phần trước, chúng ta đã tìm hiểu lịch sử tiền tệ đến thời nhà Đường, khi ấy ‘thượng tệ’ (tiền thượng cấp) là lụa. Đến thời Tống, tiền tệ lại phát sinh một số biến hoá, lúc này tiền giấy xuất hiện.

Nhưng trong quá trình trung gian đã xuất hiện vấn đề là lạm phát. Vấn đề này sau đó được Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt giải quyết, sau này hình thành việc: đằng sau mỗi đồng tiền thường có ‘kho bạc’. Rốt cuộc sự thể ra làm sao?

Quay trở lại với video ‘Sử hải dương phàm‘ (史海揚帆: biển sử giương buồm) thuộc kênh ‘Thiên Lượng thời phân’ đăng ngày 25/2/2020, Giáo sư Chương Thiên Lượng tiếp tục giảng về lịch sử tiền tệ từ thời nhà Tống đến thời nhà Minh, từ đó vấn đề trên sẽ dần dần được sáng tỏ.

Tiền tệ thời nhà Tống: tiền giấy

Jiaozi thời nhà Tống, loại tiền giấy sớm nhất thế giới. (Ảnh: Wiki)

Triều Tống là triều đại có kinh tế phát triển nhất trong xã hội truyền thống Trung Quốc, thương mại vô cùng phát triển. Khi ấy thu nhập quốc khố của triều Tống có 70% là đến từ khu vực thương nghiệp. Nếu thương nghiệp phát triển, thì kỹ thuật tạo thuyền của họ cũng vô cùng phát triển. Vì yêu cầu của thương mại nên phải cần một lượng lớn tiền.

Lúc này bạc trắng của Trung Quốc không đủ, triều Tống đã làm gì? Nếu tiền là đồng đúc hoặc sắt đúc thì quá nặng, một quan tiền chứa 1000 đồng đã nặng như vậy, thế thì mấy trăm quan mấy, ngàn quan thì trâu ngựa kéo cũng kiệt sức. Triều Tống đã nghĩ ra một biện pháp, đó là phát hành tiền giấy. Loại tiền giấy này là tiền giấy xuất hiện sớm nhất ở Trung Quốc cũng như trên thế giới, gọi là ‘giao tử’ (交子). 

Nhưng đơn vị phát hành ‘giao tử’ đầu tiên không phải là chính phủ, mà là 16 đại hộ (hộ lớn) ở Tứ Xuyên, tức 16 gia đình có rất nhiều tiền liên kết lại với nhau để phát hành ‘giao tử’. ‘Giao tử’ này chính là lấy ‘tín dụng’ (sự tín nhiệm, tiếng Anh là credit) của 16 đại hộ này để làm đảm bảo. 

Ý tứ là, bạn để 1000 quan tiền ở chỗ họ, họ sẽ ghi cho bạn một tấm giấy nói rằng: bạn để 1000 quan tiền chỗ họ. Sau đó bạn có thể lấy tấm giấy này để đi giao dịch. Đến nơi khác bạn lấy tờ giấy này để rút 1000 quan tiền ở chi nhánh của 16 đại hộ này. Nói cách khác, tờ giấy này giống như một ‘thư tín dụng’, trong tiếng Anh gọi là Letter of Credit (L/C). Trên thực tế, tiền giấy này là lấy tín dụng của 16 đại hộ này làm đảm bảo.

Nhưng ở đây lại xuất hiện một vấn đề chính là: bạn tồn tiền chỗ họ, sau đó bạn lấy tờ giấy ‘giao tử’ đi, vậy tiền bạn để chỗ họ thì họ cũng cần kiếm tiền, cho nên họ có thể lấy tiền của bạn đi cho vay, hoặc kinh doanh v.v. Vậy nhỡ họ thua lỗ hoặc phá sản thì sao? Chính là bạn cầm tờ giấy đổi không được số tiền đã gửi. 

Bởi vì thời đó phát sinh sự việc tố tụng như vậy nên đã báo lên triều đình, khiến triều đình kinh động. Hoàng đế lúc đó là Tống Nhân Tông nói rằng: Được rồi, không để cho dân gian, mà hãy để quan phủ làm việc này. Thế là bắt đầu lấy tín dụng của chính phủ làm đảm bảo cho việc phát hành tiền tệ.

Kỳ thực tiền giấy mà chúng ta thấy hiện nay như đô-la Mỹ, bảng Anh, NDT v.v. đều lấy ‘tín dụng’ của chính phủ ra làm đảm bảo. Đây gọi là ‘tiền tệ tín dụng có chủ quyền’, kiểu như tôi tin tín dụng của nước Mỹ thì tôi dùng đô-la Mỹ, tin tín dụng nước Anh thì sử dụng bảng Anh, tôi không tin tín dụng của Bắc Hàn thì tôi không dùng Won Triều Tiên v.v. Những năm Hoàng đế Tống Nhân Tông thời Bắc Tống đã bắt đầu lấy tín dụng của chính phủ để làm đảm bảo cho loại tiền giấy này. 

Nhưng lúc đó mọi người chưa có khái niệm ‘vàng dự trữ’ (Chuẩn bị kim – 準備金) để đảm bảo cho việc phát hành tiền giấy, sau đó mọi người cũng không biết lưu thông sản phẩm cần bao nhiêu tiền, cho nên đã phát sinh việc in quá nhiều tiền giấy. Sau khi in quá nhiều thì xảy ra lạm phát.

Chính phủ phát hiện chỉ cần in tiền là có thể tiêu, họ xây công trình lớn, đi đánh trận, cần chi phí quân sự, xây cung điện… nếu không có tiền thì in rất nhiều tiền, kết quả dẫn đến lạm phát. Do đó những năm cuối thời Bắc Tống và Nam Tống đều phát sinh lạm phát nghiêm trọng, bao gồm cả việc nước Kim trước khi diệt vong cũng xảy ra lạm phát nghiêm trọng. Một số nhà kinh tế học nhìn nhận sự diệt vong của các vương triều này có quan hệ với lạm phát.

Triều Nguyên: bắt đầu dùng ‘dự trữ vàng/bạc’ để phát hành tiền tệ

Một bản in từ triều đại nhà Nguyên và tờ tiền có dòng chữ Trung Quốc. (Ảnh: Wiki)

Sau khi Nam Tống diệt vong là đến triều Nguyên. Người triều Nguyên rất thông minh, Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đã đưa ra một quy định rằng: đằng sau mỗi tờ tiền giấy phải có một lượng vàng dự trữ, giống kho bạc hoặc kho vàng. 

Khi đó Hốt Tất Liệt quy định: cứ mỗi 2 lượng bạc trắng nhập quốc khố, thì có thể phát hành ‘tờ giấy bạc’ (tiền giấy) 2 quan 5 xu. Mỗi lần nhập quốc khố 2 lượng vàng thì có thể phát hành tờ giấy bạc 20 quan 500 đồng. 

Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt làm Hoàng đế 35 năm, lúc đó ông đã quy định chế độ dự trữ vàng, cho nên những năm đầu của triều Nguyên tuy rằng có in tiền giấy nhưng xác thực là có dự trữ vàng (chứ không như triều Tống), trong dân gian có thể tuỳ ý lấy tiền giấy đến chính phủ để đổi vàng hoặc bạc. Như thế đảm bảo được sự ổn định tiền tệ vào những năm đầu triều Nguyên.

Triều Minh: bạc trắng là tiền tệ chính thức

Tiền xu đồng thời nhà Minh, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. (Ảnh: Wiki)

Đến triều Minh, tiền tệ lại phát sinh thay đổi. Lúc triều Minh bắt đầu chính là thời điểm kết thúc của thời Trung Cổ châu Âu. Năm 1453, Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ trỗi dậy tấn công đánh chiếm được Constantinople (Kinh đô Đế quốc Byzantine/Đông La Mã) tạo thành biến hoá cực lớn trên toàn cõi châu Âu, gồm cả việc bắt đầu của Nghệ thuật Phục hưng, sự xuất hiện của Cơ Đốc giáo Tin lành, sự ra đời của thời đại ‘đại hàng hải’ v.v. đều có quan hệ với sự trỗi dậy của Đế quốc Ottoman. 

Vào những năm Chính Đức của Hoàng đế Minh Vũ Tông triều Minh, do sự hưng khởi của của đại hàng hải, cả châu Âu, châu Mỹ và châu Phi đều làm ăn buôn bán với nhau. Lúc này châu Âu bắt đầu ‘thuộc địa hoá’ (Thực dân – 殖民) một số lượng lớn các nước châu Mỹ, mà châu Mỹ là nơi sản xuất bạc, với rất nhiều mỏ bạc ở nơi đây. 

Có người từng thống kê nói rằng Tây Ban Nha đã khai thác bạc ở Nam Mỹ vào thời điểm đó đạt được sản được 100.000 đến 130.000 tấn. 80% trong đó vận chuyển ra khỏi Nam Mỹ, 50% trong 80% đó lại được vận chuyển đến Trung Quốc. Khi buôn bán giao dịch vào thời đại ‘đại hàng hải’, người ta phát hiện ở Trung Quốc có rất nhiều thứ tốt như: tơ lụa, trà v.v. Do đó khi giao dịch với Trung Quốc, người ta dùng bạc trắng làm tiền tệ để chi trả, dẫn đến một lượng lớn bạc trắng đã vào Trung Quốc.

Sau này đợi đến lúc Vạn Lịch làm Hoàng đế, Đại thần Trương Cư Chính thông qua một số điều khoản cải cách: bắt lão bách tính phải đóng thuế bằng bạc trắng, hay phát lương cho quan viên cũng dùng bạc trắng. Như thế bạc trắng chính thức trở thành tiền tệ lưu thông chủ yếu ở Trung Quốc vào triều Minh.

Khi chúng ta xem điện ảnh, nói như: vào triều Đường người ta đi ăn xong dùng bạc trả tiền, thì đó là giả. Bạc trắng thật sự lưu thông lượng lớn là bắt đầu vào trung – hậu kỳ triều đại nhà Minh.

Giáo sư Chương đã sắp xếp sơ bộ lịch sử phát triển của tiền tệ Trung Quốc dựa vào ‘Nhị thập tứ sử’ (24 bộ chính sử của Trung Quốc).

Ban đầu là vỏ sò biển sâu triều Thương, đến đầu triều Chu là ‘lấy vật đổi vật’, đến thời Xuân Thu là sử dụng Ngọc và Ngựa làm đồ vật để hối lộ người khác hoặc kết giao với các chư hầu với nhau. Thời Chiến Quốc là bắt đầu đúc tiền, đến thời Tần là thống nhất hình dạng tiền với ‘ngoài tròn trong vuông’ (Ngoại viên nội phương – 外圓內方). Đến thời Hán thì thống nhất quyền đúc tiền thuộc về chính phủ. 

Vào đầu triều Đường phát hành Khai Nguyên thông bảo, trên đó không có ghi trọng lượng. Đến triều Tống thì xuất hiện tiền giấy. Đến triều Nguyên thì có thêm ‘dự trữ vàng’ để phát hành tiền giấy. Đến triều Minh thì dùng bạc trắng.

Câu chuyện bên lề: Nga muốn gắn đồng rúp với vàng

Gần đây cũng có một câu chuyện liên quan đến tiền tệ, nhân tiện chia sẻ cùng với quý vị độc giả.

3 điểm trong chính sách tài chính của Tổng thống Nga Putin

Chuyện là khi chiến sự Ukraine nổ ra, Nga bị cấm vận, bị loại ra khỏi hệ thống SWIFT khiến cho đồng rúp giảm mạnh gần 20%. 

Trước tình cảnh như vậy, đầu tháng 4, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đưa ra chính sách tài chính gồm 3 điểm:

Thứ nhất là sử dụng đồng rúp để khả những khoản nợ bằng đô-la Mỹ hoặc euro của Nga.

Thứ hai là quốc gia đối địch với Nga (tức những quốc gia cấm vận nước này như Mỹ hay Liên minh châu Âu) phải dùng đồng rúp để thanh toán dầu hoặc khí đốt từ Nga.

Thứ ba là liên kết đồng rúp với vàng, điều này giống với câu chuyện của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt ở trên.

Về 3 điểm này, trong chương trình ‘Chính luận thiên hạ‘ đăng ngày 11/4, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã có góc nhìn rất thú vị như sau.

2 điểm đầu trong chính sách: không thể kéo dài

Sau khi thực hiện chính sách này, đồng rúp đã hồi phục nhanh, khôi phục lại tỷ giá hối đoái 1 đô-la Mỹ đổi 70 rúp giống như trước chiến sự Ukraine. Có người cho rằng Putin đã ra ‘tuyệt chiêu’ khiến các lệnh trừng phạt vô hiệu, nhưng Giáo sư Chương lại không cho như vậy.

Giáo sư Chương nhìn nhận, điểm thứ nhất là dùng đồng rúp để trả nợ đô-la Mỹ hoặc euro, thế thì châu Âu và Hoa Kỳ chắc chắn không làm điều này, kiểu như tôi cho bạn vay 100 triệu đô, bạn trả tôi 7 tỷ rúp; sẽ không có chuyện đó, bởi vì mượn gì trả nấy.

Về điểm thứ hai là các nước cấm vận Nga phải mua dầu và khí thiên nhiên bằng đồng rúp. Trên thực tế là EU vẫn mua dầu của Nga, họ lấy euro đổi thành rúp thông qua các ngân hành chưa bị trừng phạt của Nga. Điều này giống như mua tỷ giá hối đoái của đồng rúp, giúp đồng rúp hồi phục lại. 

Nhưng Giáo sư Chương đánh giá, quá trình này chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, bởi vì nó không làm tăng lượng đô-la Mỹ hoặc euro của Nga, chỉ là thông qua ngân hàng trung gian chuyển đổi tiền mà thôi.

Hiện tại là mùa xuân hè, thời tiết ấm áp nên nhu cầu năng lượng để sưởi ấm giảm, do đó dòng chảy euro vào Nga sẽ ít. Đây là điểm thứ nhất. 

Thứ hai là cho dù Nga có euro hay đô-la Mỹ cũng không sử dụng được, bởi vì bị Hoa Kỳ và các đồng minh cấm vận không cho thanh toán bằng các đồng tiền trên.

Thứ ba là nếu Nga không bán năng lượng cho EU thì họ sẽ tìm những đối tác khác như OPEC, Canada, Venezuela v.v. hoặc là chuyển sang năng lượng thay thế. Do đó điểm thứ hai trong chính sách của Putin không thể kéo dài.

Sự sụp đổ của Hệ thống Bretton Woods, Nga liệu có theo ‘vết xe đổ’?

Ảnh: Freepik.

Điểm thứ ba trong chính sách của Putin là: liên kết đồng rúp với vàng, 5000 rúp tương đương với 1 gam vàng. 

Là người nghiên cứu lịch sử và các vấn đề xã hội, Giáo sư Chương đánh giá việc này kéo dài trong 1-2 tháng thì không sao, nhưng kéo dài khẳng định là không chống đỡ nổi. 

Giáo sư Chương cho rằng đạo lý rất đơn giản, nếu dùng vàng có thể ổn định được tiền tệ thì sẽ không xảy ra việc Hệ thống Bretton Woods sụp đổ.

Hệ thống Bretton Woods là hệ thống tiền tệ quốc tế thành lập sau Thế chiến 2, tiền tệ phát hành của các quốc gia đều có thể liên kết với vàng. Lúc đó 35 đô-la Mỹ đổi 1 ounce vàng (còn hiện nay 1 ounce vàng giá gần 2000 đô-la Mỹ), nói cách khác 1 đô-la Mỹ bằng 1/35 ounce vàng, đây gọi là ‘hàm lượng vàng’ (Hàm kim lượng – 含金量) của đồng đô-la Mỹ. 

Các quốc gia trao đổi với nhau dựa vàng hàm lượng vàng. Ví như tôi có thể lấy 1 đồng mua 2 lượng, bạn có thể lấy 1 đồng mua được 1/2 lượng, do đó tỷ giá hối đoái là 1/4. 

Câu hỏi đặt ra là tại sao Hệ thống Bretton Woods sụp đổ? Bởi vào những năm 1970, nhu cầu trao đổi hàng hoá quá lớn, mà việc trao đổi hàng hoá cần một số tiền rất lớn.

Giáo sư Chương giải thích, trong khi có quá nhiều nhu cầu về tiền tệ, nhưng vàng chỉ có nhiêu đây, nếu tỷ giá hối đoái cố định là 35 đô-la đổi 1 ounce vàng, bạn không thể in thêm 35 đô-la nếu không có 1 ounce vàng. Điều này dẫn đến việc tiền có quá ít mà hàng có có quá nhiều, đây gọi là ‘giảm phát’. Mà ‘giảm phát’ khiến thương mại đình trệ. 

Về sau mọi người thấy rằng xã hội cần quá nhiều tiền tệ, nếu thi hành chế độ ‘bản vị vàng’ (Kim bản vị – 金本位) thì thương mại không có cách gì lưu thông được. Vậy phải làm sao? Họ không cần dùng vàng để làm tiền tệ dự trữ nữa, họ cần bao nhiêu sẽ in bấy nhiêu. Do đó tiền tệ không còn đối ứng với duy nhất với vàng, mà là đối ứng với tất cả hàng hoá trên thị trường.

Điều này đưa đến một vấn đề rất quan trọng đó là: cần in bao nhiêu tiền, làm sao định giá hàng hoá trên thị trường? Trên thực tế các Ngân hàng Trung ương đang giám sát thông qua các chỉ số như: chỉ số lạm phát… để xem phát hành nhiều hơn hay ít hơn. Khi lạm phát tăng chứng tỏ in nhiều tiền, nếu vật giá bắt đầu giảm chứng tỏ phát hành ít tiền. Hiện nay FED tăng lãi suất tiền gửi (để thu tiền về), thu nhỏ bảng cân đối kế toán v.v. chính là vì có quá nhiều tiền lưu thông trên thị trường.

Giáo sư Chương kể câu chuyện trên là muốn nói rằng, bản vị vàng có liên quan đến sự ‘không phát triển trong trao đổi hàng hoá’. Khi có lượng lớn hàng hoá thì bản vị vàng không cách nào đối ứng được. Hiện nay Tổng thống Nga Vladimir Putin liên kết rúp với vàng, Giáo sư Chương nhìn nhận vàng chống lưng không nổi cho đồng rúp.

Putin tương đương lấy ‘tiền tệ tín dụng có chủ quyền’ đổi thành chế độ ‘bản vị vàng’ trong quá khứ thời Chiến tranh lạnh (thời đại của Brezhnev – Tổng bí thư của Liên Xô từ 1964 đến 1982), lấy chính sách tài chính trong quá khứ để chống lại xã hội hiện đại, điều này liệu có thể thành công không?

Trong ngắn hạn thì có thể được một lượng lớn đô-la hay euro đổi thành rúp, nhưng người khác lại lấy rúp để mua vàng của Nga. Nhưng vàng của Nga ‘càng bán càng ít’, cuối cùng rúp mất đi sự chống đỡ của vàng, dẫn đến hệ thống tiền tệ của Nga tan rã như Hệ thống Bretton Woods. 

Trong Hệ thống Bretton Woods, 35 đô-la Mỹ đổi 1 ounce vàng, nhưng hiện nay 1 ounce đã đổi gần 2000 đô-la Mỹ, cho nên Giáo sư Chương nhìn nhận đồng rúp sẽ đi theo con đường trượt giá đó. Hiện nay 5000 rúp đổi 1 gam vàng, nhưng khi vàng không còn, đồng rúp sẽ thành vô giá trị.

Mạn Vũ