Tư tưởng Pháp gia có 3 bộ phận là ‘Pháp’, ‘Thuật’ và ‘Thế’. Qua câu chuyện ‘Luật An ninh Quốc gia Hồng Kông’ ở phần trước, chúng ta đã biết khái niệm ‘Pháp’ trong Pháp gia là ‘ác pháp’. Vậy ‘Thuật’ và ‘Thế’ là gì?

‘Thuật’ của Pháp gia là ‘âm mưu’

‘Thuật’ của Pháp gia rất xấu xa. Trong phần trước Giáo sư Chương đã nói ‘Pháp’ của Pháp gia là ‘ác pháp’, còn ‘Thuật’ ở đây chính là… âm mưu. Hàn Phi Tử nói: “Pháp là biên soạn sách vở, đặt trong quan phủ mà công bố cho người thiên hạ”, ý tứ là pháp luật là viết trong sách, đặt trong thư viện lưu trữ của chính phủ, và cần tuyên bố cho thiên hạ biết. 

Hàn Phi Tử. (Ảnh: Wiki)

Tiếp đó Hàn Phi Tử nói: “Thuật là tàng chứa trong lòng, kết hợp với đầu mối để ngầm chế ngự bầy tôi, cho nên ‘Pháp’ không gì bằng rõ ràng, còn ‘Thuật’ thì không muốn cho người thấy”. Giáo sư Chương giải thích cho dễ hiểu rằng, pháp luật quy định một hai ba bốn, mọi người cần thấy cho rõ; nhưng ‘Thuật’ nhất định phải tàng chứa trong lòng, không thể công khai nói ra. Do đó ‘Pháp minh, Thuật ám’ (Pháp sáng, Thuật tối), ‘Pháp hiển, Thuật tàng’ (Pháp rõ ràng, Thuật tàng chứa), vì vậy ‘Thuật’ của Pháp gia chính là ‘âm mưu’ (mưu tính trong tối).

Trước đây Giáo sư Chương Thiên Lượng đã từng giảng rằng, Pháp gia không liên quan đến học vấn pháp luật, mà liên quan đến học vấn âm mưu, đây chính là nguyên nhân. 

Liên quan đến ‘Thuật’, Giáo sư Chương kể cho mọi người một ví dụ như sau.

Trong ‘Chiến Quốc sách – Sở sách’ giảng một câu chuyện như thế này. Nước Nguỵ dâng cho Sở vương một mỹ nữ vô cùng xinh đẹp. Sở vương vốn dĩ yêu thích một mỹ nhân tên là Trịnh Tụ, hiện nay lại chuyển tình cảm sang mỹ nhân khác. Theo cảm xúc thông thường thì Trịnh Tụ phải rất tật đố (đố kỵ), nhưng biểu hiện của Trịnh Tụ lại hoàn toàn tương phản, đối xử với mỹ nữ mới vô cùng tốt. 

Y phục cùng đồ trang sức, mỹ nhân mới thích thứ nào Trịnh Tụ lựa cho thứ đó; cung thất cùng giường nệm, mỹ nhân mới thích thế nào thì Trịnh Tụ trang bị cho thế ấy. Điều này làm Sở vương rất cảm động, cho rằng ‘Trịnh Tụ biết quả nhân yêu thích mỹ nhân mới, đối xử với cô ấy còn tốt hơn đối với quả nhân, nhân phẩm của Trịnh Tụ quá tốt rồi, không một chút đố kỵ’. Như thế Trịnh Tụ đã làm tê liệt tâm phòng bị của Sở vương và mỹ nhân mới đối với cô ấy. 

Đến một ngày Trịnh Tụ nói với mỹ nhân rằng: ‘Tuy rằng đại vương rất thích tướng mạo của em, nhưng cảm thấy cái mũi của em không được đẹp lắm, cho nên mỗi lần gặp đại vương em hãy che mũi lại, cảm giác như e thẹn một chút, như thế đại vương cũng thích nhìn em như vậy’. Mỹ nhân liền tin, nên mỗi lần diện kiến Sở vương liền lấy tay che mũi. 

Sở vương cảm thấy kỳ lạ liền hỏi Trịnh Tụ là chuyện gì vậy. Trịnh Tụ nói: ‘Mỹ nhân nói với thiếp rằng, trên người đại vương có mùi hôi, cho nên mỗi lần diện kiến đại vương phải che mũi lại’. Sở vương đại nộ, bèn hạ lệnh cắt mũi mỹ nhân. Đây là câu chuyện ‘Mỹ nhân không mũi’ (Mỹ nhân vô tị – 美人無鼻). 

Chúng ta thấy rằng Trịnh Tụ là một người rất giỏi âm mưu. Trong sách ‘Hàn Phi Tử’, những âm mưu kiểu ‘quỷ quyệt khôn lường’ như thế có rất nhiều. Hàn Phi Tử đặc biệt thích viết những thứ như vậy.

Vì vậy chúng ta có thể thấy thêm điều này: Trung Quốc có rất nhiều chính trị gia vô cùng thích Pháp gia, bởi vì họ thấy rằng loại quyền mưu này là thủ đoạn cần thiết để duy trì sự thống trị.

‘Thế’ của Pháp gia là ‘độc tài’

Giáo sư Chương từng nói nhiều lần rằng, tư tưởng Pháp gia có 3 phương diện quan trọng là ‘Pháp’, ‘Thuật’ và ‘Thế’. ‘Pháp’ là ác pháp, ‘Thuật’ là âm mưu, vậy ‘Thế’ là gì? Chính là ‘độc tài’. Cái gọi là ‘Thế’ chính là quân chủ có một lực lượng khiến người ta phải run sợ, giống như hổ có nanh vuốt. Con hổ sở dĩ làm mọi người sợ hãi bởi vì nó có móng vuốt và răng nanh, có thể hại người, cho nên quốc vương nhất định phải hiển thị được quyền lực uy hiếp. 

Do đó chúng ta thấy rằng các nhân vật Pháp gia thường cố ý thông qua đồ sát lượng lớn hoặc biểu hiện ra hình dáng ‘hỷ nộ khó đoán’ để mọi người sợ hãi. Đây là ‘Thế’ của Pháp gia.

Pháp gia kiềm chế tư tưởng con người

Một phương pháp quan trọng mà Pháp gia khống chế xã hội đó là kiềm chế tư tưởng. Ở phần trước Giáo sư Chương đã từng giảng rằng, vì sao Thương Ưởng trừng phạt đồng thời ‘dân nịnh bợ’ và ‘dân ương ngạnh’. Một người đến nói với Thương Ưởng rằng ‘pháp luật thật sự tốt’ hoặc ‘pháp luật thật sự xấu’, Thương Ưởng đều trừng phạt như nhau, đều sung quân đi biên ải, bởi vì Thương Ưởng không muốn cho họ suy nghĩ. 

Dù người ta có nghĩ rằng pháp luật tốt hay xấu, điều nó nói lên rằng: sau khi căn cứ theo suy nghĩ bản thân thì đưa ra kết luận; nhưng Thương Ưởng lại không muốn để người ta suy nghĩ, phán đoán. Do đó Pháp gia làm cái gọi là ‘kiềm chế tư tưởng’, cũng có thể nói rằng Pháp gia ‘phản trí’ (反智: phản đối/chống lại trí lực con người).

Hàn Phi Tử là một đại biểu của ‘chủ nghĩa phản trí’. Ông triệt để cắt đứt sợi dây liên hệ giữa lão bách tính với những giáo hoá đạo đức và văn hoá tiền nhân trong quá khứ, vì vậy ông chủ trương đốt sách.

Hàn Phi Tử nói: “Minh chủ trị quốc, không lấy nghĩa lý trong sách tre (1), mà lấy pháp luật để giáo dục; không lấy lời dạy của tiên vương, mà lấy quan lại làm thầy”. 

Giáo sư Chương giải thích cho rõ hơn ý tứ câu trên là: Theo Hàn Phi Tử, một vị quốc vương “thánh minh” khi trị quốc thì không để lão bách tính xem sách trước đây, họ muốn học tập thì bảo họ đi học pháp luật, chính phủ bảo làm gì thì làm nấy là xong. Tiếp đó là không được nói sự tích về những tiên vương anh minh như Nghiêu – Thuấn, Đại Vũ, Thành Thang, không được lấy ngôn hành của bậc Thánh vương ấy làm thầy, mà hãy lấy những quan chức hiểu biết pháp luật làm thầy. 

Giáo sư Chương nhìn nhận ‘đốt sách’ không phải là do Lý Tư hay Tần Thuỷ Hoàng phát minh ra, mà là Pháp gia ngay từ đầu đã ‘đốt sách’ rồi. Nhiều người cho rằng ‘đốt sách’ là do 2 vị trên làm, nhưng kỳ thực vào lần biến pháp (cải cách) thứ hai năm 350 TCN, Thương Ưởng xác thực đã chủ trương việc đốt ‘Thi Kinh’, ‘Thượng Thư’ và sách của Bách gia chư tử. Thông qua biến pháp, Thương Ưởng đã biến người dân nước Tần thành bọn ‘chỉ ham đánh nhau’ (2). Mà người mất đi năng lực tư duy càng dễ bị những ‘quỷ quyệt xảo biện’ của Pháp gia lừa dối.

Hàn Phi Tử cho rằng phải dùng bạo lực trần trụi (không che đậy) để áp bức và bóc lột nhân dân, đem người dân làm trâu ngựa để sai khiến, không để họ có tự do ‘tư tưởng’, tự do ‘ngôn luận’ và tự do ‘hành động’. Hàn Phi Tử nói: “Pháp gian trá, cao nhất là cấm cái tâm, tiếp đến là cấm nói, tiếp đến là cấm làm”. 

Giáo sư Chương nhìn nhận những thứ của Pháp gia rất tà, nhưng cũng cảm giác thấy nguồn gốc của nó rất cao. Hàn Phi Tử cho rằng cấm chỉ (禁止:cấm đoán, ngăn cấm) người khác có 3 tầng thứ. Tầng thứ nhất là cấm chỉ người khác hành động, ví như nói có người muốn xuống phố kháng nghị (biểu tình), đây là có hành động, cho nên ĐCSTQ khẳng định sẽ trấn áp ngay.

Vậy hạn chế cao hơn “cấm làm” là gì? Chính là hạn chế tự do ngôn luận. Bởi vì dù người ta không kháng nghị nhưng truyền bá những ngôn luận bất mãn đối với ĐCSTQ một cách thầm kín, thì đây cũng là một loại uy hiếp đối với ĐCSTQ. Cấm chỉ cao hơn hành động chính là cấm chỉ ngôn luận. 

Sau đó cao hơn ‘cấm chỉ ngôn luận’ chính là ‘cấm chỉ tư tưởng’. Không những không cho phép người ta nói, ngay cả nghĩ cũng không cho nghĩ. Thông thường pháp luật chỉ trừng phạt hành vi chứ không trừng phạt suy nghĩ, ấy thế mà ĐCSTQ lại gắn được ‘tội suy nghĩ’ (Tư tưởng tội – 思想罪) lên thân người ta.

Mật Tông của Phật gia vô cùng chú trọng tu luyện ‘Thân, Khẩu, Ý’ (身,口,意), phải tu Thân, phải tu Khẩu và phải tu Ý. Kỳ thực điều Hàn Phi Tử giảng ra vô cùng giống với 3 phương diện của Mật Tông. Đương nhiên Mật Tông là tu hành, phải bỏ đi những tư tưởng bất hảo, nhưng Hàn Phi Tử lại thông qua phương pháp như vậy để hạn chế suy nghĩ của con người, để con người phục tùng nhà cầm quyền một cách mù quáng. Do đó cách nghĩ của Pháp gia vô cùng ‘bá đạo’ (霸道: đạo cưỡng chế con người một cách vô lý).

Là một người có tín ngưỡng chân chính, Giáo sư Chương còn cảm thấy nguồn gốc của Pháp gia đến từ rất cao, nó không đến từ cách nghĩ của con người, mà là đến từ một sinh mệnh rất tà và rất cao, sau đó rót vào Pháp gia một hệ thống tư tưởng như thế.

***

Chủ nghĩa cực quyền giống như ĐCSTQ có một chiêu thức quan trọng để ‘cấm chỉ ngôn luận’. 

Một người muốn thể hiện tư tưởng của mình phải thông qua lời nói, nhưng chủ nghĩa cực quyền lại bóp méo nội hàm của từ ngữ, khiến người ta hiểu sai nguyên gốc. Ví như nói xã hội ‘hài hoà’, thì ‘hài hoà’ ở đây chính là không được có ý kiến bất đồng, mà phải ‘thống nhất tư tưởng’ v.v. Cuối cùng sẽ dẫn đến một bộ ngôn ngữ ấy khiến người ta đi về hướng… ‘phục tùng’.

Rốt cuộc sự thể ra làm sao, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích:
(1) Thời ấy sách làm bằng thẻ tre.
(2) Nguyên gốc là Hiếu dũng đấu ngận – 好勇鬥狠.
(*) Link Trung Hoa văn minh sử tập 39.