông Lý Thế Dân. Do đó hai triều Tuỳ – Đường có ảnh hưởng vô cùng to lớn. Giáo sư Chương sẽ giảng một cách có hệ thống về hai triều Tuỳ – Đường. 

Đầu tiên, Giáo sư Chương muốn dùng thời gian 8 tập để nói một chút về giai đoạn lịch sử từ lúc Hán Vũ Đế băng hà đến Tuỳ Văn Đế khai quốc.

Giai đoạn từ lúc Hán Vũ Đế băng hà đến cuối thời Đông Hán

Năm 87 TCN, Hán Vũ Đế băng hà, khi đó người con trai Lưu Phất Lăng 7 tuổi của ông kế vị, lịch sử gọi là Hán Chiêu Đế. Trước khi Hán Vũ Đế băng hà đã di chiếu cho Hoắc Quang phù chính (輔政: phò tá chính trị). Hoắc Quang trong giai đoạn phù chính đã tiếp tục chính sách ‘tu dưỡng sinh tức’ (休養生息: nghỉ ngơi dưỡng sức) trong những năm cuối thời Hán Vũ Đế. Vào giai đoạn trị vì của Hán Chiêu Đế và Hán Tuyên Đế, kinh tế quân sự của nhà Hán rất cường đại.

Sau khi Hán Tuyên Đế băng hà, Hán Nguyên Đế kế vị. Từ vị Hoàng đế này, triều Hán bắt đầu đi về hướng suy bại. Hoàng hậu của Hán Nguyên Đế là Vương Chính Quân, sau khi chờ Hán Nguyên Đế băng hà, gia tộc ngoại thích của Vương Chính Quân bắt đầu nắm quyền. Cháu của Vương Chính Quân là Vương Mãng rất nổi trong lịch sử, trải qua 4 đời Hoàng đế là Nguyên – Thành – Ai – Bình (Hán Nguyên Đế, Hán Thành Đế, Hán Ai Đế, Hán Bình Đế), Vương Mãng dần dần nắm quyền lực tối cao của nhà Hán.

Năm thứ 8 SCN, Vương Mãng cuối cùng cũng hoàn thành lý tưởng soán Hán của ông, kiến lập Tân triều (新朝).

Sau khi làm Hoàng đế, Vương Mãng rất nhiều chính sách chính trị, kinh tế, ngoại giao vô cùng hoang đường và ngu xuẩn. Điều này dẫn đến thiên hạ đại loạn, đồng thời cùng với dịch bệnh truyền nhiễm, thiên tai nhân hoạ, cho nên ‘đao binh tứ khởi’.

Đến năm 22 SCN, hậu duệ của Lưu Bang là Lưu Tú khởi binh ở đất Uyển, nay là Nam Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Sau đó năm 23 SCN xảy ra một trận chiến lớn, trên cơ bản tiêu diệt quân đội chủ lực của Vương Mãng, Vương Mãng bị giết. Sau đó thành lập một chính quyền thay thế, nhưng Hoàng đế lúc đó là Lưu Huyền chứ không phải Lưu Tú. 2 năm sau, đến năm 25 SCN, Lưu Tú xưng đế ở huyện Hạo tỉnh Hà Bắc (nay thuộc huyện Bá Hương tỉnh Hà Bắc), thành lập chính quyền Đông Hán. 

Vì trước Lưu Tú, nhà Hán đóng đô ở Trường An ở phía tây cho nên gọi là Tây Hán; Lưu Tú đóng đô ở Lạc Dương thuộc phía đông nên gọi là Đông Hán. Trong lịch sử gọi Tây Hán là Tiền Hán, gọi Đông Hán là Hậu Hán. Chúng ta thấy rằng trong ‘Nhị thập tứ sử’ (24 bộ chính sử) có cuốn ‘Hậu Hán thư’, điều giảng ra là lịch sử thời kỳ Đông Hán.

Sau khi Lưu Tú khai quốc, ông thi hành chính sách ‘tu dưỡng sinh tức’ (nghỉ ngơi dưỡng sức), trong thời gian làm Hoàng đế đã khôi phục phát triển kinh tế và phát triển văn hoá, lịch sử gọi đoạn thời gian này là ‘Quang Vũ trung hưng’ (光武中興). 

Đoạn lịch sử thời Đông Hán vào những năm đầu còn rất tốt, trong thời gian Hoàng đế thứ hai là Hán Minh Đế Lưu Trang trị vì đã phát sinh một sự việc rất lớn. Vào một đêm, Lưu Trang khi ngủ trong cung điện thì gặp một giấc mơ rất kỳ lạ, ông mơ thấy một người da trắng bay trên cung điện. Ngày hôm sau tỉnh dậy, ông triệu tập đại thần, đem giấc mộng thảo luận cùng bá quan văn võ để mọi người cùng giải mộng. Trong đó có một vị đại thần nói: ‘Phương tây có một chủng Thần gọi là Phật, người bệ hạ mơ chính là Phật’.

Thế là Lưu Trang phái đại thần đi Tây Thiên cầu pháp. Khi đó một nhóm các đại thần men theo con đường tơ lụa (tức con đường mà trước đây Hán Vũ Đế khai mở) một mạch hướng về tây, đi đến địa phương Afghanistan. Ở địa phương này nhóm đại thần đã gặp được 2 vị tăng nhân Ấn Độ đến phương đông truyền pháp, một người là Nhiếp Ma Đằng, một người là Trúc Pháp Lan, thế là nhóm đại thần đem Phật kinh và 2 vị tăng nhân đến đô thành Lạc Dương. 

Khi Phật kinh đến Lạc Dương được đặt trên lưng của con bạch mã (ngựa trắng), đến Lạc Dương vào năm 67 SCN, tức năm Vĩnh Bình thứ 10. Hán Minh Đế Lưu Trang vì để nghênh tiếp Phật Pháp, đã xây một ngôi chùa ở Lạc Dương gọi là Bạch Mã tự (chùa Bạch Mã). Đây là bắt đầu cho việc Trung Quốc có Phật giáo.

Ảnh chùa Bạch Mã và Tam bảo Phật Pháp Tăng.

Trong Phật giáo gọi Phật (tức Phật tượng), Pháp (tức Phật kinh) và Tăng (tức Tăng nhân) là ‘Tam bảo’. ‘Tam bảo’ đầy đủ mới được tính Phật giáo chính thức truyền nhập vào Trung Quốc. Sau thời ‘Vĩnh Bình cầu pháp’, vì có tăng nhân Ấn Độ đến đô thành Lạc Dương, đồng thời còn có Bạch Mã tự, xây Phật tượng, 2 vị tăng nhân Ấn Độ lại phiên dịch bộ kinh đầu tiên của Trung Quốc là ‘Tứ thập nhị chương kinh’, như thế Phật Pháp Tăng của Trung Quốc đã có đủ, Phật giáo mới được tính là truyền nhập vào Trung Quốc.

Vì sao ‘ngoại thích’ là vấn đề gắn với vận mệnh nhà Hán?

Vào những năm đầu thời Đông Hán, trải qua Quang Vũ Đế Lưu Tú, Hán Minh Đế Lưu Trang và Hán Chương Đế Lưu Đát, đến Hoàng đế thứ tư là Hán Hoà Đế Lưu Triệu thì Đông Hán phát sinh một số vấn đề.

Vương triều nhà Hán có một số đặc điểm mà ở những triều đại khác không có. Thiên hạ Đại Hán 400 năm, vấn đề ‘ngoại thích’ hầu như gắn liền với vận mệnh vương triều nhà Hán. Bởi vì sau khi Hán Vũ Đế băng hà thì có Hoắc Quang phù chính (phò tá chính trị), trải qua Chiêu – Tuyên (Chiêu Đế, Tuyên Đế) thì ngoại thích còn tương đối chính. Sau đó đến Nguyên – Thành – Ai – Bình, tiếp đó Vương Mãng soán Hán, cho nên Tây Hán là vong ở ngoại thích (Vương Mãng là cháu của Hoàng hậu Vương Chính Quân).

Đến Hoàng đế thứ tư thời Đông Hán là Hán Hoà Đế Lưu Triệu, mãi cho đến Đông Hán diệt vong, tổng cộng có 10 vị Hoàng đế. 10 vị Hoàng đế này khi kế vị đều là vị thành niên, trong đó lớn nhất là Hoàn Đế kế vị năm 15 tuổi, còn lại hầu như là những Hoàng đế 2 tuổi, 3 tuổi, 4 tuổi, Hoàng đế nhỏ nhất kế vị chỉ mới 100 ngày tuổi.

Khi Hoàng đế rất nhỏ, thông thường không có năng lực trị lý thiên hạ, không biết quản lý quốc gia như thế nào, cho nên Hoàng đế chỉ còn cách dựa vào Thái hậu. 

Còn có một nguyên nhân nữa đó là: triều Hán đề xướng ‘dĩ hiếu trị thiên hạ’ (lấy hiếu trị lý thiên hạ). Triều Hán trọng Nho thuật, Khổng Tử giảng Ngũ thường Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín. Trong đó giá trị Nhân đứng đầu Ngũ thường, mà theo Khổng Tử: ‘Hiếu đễ là gốc của Nhân’, nếu là một người Nhân ái thì đầu tiên nên hiếu thuận, cho nên Hoàng đế đương nhiên nghe theo lời của mẫu thân, do đó mang đến việc Thái hậu hoặc người thân của Thái hậu nắm quyền.

Tranh vẽ Khổng Tử và câu nói: ‘Hiếu đễ vi Nhân chi bản’ (Hiếu đễ là gốc của Nhân).

Ngoại thích nắm quyền, ngoài việc hoàng quyền (quyền Hoàng đế) chuyển từ họ Lưu sang họ ngoại, còn có một vấn đề nữa đó là: quyền lực của ngoại thích không ổn định. Vì sao? Giáo sư Chương giải thích, ví như nói Hoàng hậu của Hoàng đế họ Lã, thì Hoàng hậu tiếp theo có thể mang họ Bạc chẳng hạn, như thế sẽ có vấn đề gia tộc họ Lã giao quyền cho gia tộc họ Bạc. Loại giao lại quyền lực này có thể nói là không cam tâm tình nguyện, cho nên thông thường sẽ có đấu tranh quyền lực kịch liệt của các ngoại thích với nhau.

Sau khi quyền lực nằm trong tay ngoại thích, tiểu Hoàng đế cũng dần trưởng thành, ông sẽ phát hiện: vốn dĩ mình là Hoàng đế, mình họ Lưu, tại sao những người họ khác lại nắm quyền? Do đó thông thường tiểu Hoàng đế sẽ chuẩn bị thu lại quyền lực. Trong quá trình này, vì văn võ trong triều thông thường là ngoại thích nắm quyền, cho nên Hoàng đế chỉ có thể dựa vào những hoạn quan bên cạnh mà phát động chính biến. Nhưng sau khi chính biến, thông thường hoạn quan vừa được sủng ái, vừa nắm quyền lực, Hoàng đế rất nhanh sau đó băng hà, sau đó tiểu Hoàng đế lại kế vị, lúc này ngoại thích lại nắm quyền. 

Điều này đưa đến việc 100 năm hậu kỳ thời Đông Hán, thông thường giữa hoạn quan và ngoại thích không ngừng giao hoán quyền lực, đấu tranh ‘lưỡng bại câu thương’ (hai bên đều bại và bị thương).

***

Giáo sư Chương Thiên Lượng đã giảng một chút về giai đoạn lịch sử từ lúc Hán Vũ Đế băng hà đến những năm thời Đông Hán. Giáo sư Chương cho rằng vấn đề ngoại thích gắn với Đại Hán như hình với bóng, vô luận là Vương Mãng kết thúc thời kỳ Tây Hán hay Hà Tiến dẫn đến kết thúc của Đông Hán đều là những ngoại thích. Sau khi Đông Hán diệt vong, Trung Quốc bắt đầu thời kỳ đại chia cắt 400 năm. Thời đại này có những đặc điểm gì, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích:

(*) Link ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 1: Hợp cửu tất phân.

(**) Ảnh trong bài chụp từ ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 1