Nhà Đường là ‘thiên triều thượng quốc’, rất nhiều phương diện về văn hoá, triết học, thi ca… đã đạt đến đỉnh cao, khiến ‘vạn quốc lai triều’ học hỏi. Nhưng văn hoá nhà Đường có đóng góp rất lớn của các dân tộc thiểu số, thậm chí Hoàng đế khai quốc của triều Đường là Đường Cao Tổ Lý Uyên có huyết thống của tộc Tiên Ti. Rốt cuộc sự thể ra làm sao?

Ở bài trước Giáo sư Chương Thiên Lượng đã giảng về 2 đặc điểm của văn minh Trung Hoa. Thứ nhất, đây là nền văn minh duy nhất trên thế giới được truyền thừa 5000 năm liên tục. Hai là, văn minh Trung Hoa lưu lại ghi chép lịch sử 5000 năm không gián đoạn. Trong bài này sẽ đề cập đến đặc điểm thứ 3 (trong 5) đặc điểm của văn minh Trung Hoa đó là: nền văn minh này là do các dân tộc cùng nhau sáng tạo.

Chúng ta biết rằng Trung Quốc cũng gọi là Trung Hoa. Ban đầu là dân tộc Hoa Hạ sáng tạo ra nền văn minh này vào thời nhà Hạ. Khi ấy triều Thương với triều Hạ không phải cùng một dân tộc, người nhà Thương là tộc Đông Di. Sau này Thương diệt Hạ để kiến lập nên một vương triều mới, họ đem văn hoá Đông Di đến địa khu Trung Nguyên. 

Sau này nhà Chu diệt nhà Thương, nhà Chu cũng đem văn hoá đến địa khu Trung Nguyên, giống như thành Lạc Dương của Đông Chu cũng là nơi có văn hóa rất phát triển.

Từ thời Tần – Hán, Trung Quốc không ngừng bị các dân tộc thiểu số xâm lược. Loại xâm lược này bắt đầu từ thời kỳ Chiến Quốc, đến cuối thời Chiến Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ dân tộc Hung Nô ở thảo nguyên. Lúc ấy các quốc gia ở phương bắc như nước Yên và nước Triệu đều xây ‘trường thành’ ở biên giới quốc gia của mình.

Khi nói đến Trường Thành, trong ấn tượng của nhiều người là do Tần Thuỷ Hoàng xây dựng, nhưng thực tế không phải như vậy. Là người nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Chương đã xác minh việc: Tần Thuỷ Hoàng chỉ nối những trường thành đó lại.

Thời kỳ ấy còn xuất hiện những danh tướng chống quân Hung Nô như Lý Mục của nước Triệu, nhưng sách lược chủ yếu của nước Yên Triệu đối với tộc thiểu số này là phòng thủ nên xây dựng trường thành, còn uy hiếp của nước Tần thì lớn hơn.

Từ khi triều Hán khai quốc vẫn luôn nhận phải sự uy hiếp của Hung Nô. Sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang đăng cơ, đã phong vương cho 7 người khác họ, trong đó có một người là Hàn vương Tín. Lưu Bang không tín nhiệm Hàn vương Tín, sau này Hàn vương đầu hàng Hung Nô. Lưu Bang đại nộ tự mình dẫn 32 vạn đại quân xuất chinh, kết quả bị Hung Nô vây ở núi Bạch Đăng, lịch sử gọi sự kiện này là ‘Bạch Đăng chi vây’.

Lưu Bang may mắn thoát thân, sau này dưới sự khuyên nhủ của Lưu Kính, Hán Cao Tổ mới thông hôn với Hung Nô, đem công chúa gả cho Hung Nô làm Yên Chi (閼氏, tương đương với ‘vương hậu’ ở Trung Nguyên). Đứa bé sinh ra sau này kỳ thực là hỗn huyết. Lưu Bang lại ban cho Thiền Vu của Hung Nô họ Lưu, do đó con trai mà công chúa sinh hạ biến thành hậu duệ của họ Lưu. Trên thực tế người Hung Nô cũng cho rằng mình có huyết thống của người Hán.

Thời kỳ Hán Vũ Đế vẫn luôn chủ động tấn công Hung Nô để thử giải quyết sự uy hiếp của tộc thiểu số này. Nhưng trên thảo nguyên lại có tình huống như thế này: hễ đánh đuổi một dân tộc du mục thì rất nhanh sau đó một dân tộc du mục khác lại trám vào, không ngừng hình thành uy hiếp đối với Trung Nguyên. Từ đó chúng ta thấy rằng mỗi lần vong quốc chính là bị dân tộc thiểu số phương bắc xâm lược. Giáo sư Chương lần lượt đưa ra các ví dụ trong lịch sử như sau.

Những năm cuối thời Đông Hán là loạn giặc Khăn vàng, sau đó tiến nhập vào thời kỳ Tam quốc, cuối cùng thống nhất ở thời Tây Tấn. Tây Tấn thống nhất không lâu thì xảy ra ‘Bát vương chi loạn’. ‘Bát vương chi loạn’ tạo thành sự suy yếu của Tây Tấn. Khi đó Hung Nô ở phía bắc của Tây Tấn thấy chính quyền người Hán không còn được nữa, họ kiến lập nên một quốc gia gọi là… ‘Hán’ (漢).

Nghe có vẻ rất lạ và buồn cười vì tộc thiểu số kiến lập một quốc gia là Hán (quốc gia và dân tộc lớn ở Trung Nguyên). Có điều là, Lưu Uyên – người kiến lập Hán quốc cho rằng mình là hậu duệ của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Sau này con trai của Lưu Uyên là Lưu Thông đem binh diệt Tây Tấn, lịch sử gọi đây là ‘Vĩnh Gia chi loạn’.

Sau ‘Vĩnh Gia chi loạn’, các ‘sĩ tộc’ (士族: những người đọc sách) của Đông Tấn di chuyển về phía nam sông Trường Giang, lịch sử gọi đây là ‘y quan nam độ’ (衣冠南渡: áo mũ về nam). Phía bắc Trung Quốc bị dân tộc thiểu số chiếm lĩnh, lúc này có 5 tộc gồm: Hung Nô, Tiên Ti, Yết, Đê và Khương đã thành lập mười mấy chính quyền; cho nên văn hoá của địa khu Trung Nguyên là do những dân tộc thiểu số này và người Hán sáng tạo. 

Ở những địa khu mà dân tộc thiểu số này kiểm soát, Phật giáo lần đầu tiên đạt được phát triển trên quy mô lớn, sau đó mở rộng xuống phía nam. Do đó văn hoá Trung Quốc trong thời kỳ này có một lần đại dung hợp, chính là dung hợp văn hoá với các dân tộc khác.

Sau Nguỵ Tấn – Nam Bắc triều là Tuỳ – Đường. Trong tưởng tượng của chúng ta, Tuỳ – Đường là ‘thời đại hoàng kim’ của văn hoá Trung Hoa, nhưng trên thực tế Hoàng đế khai quốc của Tuỳ – Đường đều là hậu duệ của người Tiên Ti (dân tộc thiểu số). Độc Cô Hoàng hậu của Tuỳ Văn Đế Dương Kiên là người Tiên Ti, cha của Độc Cô Hoàng hậu là Độc Cô Tín – đại tướng trụ cột quốc gia của Tây Nguỵ. 

Ngoài người con rể Dương Kiên ra, Độc Cô Tín còn có một người con rể khác tên là Lý Hổ, mà Lý Hổ là cha của Đường Cao Tổ Lý Uyên. Do đó Đường Cao Tổ cũng mang huyết thống Tiên Ti.

Tuỳ – Đường là thời đại hoàng kim của văn hoá Trung Hoa, nhưng trên thực tế là do người Hán, người Tiên Ti và rất nhiều các dân tộc khác cùng nhau sáng tạo.

Triều Đường có rất nhiều rất nhiều dân tộc thiểu số làm quan ở Trung Quốc, chỉ riêng người Đột Quyết đã chiếm 40% văn võ đại thần trong chính phủ trung ương.

Nhân câu chuyện người dân tộc khác làm quan ở triều Đường, tôi cũng kể một câu chuyện mà người Việt chúng ta vô cùng tự hào. Đó là câu chuyện về Khương Công Phụ – người Việt duy nhất làm Tể tướng Trung Hoa dưới triều đại nhà Đường.

Một người Việt làm Tể tướng ‘thiên triều’ Trung Hoa, dưới một người, trên vạn người là một điều không phải ai cũng đạt được ngay cả người Hoa bản xứ.

Phải là một xứ địa linh nhân kiệt mới tạo ra được con người như thế, cho nên thấy rằng người Việt rất có khả năng chứ không phải yếu kém. Nếu ở một nơi có văn hoá kém chắc chắn sẽ không sinh ra được một kiến trúc sư tài ba như Nguyễn An (người Việt) – kiến trúc sư trưởng thiết kế Tử Cấm Thành.

Nếu chúng ta đọc lịch sử sẽ có phát hiện: nước Việt hàng năm thường tiến cống cho “thiên triều” ở phương bắc. Thêm nữa, trong biểu diễn của Đoàn nghệ thuật Thần Vận (Shen Yun, có sứ mệnh phục hưng văn hoá Trung Hoa) có múa của dân tộc H’Mông với những chiếc mũ bạc đặc trưng trên đầu. Do đó nếu nhìn nhận lịch sử một cách khách quan, chúng ta sẽ thấy được nước Việt đóng góp một phần vào văn hoá Trung Hoa.

Quay lại câu chuyện về Tuỳ – Đường, thời ấy còn có rất nhiều sứ thần từ Ba Tư, Nhật Bản, Hàn Quốc đến Đại Đường học tập văn hoá, sau đó ở lại làm quan. Nếu lật giở những sách sử Tuỳ – Đường sẽ phát hiện rất nhiều người có họ nghe rất kỳ lạ, những người đó chính là dân tộc thiểu số. Do đó văn hoá Tuỳ – Đường trên thực tế là do người Hán và dân tộc thiểu số cùng nhau sáng lập.

Vào giữa triều Đường, người Khiết Đan trỗi dậy ở đông bắc Trung Quốc. Để phòng bị Khiết Đan, triều Đường lập ra các ‘phiên trấn’ (những trấn ở ngoài xa kinh thành), để An Lộc Sơn đảm nhận chức Tiết độ sứ ở 3 trấn Phạm Dương, Bình Lư và Hà Đông. 

Ngoài Khiết Đan còn có dân tộc thiểu số khác như Hồi Hột v.v. cũng là nỗi lo lắng ở biên cương Đại Đường. Đến thời Ngũ đại Thập quốc, Khiết Đan càng ngày càng mạnh, Hậu Tấn của Ngũ Đại bị Khiết Đan (Khiết Đan là tộc hiệu, còn quốc hiệu của tộc ấy là Liêu) tiêu diệt. Xuất Đế của Hậu Tấn bị Liêu Thái Tông – Da Luật Đức Quang bắt làm tù binh. Liêu Thái Tông còn ở phủ Khai Phong mấy tháng, sau đó cảm thấy thời tiết quá nóng nên mới trở lại phương bắc.

Những năm đầu triều đại Bắc Tống, Dương Gia tướng cũng chống lại Khiết Đan. Sau này Bắc Tống bị tộc thiểu số phương bắc là Nữ Chân tiêu diệt, dẫn đến văn hoá lại một lần nữa dời về nam. Nam Tống ở phương nam và nước Kim ở phương bắc hình thành cục diện đối lập. Nhưng cả Liêu và Kim là những vương triều có văn hoá Hán sâu sắc, cho nên ở phương bắc lúc này cũng có quá trình dung hợp văn hóa.

Sau đó Mông Cổ tiêu diệt Nam Tống để kiến lập triều Nguyên. Triều Minh cũng từng chịu uy hiếp của người Mông Cổ. Minh Anh Tông từng bị người Ngoã Thích bắt cóc (người Ngoã Thích là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn). Cuối cùng sự diệt vong của Minh triều cũng đến từ người Mãn ở phương bắc.

Khi xem lịch sử Trung Quốc, chúng ta sẽ phát hiện phương bắc luôn uy hiếp sự tồn vong của vương triều Trung Nguyên. Hầu như mỗi lần cải triều hoán đại đều có một dân tộc du mục mới uy hiếp địa khu Trung Nguyên, họ không ngừng xâm lược đất đai của vương triều nơi đây, sau đó họ định cư lại, rồi cùng tộc Hán cải tạo văn hoá Trung Quốc. Cho nên văn hoá Trung Quốc không phải do một dân tộc sáng tạo.

Giáo sư Chương nhận thấy, tuy rằng rất nhiều dân tộc đều ‘Hán hoá’ rất sâu sắc, nhưng trong văn hoá Trung Hoa có rất nhiều sắc thái của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là văn hoá thời Tuỳ – Đường. Từ đó thấy rằng nguồn gốc của văn hoá Trung Hoa rất phức tạp.

Giảng đến đây, Giáo sư Chương đề cập thêm vấn đề: văn hoá Trung Hoa mang đặc điểm của triều đại rất minh hiển, chính là mỗi lần cải triều hoán đại, hình thức văn hoá sẽ phát sinh thay đổi to lớn.

Lấy hình thức văn học làm ví dụ, thời Xuân Thu là Thi Kinh và thơ tứ ngôn; thời Chiến Quốc xuất hiện Sở Từ (đây là một phong cách thơ); hình thức văn học có tính đại biểu nhất thời Hán là Phú; đến Nguỵ Tấn – Nam Bắc triều là Biền Văn; sau đến Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, đến Minh – Thanh là ‘trường thiên tiểu thuyết’ (tiểu thuyết chương hồi). Điều này nghĩa là mỗi lần cải triều hoán đại, hình thức văn học sẽ phát sinh biến hóa.

Triết học Trung Quốc cũng như thế. Thời Tiên Tần là Tử học, tức nghiên cứu học vấn của Chư Tử thời Tiên Tần (Chư Tử các bậc học giả có học thuyết của riêng mình như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Tôn Tử v.v.); Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán) là Kinh học, tức nghiên cứu kinh điển của Nho gia; Nguỵ – Tấn là Huyền học, tức nghiên cứu Lão Tử, Trang Tử và Chu Dịch; Tuỳ – Đường là Phật Học; Tống – Minh là Lý học, gồm Lý học của Chu Hy thời Tống và Tâm học của Vương Dương Minh thời Minh; đến thời Thanh là Phác học. Mỗi lần cải triều hoán đại, tư tưởng triết học cũng phát sinh thay đổi.

Những thứ khác như kiến trúc, trang phục v.v. cũng xuất hiện những thay đổi tương tự, phía sau nhất định có nguyên nhân nhưng Giáo sư Chương tạm thời chỉ giảng đến đây.

***

Tư tưởng cao nhất của Đạo gia đều bao hàm bên trong Thái cực đồ. Thái cực đồ có dạng hình tròn, xoay vòng liên tục, khái niệm thời – không của vùng châu Á cũng có tính ‘xoay vòng’. Người ở vùng châu Á cho rằng thời – không là ‘tròn’, điều này khác với phương Tây. 

Khái niệm thời – không ở phương tây là dạng ‘tuyến’ (tia, véc-tơ). Ví như năm nay là 2020, năm sau là 2021, tiếp đến là 2022 v.v. Còn cách tính thời gian của phương đông là tính theo Thiên can – Địa chi, 60 năm lại quay lại vòng Giáp Tý.

Cả vùng châu Á đều chịu ảnh hưởng của Đạo gia rất sâu sắc, đây lại là đặc điểm thứ tư của văn minh Trung Hoa: văn hóa Đạo gia rất phát triển. Vậy văn hóa Đạo gia có những đặc điểm gì, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích:

Link Trung Hoa văn minh sử tập 7.