Bước chân ra khỏi thành Trường An, đi thẳng về hướng tây, sứ đoàn của Trương Khiên bước vào hành lang Hà Tây, cũng là bước vào một thế giới khác. Ban ngày, khắp nơi đều bị bủa vây bởi hoang mạc Go-bi nắng như thiêu như đốt. Đêm về, gió rét thổi trên cát, sao miên man khắp trời. Đoàn người đi rất lâu cũng không nhìn thấy ốc đảo nào cả…

Phồn vinh và sức sống dần biến mất, nhường chỗ cho nguy hiểm đang đến gần. Một đoàn người mang đậm khí chất nhà Hán xuất hiện một cách đột ngột trên mảnh đất hoang vu ở Tây Bắc như vậy, họ nhanh chóng bị những người lính Hung Nô thông minh nhẹn bén phát hiện. Sau đó đoàn người của Trương Khiên bị bắt giữ, tất cả mọi người đều bị đưa tới triều đình Hung Nô.

Quân Thần thiền vu lúc bấy giờ tra ra được ý đồ đi sứ Nguyệt Thị của Trương Khiên, ông hỏi vặn lại: “Nguyệt Thị ở phương bắc của chúng tôi, Hán sứ làm sao đến đó được? giống như chúng tôi muốn đi sứ Nam Việt, Hán triều của mấy người sẽ đồng ý hay sao?” Trong khoảnh khắc bị bắt, Trương Khiên đã chuẩn bị tinh thần “chưa giành được thắng lợi cuối cùng thì đã chết rồi”, nào ngờ Quân Thần thiền vu tha mạng cho họ và giam lỏng họ tại mảnh đất này.

Quân Thần thiền vu là người cực kỳ nhẫn nại, ông có ý muốn chiêu hàng Trương Khiên, ông gả một cô gái Hung Nô cho Trương Khiên làm vợ. Đoàn người của Trương Khiên sống trên mảnh đất của Hung Nô, chớp mắt đã mười năm. Nhiều lúc, thời gian là một con dao cùn vô hình, bào mòn thanh xuân, cuộc sống và chí hướng của một người. Sứ giả của thiên tử trở thành tù binh, Trương Khiên không thể nào tiếp tục mơ ước đi khám phá phương Tây. Vì để thể hiện rõ tâm ý hướng về Hán triều và lòng quyết tâm hoàn thành sứ mệnh, bất cứ lúc nào Trương Khiên cũng cầm lấy Hán tiết một cách trịnh trọng. Đây là lòng trung thành của một thần tử nhà Hán, cũng là tín niệm và hy vọng giúp Trương Khiên sống tiếp.

Vượt qua mọi nguy hiểm trắc trở, cuối cùng đã đến Nguyệt Thị

Trong sử sách có một lời bình dành cho Trương Khiên, đó là: “Khiên là người mạnh mẽ, khoan dung hơn người, được Man di yêu quý”. Trương Khiên là người kiên định và nghị lực, khoan dung độ lượng và xem trọng lời hứa, tính cách chân thành chất phác này của ông cực kỳ hợp với tính cách đơn giản và thẳng thắn của người Hung Nô. Mặc dù ông là tù binh nhưng lại được người Hung Nô yêu quý, sự giám sát của binh lính Hung Nô đối với ông cũng dần dần được nới lỏng.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là id13104838-zhangqian-daxia-450x495-1.jpeg
“Trương Khiên đi sứ Tây Vực” trong “hình ảnh sự tích Phật giáo” trên vách tường phía bắc của hang Mạc Cao số 323 tại Đôn Hoàng, miêu tả Trương Khiên băng qua các ngọn núi, đến được Đại Hạ quốc (ảnh: Phạm vi công cộng).

Trương Khiên cũng thông qua sự tiếp xúc với người Hung Nô mà học được ngôn ngữ của họ, hiểu được các phương diện kinh tế, quân sự chính sự, tập tục đời sống của Hung Nô. Vì vậy, trong 10 năm Trương Kiên ở chỗ Hung Nô cũng không phải là trôi qua lãng phí. Vào một ngày nọ của năm Nguyên Quang thứ 6 (năm 129 TCN), nhân lúc binh lính Hung Nô canh giữ lỏng lẻo, ông dẫn theo Đường Ấp Phụ cùng với vài tùy tùng nhanh chóng rời khỏi, ông thậm chí còn không kịp từ biệt người vợ Hung Nô của mình. Họ không quay trở về Trường An mà tiếp tục lên đường đi về hướng tây.

Tuy nhiên, sự thử thách mà ông trời dành cho họ vẫn chưa kết thúc. Trong thời gian 10 năm sứ đoàn của Trương Khiên bị bắt giữ, tình thế của Tây Vực đã có sự biến đổi rất lớn. Họ điều tra được, phần lớn tộc người Nguyệt Thị không ngừng di chuyển chỗ ở dưới sự tấn công của nước  Ô Tôn, sau đó họ đi vào lưu vực Quy Thủy, chinh phục nước Đại Hạ, rồi định cư tại mảnh đất mới này, còn gọi là “Đại Nguyệt Thị”; một bộ phận người Nguyệt Thị sống chung với người Khương tại vùng Thanh Hải, Cam Túc, gọi là “Tiểu Nguyệt Thị”.

Trương Khiên dẫn đoàn người đi về hướng Tây Nam, đi tìm kiếm chỗ ở của Đại Nguyệt Thị. Bởi vì vội vàng chạy trốn nên không chuẩn bị đầy đủ những vật dụng cần thiết, cộng thêm trên đường đi dân cư thưa thớt, nguồn nước khan hiếm, họ ăn gió nằm sương trong suốt chuyến đi, nếm trải mọi gian nan. Nhưng dựa vào ý chí phi thường của Trương Khiên cùng với kỹ năng sinh tồn bằng việc săn bắn và tìm kiếm nguồn nước của Đường Ấp Phụ, cuối cùng họ đã sống sót giữa sa mạc hoang vu rộng lớn như một kỳ tích. Họ đi qua các vùng đất Yên Kỳ, Khố Xa, Sơ Lặc… vượt qua Thông Lĩnh (dãy núi Pamir), đi qua một tuyến đường quanh co uốn lượn. Sau chuyến đi gian nan vất vả trong suốt mấy chục ngày, cuối cùng họ cũng đi đến lãnh thổ Đại Uyên.

Người Đại Uyên từ lâu đã nghe nói đến nhà Hán ở phương Đông vô cùng giàu có, có ý muốn triều kiến qua lại, nhưng vì người Hung Nô đứng ở giữa cản trở nên không cách nào thực hiện được. Sự xuất hiện của Hán sứ Trương Khiên khiến quốc vương Đại Uyên vô cùng vui mừng. Trương Khiên còn nói với ông ấy rằng: “Xin đại vương phái người làm người dẫn đường, đưa tôi đến Nguyệt Thị. Tương lai tôi quay về Hán triều, triều đình sẽ tặng cho ngài vô số lễ vật”. Quốc vương Đại Uyên vui vẻ đồng ý, phái người đưa sứ đoàn của Trương Khiên đến Khương Cư, người Khương Cư tiếp tục trợ giúp, họ đưa đoàn người của Trương Khiên bình an đến được nước Đại Nguyệt Thị.

Sự chờ đợi và mong mỏi của 10 năm đã trở thành buổi gặp mặt với quốc vương của Nguyệt Thị trong khoảnh khắc này. Trương Khiên ở trước mặt của vua Nguyệt Thị, dùng ngôn từ khiêm tốn để thuật lại sách lược kìm kẹp tấn công Hung Nô của Hán Vũ Đế. Nhưng điều khiến Trương Khiên không thể ngờ là nước Nguyệt Thị mà ông dùng hết toàn bộ sức lực, đánh cược tính mạng của mình mới có thể gặp được đã thay đổi bộ dạng của lúc đầu. Vùng đất mà họ vừa mới chiếm được, đất đai phì nhiêu, ít có ngoại tộc xâm chiếm, người Nguyệt Thị sống cuộc sống tự do thoải mái, lòng báo thù Hung Nô cũng đã phai nhạt từ lâu rồi.

Nguyệt Thị vương vô cùng bội phục sự nhẫn nhục mười năm và trải nghiệm cửu tử nhất sinh của Trương Khiên, nhưng lại né tránh không nhắc đến chuyện xuất binh. Trương Khiên ở bên cạnh Nguyệt Thị Vương thuyết phục hơn một năm, cuối cùng vẫn không cách nào thúc đẩy chuyện liên minh giữa nhà Hán và Nguyệt Thị. Vì vậy vào năm Nguyên Sóc thứ nhất (năm 128 TCN), Trương Khiên khởi hành quay trở về nhà Hán. Vì để tránh sự đuổi bắt của người Hung Nô, ông thay đổi tuyến đường, đi qua khu vực Thanh Hải của người Khương rồi mới đi tiếp về hướng đông. Bất ngờ lại diễn ra thêm lần nữa, bởi vì người Khương đã sớm quy thuận Hung Nô, đoàn người của Trương Khiên lại một lần nữa bị quân lính Hung Nô bắt giữ, đưa tới triều đình Hung Nô.

Thiền vu của Hung Nô tha mạng cho Trương Khiên lần thứ hai. Có lẽ là ông trời thương xót lòng quyết tâm kiên trì với sứ mệnh của Trương Khiên, thời gian ông bị giam lỏng lần này không quá dài. Người Hung Nô tranh đoạt vương vị gây ra những rối loạn nội bộ, giúp Trương Khiên một lần nữa nắm bắt cơ hội tốt để chạy trốn. Năm Nguyên Sóc thứ 3 (năm 126 TCN), Trương Khiên dẫn theo Đường Ấp Phụ cùng với người vợ Hung Nô của mình xuất phát quay trở về Trường An.

Có lẽ trong giờ phút đó không người nào có thể trải nghiệm sâu sắc cảm giác “quy tâm tự tiễn” như Trương Khiên. (“Quy tâm tự tiễn” là một câu thành ngữ diễn tả tâm trạng nóng vội của một người nào đó khi muốn nhanh chóng quay về nhà, sự nóng vội này nhanh như một mũi tên được bắn ra vậy). Đi sứ Tây Vực từ năm Kiến Nguyên thứ 2 cho đến năm Nguyên Sóc thứ 3 quay trở về nhà Hán, chuyến thám hiểm Tây Vực của Trương Khiên ròng rã 13 năm trời. Sau 13 năm, một Lang quan trẻ tuổi với diện mạo khôi ngô tuấn tú của năm xưa đã trở thành một người đàn ông trung niên nếm trải mọi sóng gió cuộc đời. Sứ đoàn gồm 100 người trang nghiêm chỉnh tề của năm xưa, nay chỉ còn có Trương Khiên và Đường Ấp Phụ sống sót quay về. Trong lúc ngựa phi liên tục không ngừng nghỉ, Trương Khiên cũng không dừng lại suy nghĩ của mình. Cho dù không hoàn thành nhiệm vụ quân sự mà Hán Vũ Đế đã giao phó, nhưng Trương Khiên cho rằng những hiểu biết mà học được ở Tây Vực trong những năm qua chắc chắn sẽ có ý nghĩa quan trọng và sâu xa hơn trong việc đối kháng Hung Nô.

Người đầu tiên thám hiểm Tây Vực và hoàn thành sứ mệnh

Trải qua 13 năm rong ruổi dặm trường. Trương Khiên dẫn theo vợ và Đường Ấp Phụ xuất hiện trên điện đường của nhà Hán. Hán Vũ Đế và các đại thần đều vô cùng vui mừng. Rốt cuộc là tinh thần kiên cường bất khuất như thế nào đã giúp Trương Khiên vượt qua được thời gian hơn 10 năm làm tù binh? Lòng trung nghĩa to lớn cỡ nào mới có thể cổ vũ ông ra thoát khỏi bước đường cùng mà thần chết có thể đến bất cứ lúc nào?

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là b1561de2a596e6db44c3c41072882f80-450x613-1.jpg
Tranh vẽ Hán Vũ Đế (ảnh: Phạm vi công cộng).

Trương Khiên một lần nữa được đặt chân lên mảnh đất thành Trường An cảnh thực mà tựa trong mơ, một lần nữa được nhìn thấy thiên tử nhà Hán anh minh thần vũ, trong lòng ông lúc này là trăm ngàn cảm giác lẫn lộn. Nhưng ông lại càng nhận thức rõ ràng hơn, sự quay về của ông không chỉ là sự tái hiện lại tinh thần trung nghĩa của người Hán, mà những thông tin ông thu thập được trong những năm qua sẽ trở thành một cánh cửa mở rộng tầm nhìn của nhà Hán hướng về phương Tây.

Sau đó, Trương Khiên đem những trải nghiệm của mình ở Đại Uyên, Đại Nguyệt Thị, Đại Hạ, Khương Cư và Hung Nô trong mười mấy năm qua để tạo ra một tấm bản đồ Tây Vực vô cùng sinh động cho Hán Vũ Đế. Ông nói, nước Đại Uyên ở phía Tây Nam của bộ tộc Hung Nô, nằm ở khu vực cách nhà Hán khoảng một vạn dặm; đi về hướng bắc là Khương Cư, đi về hướng tây là Đại Nguyệt Thị, phía Tây Nam là Đại Hạ, phía Đông Bắc là nước Ô Tôn, đi về hướng đông là Hu Thâm, Vu Điền; Từ Vu Điền đi tiếp về hướng đông chính là Diêm Trạch cách Trường An năm ngàn dặm, xung quanh có các thành ấp Lâu Lan, Cô Sư, v.v.. đi tiếp về hướng đông chính là cánh phải của Hung Nô, phía nam liên kết với người Khương, ngăn cản sự qua lại giữa nhà Hán và các nước Tây Vực.

Trương Khiên không chỉ có thể nói ra vị trí của các bộ lạc Tây Vực lớn nhỏ, mà còn nắm rõ thông tin về nhân khẩu, thành thị, sản vật, phong tục, quân sự, quan hệ ngoại giao của họ trong lòng bàn tay. Ông còn nhấn mạnh rằng mình đã nhìn thấy gậy tre và vải vóc tại thuộc địa của Đại Hạ, ám chỉ cho việc giao lưu thương mại với Man di trong tương lai. Những thông tin chân thực và toàn diện này được Tư Mã Thiên ghi chép một cách trịnh trọng vào trong “Đại Uyên liệt truyện”, đây là lần đầu tiên nhà Hán và toàn thế giới có được sự hiểu biết toàn diện đối với Tây Vực, và cũng là tư liệu văn hiến quý báu nhất trong nghiên cứu lịch sử các nước Tây Vực. Vì vậy cho đến ngày nay, Trương Khiên được xem là “người Trung Quốc đầu tiên mở mang tầm mắt nhìn ra thế giới”.

“Đại Uyên liệt truyện” giống như một bài văn xuôi du ký hoàn toàn mới mẻ có thể khiến người ta say sưa lắng nghe. Từ trong lời kể chi tiết, chân thực và hấp dẫn của Trương Khiên, Hán Vũ Đế dường như có thể thông qua hành lang Hà Tây nhìn thấy được vùng đất Tây Vực mang đậm sắc thái ngoại bang. Một phác thảo về thời kỳ hưng thịnh của nhà Hán càng trở nên rõ ràng hơn trong lòng của Hán Vũ Hán.

Đối với các nước Tây Vực, Hán Vũ Đế cho rằng có thể áp dụng phương pháp ban tặng lễ vật, ban tặng ân huệ, cộng thêm sức mạnh của đạo nghĩa để thu hút họ đến triều bái thiên tử, quy thuận nhà Hán. Như vậy, đế quốc Đại Hán sẽ mở rộng biên cương ra vạn dặm, thông qua 9 loại phiên dịch, thu hút những người ngoại tộc có nhiều phong tục khác nhau đi vào Trường An triều bái thiên tử, để uy nghi và đức hạnh của thiên tử được lan rộng khắp tứ hải.

Lúc bấy giờ kế hoạch quân sự kìm kẹp để vây đánh Hung Nô đã không còn quan trọng nữa. Trương Khiên am hiểu tình hình của Tây Vực bao gồm cả Hung Nô mới thực sự là mang lại lợi ích to lớn. Vì để làm nổi bật công lao đi sứ của Trương Khiên, Hán Vũ Đế đặc biệt phong cho ông làm Thái trung đại phu, và ban cho vị phó sứ Đường Ấp Phụ luôn một lòng trung thành với nhà Hán danh hiệu “Phụng sứ quân”. Sau này Trương Khiên lại được phong lên làm “Bác Vọng hầu”, tên hiệu này mang ý nghĩa hiểu biết sâu rộng và có tầm nhìn xa.

Chuyến đi Tây Vực đầu tiên của Trương Khiên giống như một chiếc chìa khóa, mở ra cho thiên tử nhà Hán một con đường kinh doanh thịnh vượng với các nước phương Tây. Chuyến đi sứ xuất phát từ mục đích quân sự đã định sẵn là sẽ mang lại sự ảnh hưởng kinh tế và văn hóa vô cùng to lớn. Bất luận là sự phồn vinh của con đường tơ lụa, hay là khí thế lớn mạnh khi các nước đến triều bái thì đều phải tri ân chuyến đi gian nan trắc trở của sứ đoàn Trương Khiên. Mà trong thời gian về sau, Trương Khiên sẽ tiếp tục sứ mệnh ngoại giao thương thuyết, trở thành nhân vật huyền thoại quan trọng nhất qua lại giữa Đại Hán và Tây Vực.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch