Lãnh thổ Louisiana, được mua với giá chưa đến 5 xu một mẫu Anh, là một trong những đóng góp lớn nhất của Thomas Jefferson cho đất nước của ông. Louisiana đã nhân đôi quy mô của Hoa Kỳ theo đúng nghĩa đen chỉ sau một đêm, mà không xảy ra chiến tranh hay tổn thất sinh mạng người Mỹ nào…

Một trong những thành tựu lớn nhất của Thomas Jefferson, tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ, là thương vụ mua Louisiana, trong đó Hoa Kỳ mua lại 828.800 dặm vuông lãnh thổ La Louisiane của Pháp vào năm 1803. Bao gồm toàn bộ hoặc một phần của 14 tiểu bang hiện tại của Hoa Kỳ, vùng đất trải dài toàn bộ Arkansas, Missouri ngày nay, Iowa, Oklahoma, Kansas và Nebraska; các phần của Minnesota ở phía tây sông Mississippi; phần lớn Bắc Dakota; gần như toàn bộ Nam Dakota; đông bắc New Mexico; các phần của Montana, Wyoming và Colorado ở phía đông của Đường phân chia lục địa; và Louisiana ở phía tây sông Mississippi. Ngày nay, khu đất được bao gồm trong giao dịch đó chiếm khoảng 23% lãnh thổ của Hoa Kỳ.

Quyền sở hữu của Pháp và Tây Ban Nha

Kết thúc Chiến tranh Pháp và Ấn Độ năm 1763, Pháp mất toàn bộ tài sản ở Bắc Mỹ, làm vụt tắt hy vọng về một đế chế thuộc địa. Đế chế này tập trung vào hòn đảo Santo Domingo thuộc vùng biển Ca-ri-bê và vụ thu lợi nhuận béo bở của nó từ đường. (“Santo Domingo” là tên cũ của đảo Hispaniola, nơi có các quốc gia hiện đại là Cộng hòa Dominica và Haiti)

Lãnh thổ của Pháp có tên là La Louisiane, kéo dài từ New Orleans lên sông Missouri đến Montana ngày nay, được dự định làm vựa lúa cho đế chế này và sản xuất bột mì, muối, gỗ xẻ và thực phẩm cho các đảo trồng mía. Tuy nhiên, theo các điều khoản của Hiệp ước Fontainebleau năm 1763, Louisiana ở phía tây sông Mississippi đã được nhượng lại cho Tây Ban Nha , trong khi người Anh chiến thắng nhận được phần phía đông của thuộc địa khổng lồ.

Khi Hoa Kỳ giành được độc lập từ Anh vào năm 1783, một trong những mối quan tâm chính của họ là có một cường quốc châu Âu ở ranh giới phía tây của mình, cũng như nhu cầu tiếp cận không hạn chế đến sông Mississippi. Khi những người định cư Mỹ tiến về phía tây, họ nhận thấy rằng Dãy núi Appalachian tạo ra rào cản cho việc vận chuyển hàng hóa về phía đông. Cách dễ nhất để vận chuyển sản phẩm là đóng một chiếc thuyền phẳng và thả trôi theo các sông Ohio và Mississippi đến cảng New Orleans, từ đó hàng hóa có thể được đưa lên các tàu vượt biển. Vấn đề với tuyến đường này là người Tây Ban Nha sở hữu cả hai bờ sông Mississippi bên dưới Natchez.

Cờ phướn ở Place d’Armes của New Orleans, đánh dấu sự chuyển giao chủ quyền của Louisiana thuộc Pháp cho Hoa Kỳ, ngày 20 tháng 12 năm 1803, như được miêu tả bởi Thure de Thulstrup. 

Năm 1795, Hoa Kỳ đàm phán Hiệp ước Pinckney với Tây Ban Nha, trong đó quy định quyền đi lại trên sông và quyền ký gửi hàng hóa của Hoa Kỳ tại cảng New Orleans. Hiệp ước sẽ có hiệu lực trong ba năm, với khả năng được gia hạn. Đến năm 1802, các nông dân, doanh nhân, thợ đánh bẫy và thợ rừng của Hoa Kỳ đã mang các sản phẩm trị giá hơn 1 triệu đô la qua New Orleans mỗi năm. Các quan chức Tây Ban Nha đã trở nên lo ngại khi khu định cư của Hoa Kỳ tiến gần hơn đến lãnh thổ của họ. Tây Ban Nha háo hức muốn thoái vốn khỏi Louisiana, vốn là nguồn tài chính cạn kiệt. Vào ngày 1 tháng 10 năm 1800, Napoléon Bonaparte, Lãnh sự thứ nhất của Pháp, ký kết Hiệp ước San Ildefonso với Tây Ban Nha, trao trả Louisiana về quyền sở hữu của Pháp để đổi lấy một vương quốc của Tây Ban Nha ở Ý.

Tham vọng của Napoléon ở Louisiana liên quan đến việc thành lập một đế chế mới tập trung vào thương mại đường Caribe. Theo các điều khoản của Hiệp ước Amiens năm 1800, Vương quốc Anh trả lại quyền sở hữu các đảo Martinique và Guadaloupe cho người Pháp. Napoléon coi Louisiana như một món hàng trao đổi cho những hòn đảo trồng mía này, và như một vùng đệm cho các khu định cư của Hoa Kỳ. Vào tháng 10 năm 1801, ông cử một lực lượng quân sự lớn để chiếm lại hòn đảo quan trọng Santo Domingo, bị mất trong một cuộc nổi dậy của nô lệ vào những năm 1790.

Kế hoạch của Jefferson

Thomas Jefferson, tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, đã bị xáo trộn bởi kế hoạch tái lập các thuộc địa của Pháp ở Mỹ của Napoléon. Với việc chiếm hữu New Orleans, Napoléon có thể đóng cửa sông Mississippi đối với thương mại Hoa Kỳ bất cứ lúc nào.

Jefferson đã ủy quyền cho Robert R. Livingston, Bộ trưởng Hoa Kỳ đến Pháp, đàm phán để mua Thành phố New Orleans với giá lên tới 2 triệu đô la, một phần bờ đông của sông Mississippi, và tự do hàng hải của sông cho thương mại Hoa Kỳ.

Tổng thống Thomas Jefferson, tranh của Henry R. Robinson.

Một sự chuyển giao chính thức Louisiana cho quyền sở hữu của Pháp vẫn chưa được thực hiện, và thỏa thuận của Napoléon với người Tây Ban Nha không phải là một bí mật, đặc biệt đối với vùng biên giới. Tuy nhiên, vào ngày 18 tháng 10 năm 1802, một điều kỳ lạ đã xảy ra. Juan Ventura Moralis, quyền Tổng thống Louisiana, đã công khai ý định của Tây Ban Nha là thu hồi quyền ký gửi tại New Orleans đối với tất cả hàng hóa từ Hoa Kỳ.

Việc đóng cửa cảng quan trọng này đối với Hoa Kỳ đã gây ra sự bất mãn và thiệt hại, đồng thời hoạt động thương mại ở phía tây hầu như bị phong tỏa. Các nhà sử học tin rằng việc thu hồi quyền ký quỹ được thúc đẩy bởi sự lạm dụng của người Mỹ, đặc biệt là buôn lậu, chứ không phải do âm mưu của Pháp, như người ta tin vào thời điểm đó.

Tổng thống Jefferson bỏ qua áp lực dư luận về cuộc chiến với Pháp, và ông đã bổ nhiệm James Monroe đặc phái viên đến gặp Napoléon nhằm nỗ lực giành được New Orleans cho Hoa Kỳ. Jefferson đã tăng mức chi ngân quỹ được phép lên 10 triệu đô la.

Trong khi đó, các kế hoạch của Napoléon ở Ca-ri-bê đã bị thất bại trước Toussaint L’Ouverture , đội quân cựu nô lệ của ông, và bệnh sốt vàng da. Trong 10 tháng giao tranh ác liệt trên Santo Domingo, Pháp tổn thất hơn 40.000 binh sĩ. Nếu không có Santo Domingo, tham vọng thuộc địa của Napoléon đối với một đế chế Pháp đã tan thành mây khói ở Bắc Mỹ. Vựa lúa Louisiana sẽ trở nên vô dụng nếu không có những người dân trên đảo trồng mía. Napoléon cũng xem xét động thái của Hoa Kỳ, nơi tình cảm ngày càng gia tăng chống lại Pháp và mối quan hệ chặt chẽ hơn với Anh đang được xem xét. Việc Tây Ban Nha từ chối bán Florida như giọt nước tràn ly, và Napoléon một lần nữa chuyển sự chú ý của mình sang châu Âu; việc bán Louisiana không mấy giá trị, sẽ cung cấp nguồn vốn cần thiết để tiến hành chiến tranh ở đó. Napoléon đã chỉ đạo các bộ trưởng của mình, Talleyrand và Barbé-Marbois, dâng toàn bộ lãnh thổ Louisiana cho Hoa Kỳ một cách nhanh chóng.

Cơ hội bất ngờ

Vào ngày 11 tháng 4 năm 1803, Talleyrand hỏi Robert Livingston rằng Hoa Kỳ đã sẵn sàng trả bao nhiêu cho Louisiana. Livingston cảm thấy bối rối, vì các chỉ dẫn của ông chỉ bao gồm việc mua New Orleans và khu vực ngay lập tức, chứ không phải toàn bộ lãnh thổ Louisiana. James Monroe đã đồng ý với Livingston rằng Napoléon có thể rút lại lời đề nghị này bất cứ lúc nào.

Meriwether Lewis, thủ lĩnh của Cuộc thám hiểm Lewis và Clark.

Để đợi sự chấp thuận của Tổng thống Jefferson có thể mất hàng tháng, vì vậy Livingston và Monroe quyết định mở các cuộc đàm phán ngay lập tức. Đến ngày 30 tháng 4, họ chốt một thỏa thuận mua toàn bộ lãnh thổ Louisiana rộng 828.000 dặm vuông với giá 60 triệu Franc (tương đương 15 triệu USD). Một phần của số tiền này được sử dụng để xóa các khoản nợ của Pháp đối với Hoa Kỳ. Khoản thanh toán được thực hiện bằng trái phiếu Hoa Kỳ, mà Napoléon đã bán với giá chiết khấu. Kết quả là Napoléon chỉ nhận được 8.831.250 đô la tiền mặt cho Louisiana.

Khi tin tức về vụ mua bán này đến Hoa Kỳ, Tổng thống Jefferson đã rất ngạc nhiên. Ông đã ủy quyền chi 10 triệu đô la cho một thành phố cảng, và thay vào đó, ông nhận được các hiệp ước cam kết chính phủ chi 15 triệu đô la cho một gói đất sẽ tăng gấp đôi diện tích đất nước.

Các đối thủ chính trị của Jefferson trong Đảng Liên bang cho rằng việc mua lại Louisiana là một sa mạc vô giá trị, và Hiến pháp không quy định việc mua lại đất mới hoặc đàm phán các hiệp ước mà không có sự đồng ý của Thượng viện. Điều thực sự khiến phe đối lập lo lắng là các bang mới chắc chắn sẽ tách khỏi lãnh thổ Louisiana, tăng cường lợi ích của phương Tây và phương Nam trong Quốc hội và giảm hơn nữa ảnh hưởng của những người Liên bang New England trong các vấn đề quốc gia. Tổng thống Jefferson là một người ủng hộ nhiệt tình cho việc mở rộng về phía tây và luôn kiên định ủng hộ hiệp ước. Bất chấp sự phản đối của Đảng Liên bang, Thượng viện Hoa Kỳ đã phê chuẩn hiệp ước Louisiana vào ngày 20 tháng 10 năm 1803.

Tạm biệt Pháp và Tây Ban Nha, “tôi” đến với Hoa Kỳ

Một buổi lễ chuyển giao được tổ chức tại New Orleans vào ngày 29 tháng 11 năm 1803. Vì lãnh thổ Louisiana chưa bao giờ chính thức được chuyển giao cho người Pháp, người Tây Ban Nha đã hạ lá cờ của họ, và người Pháp đã giơ cao lá cờ của họ. Ngày hôm sau, Tướng James Wilkinson chấp nhận quyền sở hữu New Orleans cho Hoa Kỳ. Một buổi lễ tương tự đã được tổ chức tại St. Louis vào ngày 9 tháng 3 năm 1804, khi một lá cờ ba màu của Pháp được kéo lên gần sông, thay thế cho quốc kỳ Tây Ban Nha. Ngày hôm sau, Đại úy Amos Stoddard của Pháo binh đầu tiên của Hoa Kỳ hành quân vào thị trấn và thượng cờ Hoa Kỳ có hình các ngôi sao và đường kẻ sọc lên cột cờ của pháo đài. Lãnh thổ Louisiana chính thức được chuyển giao cho chính phủ Hoa Kỳ, do Meriwether Lewis đại diện.

Hiệp ước giữa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Cộng hòa Pháp nhượng Louisiana cho Hoa Kỳ, ngày 30 tháng 4 năm 1803. 

Lãnh thổ Louisiana, được mua với giá chưa đến 5 xu một mẫu Anh, là một trong những đóng góp lớn nhất của Thomas Jefferson cho đất nước của ông. Louisiana đã nhân đôi quy mô của Hoa Kỳ theo đúng nghĩa đen chỉ sau một đêm, mà không xảy ra chiến tranh hay tổn thất sinh mạng người Mỹ nào, và tạo tiền lệ cho việc mua bán lãnh thổ. Nó đã mở đường cho sự mở rộng cuối cùng của Hoa Kỳ trên khắp lục địa đến Thái Bình Dương, và vươn lên vị thế cường quốc trên thế giới. Các vấn đề quốc tế ở Ca-ri-bê, và việc Napoléon khao khát tiền mặt để hỗ trợ các nỗ lực chiến tranh của mình, là nền tảng cho một thành tựu vẻ vang trong nhiệm kỳ tổng thống của Thomas Jefferson: những vùng đất mới và cơ hội mới cho quốc gia. 

Theo The Epoch Times
Văn Sơn biên dịch