Thiền tông hưng thịnh, tiếng lành truyền khắp cả nước. Tăng chúng thập phương và những người chưa xuất gia thường xuyên đến tạm trú tại Thiếu Lâm, hoặc tham thiền tu hành, hoặc luyện rèn võ nghệ. Chỉ tính riêng triều đại nhà Nguyên đã có hơn hai ngàn người đến Thiếu Lâm Tự xuất gia, số lượng nhiều nhất trong lịch sử…

Núi Tung Sơn, trên ứng với sao Hiên Viên, dưới đứng giữa đất trời, vươn thẳng lên cao, mỉm cười nhìn các triều đại thay đổi. Tung Sơn xa lánh khói bụi nhân gian, đưa tiễn con dân của triều đại này rồi lại nghênh đón dân chúng của triều đại kế tiếp.

Trong các triều đại khác nhau, các bậc đế vương cũng có sự khác biệt. Chuẩn mực đạo đức được truyền lại từ văn chương kinh điển, lễ nhạc thi ca và lời dạy của bậc đế vương có tài có đức, cũng theo sự phát triển của các triều đại mà không ngừng đổi mới. Các vị hoàng đế Mông Nguyên như Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt đã ra sức chấn hưng kỷ cương triều đình, xây dựng lại giang sơn. Vì vậy, tác phong của triều đình Mông Cổ luôn là trung hiếu nhân hậu, ngập tràn không khí hùng văn tráng võ. Đế quốc khí thế hùng hậu, mạnh mẽ hùng vĩ, Thiếu Lâm Cổ Tự cũng theo hiện tượng Càn nguyên vô cùng mạnh mẽ này mà hội tụ những tinh hoa mới (Càn nguyên thường dùng để chỉ đức hạnh to lớn của bậc đế vương Thiên tử).

Mông Cổ kính Trời, thần tử nhà Hán phải cảm thán

Mông Cổ được hình thành trên đồng cỏ sa mạc. Thành Cát Tư Hãn ban đầu xây dựng đất nước, khi ấy Đại Mông Cổ vẫn chưa có văn tự, nền văn minh tiên tiến thua xa Trung Nguyên, nhưng với trí tuệ và lòng dũng cảm vô song, lòng tôn kính trời đất và tấm lòng rộng lượng luôn coi trọng tín nghĩa, Thành Cát Tư Hãn đã tạo được tầm ảnh hưởng trong thế giới phương Đông và phương Tây. Bánh xe lịch sử hướng về đế quốc Nguyên Mông, cũng đưa Thiếu Lâm Tự bước vào một vương triều mới.

Chân dung Thành Cát Tư Hãn.
Tranh vẽ trên lụa, trích album về dòng dõi Nhà Nguyên, lưu trữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập tại Đài Loan.

Mông Cổ vẫn luôn gìn giữ tín ngưỡng kính Trời vô cùng thành kính và chân thật. Từ Đại Hãn Mông Cổ cho đến bá tánh bình dân, họ xem tất cả mọi chuyện lớn nhỏ trong cuộc đời đều là sự sắp đặt của ông Trời, mùng một tháng Giêng hàng năm nhất định phải cúng tế Trời. Người Mông Cổ của thời đó mỗi khi mở miệng ra nói chuyện, câu nói đầu tiên chính là: “Nhờ vào sức mạnh của Trời đất trường sinh, nhờ vào phúc đức của hoàng đế”. Đối với những việc mà mình làm, họ luôn nói là do “ông Trời dạy”, khi nhìn thấy một người muốn làm chuyện gì đó, những người khác sẽ nói là “ông Trời đang nhìn đó!”.

Khi đại quân Mông Cổ đi chinh phạt, bất luận là tấn công hay là rút quân, đều sẽ nấu thịt cừu để phán đoán hung cát trước, người Tống đặt cho tập tục này một cái tên rất tao nhã là “thiêu tỳ bà”. Khi sứ thần của Nam Tống là Bành Đại Nhã nói về ấn tượng của mình trong chuyến đi sứ Mông Cổ, ông nói rằng bản chất của người Mông Cổ trung thành và chất phác, có phong thái của thời thượng cổ. Thiếu Lâm Tự nghênh đón con dân của triều đại này, tuân theo lòng thành đối với Trời.

Triều đình trọng Đạo, Thiền tông nức tiếng khắp muôn dân

Mông Cổ nằm ở sa mạc xa xôi, tín ngưỡng nguyên thủy của họ là Tát Mãn giáo (Shaman giáo), mà Thiếu Lâm Tự nằm ở trung tâm của Cửu Châu, là Phật giáo chính thống. Hai giáo phái này vốn dĩ không có liên quan gì đến nhau cả, nhưng vì tạo hóa của ý Trời mà càng ngày càng gần nhau hơn.

Mông Cổ xuống phía Nam chinh phạt nước Kim, trong lúc nhân tài gặp thời, có một vị tăng nhân bước vào tầm mắt của người đời, trở thành một trong những tiêu điểm đáng chú ý khi đó. Đó chính là Vạn Tùng Hành Tú. Vạn Tùng 15 tuổi xuất gia, siêng năng nghiên cứu kinh Phật, trở thành tăng sĩ chính thức sau khi vượt qua được kỳ thi. Vạn Tùng rất có tài ăn nói, khả năng hùng biện siêu phàm. Gia Luật Sở Tài hình dung Vạn Tùng là: Ngọn núi ngôn từ của ông biến hóa vô cùng, đứng vững sừng sững như Thái Sơn, khiến người ta khó mà trèo lên được, mỗi lần ông thao thao bất tuyệt mà luận giảng, giống như sương mù phủ kín mặt nước, khó có thể nhìn thấy bến bờ.

Vạn Tùng sống trong cửa Phật, nhưng lại là một nhân tài xuất chúng. Năm Minh Xương thứ 4 của nhà Kim (năm 1193), Kim Chương Tông mời Vạn Tùng đến hoàng cung thuyết pháp, và đích thân ra nghênh đón, còn ban tặng áo Cà-sa may bằng gấm cho cao tăng. Khi Kim Chương Tông ra ngoài đi săn, còn cố tình đi đến thiền thất của Vạn Tùng để hỏi về yếu nghĩa của Phật pháp.

Năm 1215, đại quân của Mông Cổ tấn công vào Trung Đô, các tăng sĩ trong chùa vì muốn né tránh họa binh đao, mọi người khẩn thiết thỉnh cầu Vạn Tùng thiền sư đi về miền nam lánh nạn. Vạn Tùng nói với mọi người: “Lẽ nào người Mông Cổ không biết Phật pháp hay sao?”

Đối với các tôn giáo đang thịnh hành thời bấy giờ, Thành Cát Tư Hãn chế định quốc sách tự do thờ phụng, bình đẳng đối đãi, đồng thời miễn thuế và sưu dịch cho các tôn giáo. Chỉ cần các tự viện (chùa) không phản kháng lại Mông Cổ, quân đội Mông Cổ cũng sẽ không xâm phạm tự viện. Khi quân Mông Cổ công phá thành, Vạn Tùng thiền sư đang hướng dẫn tăng chúng tụng niệm kinh Phật, quân đội Mông Cổ hoàn toàn không xâm phạm hay làm phiền.

Năm 1229, Nguyên Thái Tông Oa Khoát Đài lên ngôi, tiếp tục thực thi quốc sách tự do tín ngưỡng. Những vị cao tăng của Thiếu Lâm Tự như Huệ Khánh, Huệ Túc, Trí Tư nhận mệnh lệnh của Khả Hãn, đi đến các nơi đảm nhận chức Tăng thống, trợ giúp triều đình Mông Cổ thống lĩnh các tăng sĩ trong thiên hạ. Nguyên Thái Tông kính trọng Vạn Tùng Hành Tú, đặc biệt ban tặng cho ông một chiếc răng Phật, họ gọi ông là “Vạn Tùng lão nhân”, triều đình Mông Cổ cũng gọi Vạn Tùng là “quốc sư”.

Có được sự che chở và giúp đỡ của đế vương Mông Cổ, Thiền tông được lan rộng một cách nhanh chóng ở phương Bắc, giúp ích cho Mông Cổ trong việc trị nước.

Hốt Tất Liệt là một đế vương anh minh, khoan dung độ lượng, biết nhìn người và trọng dụng nhân tài. Truyền thuyết nói rằng ông chính là hóa thân của Chuyển Luân Vương, bởi vì công đức bao trùm vũ trụ, uy đức vô song, làm cảm động cõi trời, các thiên nữ hoan hỷ rải xuống những bông hoa bằng vàng, để thị hiện dấu hiệu cát tường. Hốt Tất Liệt vì bảo vệ con dân của vương triều, ra lệnh xây dựng Hộ Quốc Tự, để cầu phúc cho lê dân bá tánh. Năm 1245, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho Phúc Dụ đi đến Thiếu Lâm Tự thiết lập Tư Giới đại hội, rồi lại ban ruộng đất và tài sản cho Phúc Dụ, kêu ông xây Báo Ân Tự. Dưới sự giúp đỡ của Hốt Tất Liệt, trong một lần tiến hành Tư Giới đại hội, số tăng ni tiếp nhận ‘cụ túc giới’ lên đến một trăm ngàn người.

Tranh chân dung hoàng đế Hốt Tất Liệt của nhà Nguyên được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc gia.

Hốt Tất Liệt kính trọng cao tăng Hải Vân của Thiền Tông, và hỏi ông về chân lý Phật pháp. Hải Vân cho rằng, đế vương cai trị đất nước, về ý Trời hay về hành động của con người đều không thể tách rời một chữ “tâm”. Đế vương có lòng nhân từ, xã tắc vạn dân đều được yên ổn. Thân là bậc đế vương, nếu như muốn biết chuyện thành bại hưng suy của xưa và nay, nhất định phải tìm cầu nhân tài uyên bác trong thiên hạ. Đế vương có thể thường xuyên lo nghĩ đến an nguy của bá tánh, trọng dụng nhân tài và tiếp nhận lời khuyên của thần tử, thưởng phạt phân minh, thường xuyên mưu cầu phúc lợi cho bá tánh, đây cũng là một trong những ý nghĩa của Phật pháp. Hốt Tất Liệt vô cùng xúc động, ban thưởng cho Hải Vân áo khoác may bằng gấm vàng có đính ngọc trai, đối đãi với Hải Vân như người thầy của mình.

Phong thái của nhà Nguyên đôn hậu chất phác, là quốc gia hưng thịnh nhất thiên hạ. Khí thế hùng hồn và lớn mạnh của đế quốc có liên quan rất nhiều đến việc hoàng thất Mông Cổ kính trọng trời đất, hộ trì Phật pháp.

Thiền tông hưng thịnh, tiếng lành truyền khắp cả nước. Tăng chúng thập phương và những người chưa xuất gia thường xuyên đến tạm trú tại Thiếu Lâm, hoặc tham thiền tu hành, hoặc luyện rèn võ nghệ. Chỉ tính riêng triều đại nhà Nguyên đã có hơn hai ngàn người đến Thiếu Lâm Tự xuất gia, số lượng nhiều nhất trong lịch sử.

Ước muốn làm cho quốc gia phồn thịnh, bá tánh an lạc

Những tăng nhân Thiếu Lâm tự do tự tại với trí tuệ cao siêu, ẩn tàng hết mọi thanh cao và tao nhã nơi núi rừng u tịch. Giữa rừng thông và trên những tảng đá, dưới ánh trăng và trước những làn gió, bất luận là lúc nào và ở nơi đâu, tăng chúng đều có thể thỏa sức thể hiện sự thanh cao của mình. Dưới bầu trời đầy sao và ánh trăng, những ẩn sĩ tham thiền ngộ đạo đó, một khi đạt được cảnh giới minh tâm đại ngộ, sẽ chặt đứt sợi dây cương phù phiếm, giống như hóa thân thành cao tăng, quay trở về chốn hồng trần một lần nữa, đi cứu độ chúng sinh trong nhân gian.

Vạn Tùng lão nhân đã dạy dỗ ra được rất nhiều cao nhân, các đệ tử của ông như Đông Lâm Chí Long, Mộc Am Tính Anh, Tuyết Đình Phục Dụ lần lượt đi đến Thiếu Lâm Tự, chấn hưng sơn môn.

Vào những năm Hưng Định cuối cùng của nước Kim, hơn một trăm phú hào và thân sĩ sùng tín Phật giáo như Khấu Ngạn Ôn đã bỏ ra vàng bạc của cải để làm tài sản trăm năm cúng dường cửa Phật. Năm Hưng Định thứ tư (năm 1220), Chí Long mở “dược cục” (nhà thuốc) tại Thiếu Lâm Tự, hái thuốc, mua những loại thuốc chuyên điều trị những bệnh thường gặp, để chữa bệnh miễn phí cho tăng chúng và những người chưa xuất gia ở trong và ngoài Thiếu Lâm Tự. Y học của Thiếu Lâm vì vậy mà trở nên nổi tiếng, vang danh thiên hạ, cứu giúp cho vô số người.

Vạn Tùng lão nhân còn có mấy người đệ tử tại gia, ví dụ như Gia Luật Sở Tài, Lý Thuần Phủ, Triệu Bỉnh Văn, họ đều là những văn nhân nổi tiếng của nhà Kim và nhà Nguyên. Từ năm 1214 đến năm 1217, quý tộc Khiết Đan Gia Luật Sở Tài và Chí Long cùng nhau bái nhận Vạn Tùng thiền sư làm sư phụ, sau đó tham thiền tĩnh tu. Vạn Tùng thiền sư ban cho Gia Luật Sở Tài pháp danh là “Trạm Nhiên cư sĩ”. Gia Luật Sở Tài không sợ giá rét và nắng gió, chịu đựng khổ cực và tịnh tu trong ba năm, cuối cùng đi vào cảnh giới “quên đi sống chết, thân tại thế ngoại, danh thơm hay tiếng xấu đều không thể lay động, buồn vui không thể xâm nhập”.

Sau khi Gia Luật Sở Tài quy thuận Thành Cát Tư Hãn, đã đi theo đại quân Mông Cổ đi chinh chiến phương Tây, toàn bộ lộ trình tổng cộng hơn 60 ngàn dặm. Gia Luật Sở Tài đã phải trải qua rất nhiều gian nan hiểm trở trên đường đi, nhưng cuối cùng vẫn không thay đổi chí hướng quy thuận thiên mệnh, phò tá triều đình Mông Cổ. Gia Luật Sở Tài đứng đầu quần thần, vì xã tắc mà tận tâm tận lực, chế định chiến lược.

Quân Mông Cổ đánh nước Kim, khi sắp công phá được thành Biện Lương, Đại tướng Tốc Bất Đài cho rằng người Kim đối kháng lại Mông Cổ trong một thời gian quá dài, khiến cho quân Mông Cổ thương vong quá nhiều, vì vậy chủ trương đồ thành (thảm sát toàn thành). Sau khi Gia Luật Sở Tài nghe được tin này, lập tức bẩm tấu lên Nguyên Thái Tông Oa Khoát Đài rằng: “Nếu như giết hết dân trong thành, những người thợ khéo tay, những gia đình giàu có sưu tầm nhiều sách kinh điển, đều sẽ bị tiêu diệt hết. Trên mảnh đất trống, không có người dân trồng trọt, chiếm đất thì có ích gì chứ?” Gia Luật Sở Tài dùng lý lẽ để tranh biện, cứu sống được rất nhiều người, chỉ tính riêng vùng đất Biện Lương, ông đã cứu được hàng ngàn bá tánh.

Mọi người đều nói Phật pháp có thể trị tâm, nhưng không thể trị quốc. Gia Luật Sở Tài vừa có thể tu cái tâm của mình, vừa có thể phò quốc an dân. Ông phò tá hoàng đế Mông Cổ trị vì thiên hạ, những lúc nhàn nhã thì đi dâng hương tham thiền, đàn tấu cổ cầm. Điệu nhạc cổ xưa vô cùng tao nhã, giống như mùi thơm của bông hoa sen vừa mới nở, mang theo ước nguyện phát triển xã hội phồn vinh và bá tánh an cư lạc nghiệp truyền đi khắp Cửu Châu và bốn biển.

Tượng điêu khắc chính trị gia Gia Luật Sở Tài của đế quốc Mông Cổ.

Một người tu hành được liệt vào hàng vương công

Từ xưa đến nay, người ta thường nói rằng đức cao đế vương phục. Cho dù là khác biệt về ngôn ngữ và dân tộc đi nữa, thì quan niệm cổ xưa này vẫn được áp dụng như nhau.

Trong Thiếu Lâm Tự, có một tấm bia thánh chỉ Nguyên Mông, được khắc vào năm Diên Hựu đầu tiên, trên tấm bia khắc bốn thánh chỉ của hoàng đế Mông Cổ. Trong đó có một thánh chỉ nói đến việc năm 1253, Nguyên Hiến Tông Mông Ca sắc phong cho trụ trì Thiếu Lâm Tự Tuyết Đình Phúc Dụ làm Đô tăng tỉnh, để ông quản lý tăng sĩ người Hán, cùng với tăng chúng của Úy Ngột Nhi, Tây Phiên (Thổ Phồn), Hà Tây (Nguyên Tây Hạ).

Mông Ca có tài năng hơn người, lại vô cùng tôn kính Thần Phật, cũng có sự lý giải độc đáo về tín ngưỡng Phật giáo. Một lần, Mông Ca giơ bàn tay ra để làm ví dụ cho các cận thần, nói rằng: Phật giáo như bàn tay, nếu như không xét gốc rễ, những môn phái khác tranh nhau khoe khoang, thì giống như đám người mù sờ voi vậy.

Mông Ca có bản tính khoan dung độ lượng và công bằng, vương công các nước bằng lòng gia nhập vào Mông Cổ, làm con dân của Hãn quốc.

Trụ trì Phúc Dụ của Thiếu Lâm Tự được Mông Ca tuyển chọn là một người có tư chất thông minh. Phúc Dụ 9 tuổi đi học (năm 1211), một ngày có thể ghi nhớ được hơn một ngàn chữ, người dân trong vùng đều gọi Phúc Dụ là “Thánh tiểu nhi”. Cha mẹ của Phúc Dụ mất sớm, Phúc Dụ trở thành cô nhi không nơi nương tựa. Một hôm, Phúc Dụ gặp được một vị tăng già ngoài đường. Vị tăng già này khuyên Phúc Dụ đi xuất gia học Phật: “Chỉ cần có thể đọc tụng ‘Kinh Pháp Hoa’ là đủ rồi”. Phúc Dụ hỏi ngược lại: “Chẳng lẽ trong Phật pháp chỉ có ‘Kinh Pháp Hoa’ thôi sao?” Vị tăng già rất bất ngờ trước câu hỏi này của Phúc Dụ, ông nghĩ thầm, cậu bé này là hạt giống tốt, hoài bão rộng lớn, tương lai nhất định sẽ có thành tựu lớn. Thế là, vị tăng già đưa Phúc Dụ đi nhận Hưu Lâm hòa thượng làm sư phụ. Sau khi đi qua rất nhiều nơi, Phúc Dụ đi đến Yên Kinh, đi theo Vạn Tùng thiền sư để học thiền.

Sau này Phúc Dụ trở thành trụ trì của Thiếu Lâm Tự, hoàng đế Mông Cổ ban cho ông rất nhiều quyền lực. Chỉ cần là tăng sĩ mà Phúc Dụ quen biết, không cần biết đối phương có ở ngay trước mặt hay không, Phúc Dụ đều có thể tự mình phân phát văn thư Giới Điệp cho họ, giúp người xuất gia miễn đóng thuế (Giới Điệp là giấy chứng nhận thọ giới cho những tăng sĩ đã đăng đàn thọ giới). Hoàng đế Mông Cổ còn quy định, một số hòa thượng của nước Mông Cổ có thể trực tiếp gọi tên của Phúc Dụ, nhưng tăng sĩ của Thiếu Lâm Tự không được gọi thẳng tên của trụ trì. Nếu như có tăng sĩ nào không giữ thanh quy giới luật, làm trái quy định của nhà Phật và làm chuyện xấu, sẽ phải gánh chịu hình phạt của trụ trì.

Sau khi Phúc Dụ qua đời, Nguyên Nhân Tông truy phong Phúc Dụ làm “Tấn quốc công”, “Đại tư không”, “Khai phủ nghi đồng tam ti” vào năm Hoàng Khánh đầu tiên (năm 1312), và ra lệnh cho quan văn lập bia cho Phúc Dụ. Hàn lâm học sĩ Trình Cự Phu biên soạn bia văn, nhà thư họa nổi tiếng Triệu Mạnh Phủ viết chữ lên bia, Lễ bộ thượng thư Quách Quán Triện viết bia ngạch (tiêu đề của tấm bia). Hoàng đế nhà Nguyên ban tặng vinh dự to lớn như vậy cho một người xuất gia, có thể nói là ân sủng vô cùng.

Một làn sương khói bao phủ trên mái ngói, những lá cờ thêu hình mây đung đưa trong gió, toàn cảnh Thiếu Lâm Tự như đang lay động nhẹ nhàng. Vạn vật yên tĩnh dưới ánh trăng, ngàn sao lấp lánh, tiên hạc kêu thanh bình. Đây chính là cảnh đẹp giống như một vườn hoa thơ mộng, sau khi các tăng sĩ Thiếu Lâm tham thiền ngộ đạo, tâm đột nhiên trở nên thấu suốt và thanh tịnh, nơi này cũng trở thành một miền tịnh thổ. Sông núi, ánh trăng, tinh tú bình thường đều hóa thành cảnh thần tiên siêu phàm trong mắt các tăng sĩ, khiến người ta lưu luyến không rời. Thiếu Lâm Tự trong thời kỳ nhà Nguyên giống như một biển trí tuệ chốn nhân gian, một lòng phát huy chí lớn, tạo dựng thành tựu ngàn năm. Ánh sáng huyền ảo của mặt trăng chiếu khắp nhân gian, chiếu sáng con đường hoằng đạo gồ ghề lắm chông gai nơi miền nhân thế.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.news||c90b7fa55__

Ad will display in 09 seconds