“Với phong thái hiên ngang, dù hiểm nguy bất trắc, thành bại vô định, quyết giữ vững đạo thường, tùy cơ thích ứng, giống như sông hồ biết học cách thích nghi, như núi non thì bất di bất dịch”. “Khi gặp Giới Thạch, biết anh là người có căn khí thâm sâu, được nuôi dưỡng khéo léo, thế mới thấy giáo dục xưa không như nay”… (Lời của Tôn Trung Sơn)

Năm 1912, Tưởng Giới Thạch sang Nhật Bản tránh họa (do vụ án Đào Thành Chương), tại đây ông sáng lập tạp chí “Quân Thanh”, đã biên soạn và phát hành sáu bài báo, đưa ra những góc nhìn độc đáo cùng những nhận định sắc bén về các vấn đề liên quan đến quân sự, chính trị, kinh tế, lãnh thổ, ngoại giao ở Trung Quốc và trên thế giới.

Tầm nhìn xa trông rộng của chàng quân nhân trẻ

Ông phán đoán: “Sau thế kỷ 20, ven biển Thái Bình Dương sẽ trở thành chiến trường – nơi mà các quốc gia thi triển lực lượng quân sự của mình”. “Vạn quốc tranh giành quy về tiêu điểm duy nhất là vùng đất Trung Quốc”. Ông nhận định, Mãn Thanh bất tài vô lực, tạo thành “cửa ngõ hiểm yếu, dẫn lối cho kẻ tranh người chiếm, vậy nên việc thương thảo đàm phán cắt nhường lãnh thổ, giao nộp cống phẩm cầu hòa được coi như lệ thường. Tướng soái vô năng, anh hùng thiếu niềm tin. Hậu duệ dòng dõi đế vương của hơn 4000 năm văn minh, đến nay đều bị giáng xuống trở thành nô lệ cho người mắt xanh tóc vàng, thật đau đớn làm sao!” Ông đề xuất, thống nhất dân tộc cần phải xây dựng một quân đội hùng mạnh” (Trích trong ‘Lời mở đầu’ của cuốn sách Quân Thanh năm 1912).

Ông đã phân tích rõ mối nguy hại khi Đô đốc mỗi tỉnh ở Trung Quốc đều nắm quyền độc tài về quân sự và chính trị. Ông chủ trương trung ương tập quyền, thống lĩnh quân đội:

“Nếu tổng thống chính thức quả thật có tinh thần cách mạng và tư tưởng dân chủ, thì chúng ta tất sẽ có được hoài bão của Washington và phương pháp của Napoléon làm công cụ để kiến tạo nên một nền Cộng hòa dân quốc điển hình”.

“Không phá bỏ ranh giới các tỉnh, trung ương tập quyền, thì không thể xây dựng một nước cộng hòa vững mạnh, không tái thiết khu vực quản lý, thống nhất quân – chính, càng không thể lãnh đạo một nước cộng hòa ưu tú. Tóm lại “chiếc chìa khóa” trung ương tập quyền lấy “bản lề” liên quan đến vấn đề thống nhất quân – chính là việc vô cùng cấp thiết. Nếu không được giải quyết thì quân sự – chính trị sẽ rất hỗn loạn và mất kiểm soát, hơn thế nữa vấn nạn về tài chính, dân số, vật tư sẽ tiếp tục hoành hành mà không có hồi kết.”

(Trích: “Vấn đề thống nhất quân-chính”, 1912)

Tầm nhìn của Tưởng Giới Thạch không chỉ giới hạn ở phạm vi trong nước. Trong bài báo “Ảnh hưởng của Chiến cục Balkan đến ngoại giao Trung Quốc và các nước”, Balkan, nơi Âu Á giao nhau khiến cho cục diện ở bán đảo này trở nên phức tạp. Ông đưa ra những phân tích tỉ mỉ và tường tận, dã tâm trong mối quan hệ song phương của Sa Hoàng đối với Mông Cổ, đưa ra cảnh báo đối với Quốc Dân. Trong bài báo “Giải quyết căn bản vấn đề Mông Cổ – Tây Tạng”, ông cũng chỉ ra các đối sách chi tiết chống lại ý đồ chia cắt Mông Cổ, Tây Tạng và Mãn Châu của ba quốc gia Nga, Anh và Nhật Bản, nhằm mục đích bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Những bài báo này đã phô diễn được tri thức uyên bác, khí độ vĩ đại và tầm nhìn sâu rộng của Tưởng Giới Thạch; khiến độc giả thật khó có thể tưởng tượng ra rằng, các tác phẩm đó được chấp bút bởi một chàng quân nhân trẻ, mới chỉ 24, 25 tuổi.

Mùa đông năm 1912, Tưởng Giới Thạch trở về Trung Quốc. Vào thời gian này, tổng thống lâm thời – Viên Thế Khải đã quay lại, quốc phủ từ Nam Kinh dời đến Bắc Kinh. Vào tháng 3 năm 1913, quyền Chủ tịch của Quốc dân đảng – Tống Giáo Nhân bị ám sát, Tôn Trung Sơn lập tức phát động cuộc cách mạng thứ hai, khởi nghĩa vũ trang chống lại Viên Thế Khải. Tưởng Giới Thạch ở Thượng Hải phụng lệnh tấn công Cục chế tạo Giang Nam nhưng thất bại, ông lại dời sang Nhật Bản. Tháng 1 năm sau, Viên Thị giải thể Quốc hội và phế bỏ “Hiến pháp tạm thời của Trung Hoa dân quốc”. Tháng 6 năm 1914, Tưởng Giới Thạch tại Nhật Bản đã gia nhập Đảng cách mạng Trung Hoa do Tôn Trung Sơn khởi xướng, sau nhiều lần di chuyển giữa Trung Quốc và Nhật Bản, nung nấu các kế hoạch thảo phạt Viên Thế Khải, ông bị truy nã gắt gao. Từ năm 1914 đến năm 1915, Tưởng Giới Thạch đến Nhật Bản ba lần và thường xuyên gặp gỡ Tôn Trung Sơn.

Sau nhiều nỗ lực khôi phục chế độ quân chủ nhưng thất bại, năm 1916, Viên Thế Khải qua đời. Lê Nguyên Hồng kế nhiệm vị trí tổng thống, “Hiến pháp tạm thời” và Quốc hội được khôi phục trong một thời gian ngắn. Năm 1917, Trương Huân phục vị bất thành, Đoạn Kỳ Thụy sau khi lên nắm quyền, lại giải thể Quốc hội, phế bỏ “Hiệp ước tạm thời”, Phùng Quốc Chương và Trương Tác Lâm liên minh lại để khôi phục chế độ độc tài chuyên chế.

Được Tôn Trung Sơn tín nhiệm, đánh giá cao

Năm 1917, với mong muốn bảo vệ “Hiến pháp tạm thời”, Tôn Trung Sơn đã thành lập chính phủ hộ pháp quân ở Quảng Châu, nhậm chức đại nguyên soái, tính toán chiến tranh bảo vệ hiến pháp, khởi binh Bắc phạt. Hộ pháp quân do Đường Kế Nghiêu ở Vân Nam, Lục Vinh Đình ở Quảng Tây và Trần Quýnh Minh ở Quảng Đông làm chủ chốt. Trong “Kế hoạch tác chiến chống lại quân đội phương Bắc” mà Tưởng Giới Thạch trình lên Tôn Trung Sơn, ông đã tỉ mỉ phân tích thực lực: “Quân đội trực thuộc chính phủ phương Bắc ước tính có trên 30 vạn người, nhưng trên thực tế quân số sẵn sàng tham chiến do hai phe Phùng và Đoàn hợp nhất lại, cũng không quá sáu vạn”. “Bắc quân tuy đông nhưng lực lượng nguyện vì Đoàn Thị mà không màng sống chết lại vô cùng ít ỏi”. Ông đề xuất kế hoạch tác chiến như sau: “Quân đội ta lấy ven sông Trường Giang làm chiến tuyến chủ đạo, bắt đầu tấn công từ Vũ Xương, tiếp đến bình định Nam Kinh, đánh bại quân địch dọc khu vực sông Trường Giang, theo đà thẳng tiến công phá Bắc Kinh”. Kế hoạch của Tưởng Giới Thạch được Tôn Trung Sơn chấp thuận.  

Tưởng Giới Thạch trong Quân đội Quảng Đông đã nhiều lần đảm trách những chức vụ trọng yếu, qua đó tài năng quân sự kiệt xuất của ông cũng phần nào được hiển lộ. Trần Gia Minh đối với Tưởng Giới Thạch vô cùng coi trọng, điều này được thể hiện trong một bức thư ông từng viết: “Quân đội Quảng Đông có thể bại trăm trận nhưng không thể thiếu một người như huynh”.

Cổ nhân nói: “Cây có mọc thành rừng, gió vẫn thổi bật rễ. Tưởng Giới Thạch tài trí hơn người, khó tránh khỏi bị quân nhân cũ trong quân đội Quảng Đông đố kị, bài trừ. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ quá coi trọng chức vụ của mình, trong suốt sáu năm, ông đã từ chức đến mười hai lần, và mỗi lần đều nhanh chóng được chiêu mời điều chuyển lên những vị trí mới. Tưởng Giới Thạch từng bước trở thành trợ thủ quân sự thân tín nhất của Tôn Trung Sơn. Năm 1920, khi trợ thủ Chu Chấp Tín hy sinh trên chiến trường, Tôn Trung Sơn đã gửi điện báo cho Tưởng Giới Thạch: “Chấp Tín đột ngột qua đời, khiến tôi như người mất đi hai cánh tay, xét trong Đảng ta tấm gương về người biết việc quân cơ lại can đảm thiện lương, hiện tại vô cùng hiếm gặp. Duy chỉ có huynh là dũng mãnh chân thành hơn cả Chấp Tín, lại có tài thao lược dụng binh vượt trội”. Qua đây có thể thấy rằng Tôn Trung Sơn vô cùng coi trọng tài năng quân sự của Tưởng Giới Thạch.

Mẫu thân qua đời năm 1921 khiến người con hiếu đạo – Tưởng Giới Thạch đau thương vô hạn. Tôn Trung Sơn đã đích thân viết bài văn tế bộc bạch: “Cháu và con trai bác – Giới Thạch đã xông pha trận mạc hơn mười năm, cùng nhau nếm trải nguy nan, vào sinh ra tử, như cánh tay liền thân thể, như tham mã theo cận mã, sớm chiều chưa hề xa cách”. “Với phong thái hiên ngang, dù hiểm nguy bất trắc, thành bại vô định, quyết giữ vững đạo thường, tùy cơ thích ứng, giống như sông hồ biết học cách thích nghi, như núi non thì bất di bất dịch”. “Khi gặp Giới Thạch, biết anh là người có căn khí thâm sâu, được nuôi dưỡng khéo léo, thế mới thấy giáo dục xưa không như nay”. Tôn Trung Sơn đã mượn dịp tưởng niệm này, để bày tỏ sự tán dương từ tận đáy lòng dành cho Tưởng Giới Thạch, làm nổi bật sự nể trọng của ông đối với vị ái tướng thân tín này.

Vào ngày 16 tháng 6 năm 1922, Trần Quýnh Minh, vốn là tư lệnh quân đội Quảng Đông của Tổng thống Tôn Trung Sơn đã tạo phản, tấn công phủ Tổng thống. Tôn Trung Sơn lên Vĩnh Phong hạm tránh nạn. Ngày 18, Tôn Trung Sơn gửi điện cho Tưởng Giới Thạch: “Sự tình cấp bách, mong sớm gặp mặt”. Ngày 29, Tưởng Giới Thạch từ Chiết Giang vội vã trở về Quảng Châu lên Vĩnh Phong hạm. Tôn Trung Sơn vui mừng khôn xiết: “Tướng quân dù chỉ một mình đến đây, nhưng giống như tiếp thêm 20 vạn viện binh vậy”.

Sau khi nghe tin Tưởng Giới Thạch lên tàu Vĩnh Phong, Trần Quýnh Minh vô cùng lo lắng nói rằng, Tưởng Giới Thạch ở bên cạnh Tôn tiên sinh, nhất định sẽ đưa ra nhiều mưu cao kế hiểm. Tưởng Giới Thạch không hề để ý đến sự an nguy của bản thân, sớm hôm ở bên túc trực tương trợ cho vị lãnh tụ trong suốt 42 ngày, nhằm đảm bảo an toàn cho Tôn Trung Sơn và thay đổi cục diện nguy hiểm. Sau sự kiện này, Tưởng Giới Thạch viết bài: “Ký sự Tôn tổng thống gặp nạn ở Quảng Châu”. Tôn Trung Sơn viết lời tựa: “Sau khi Trần phản động, Giới Thạch đến Quảng Châu cứu nguy, trên chiến hạm ngày ngày túc trực, đưa ra nhiều đối sách xoay chuyển tình thế, hết lòng cùng ta và tướng sĩ hải quân vào sinh ra tử”. Ông đánh giá cao phẩm hạnh của Tưởng Giới Thạch trong khoảng thời gian khó khăn đó đã cùng ông chia sẻ vui buồn, sớm chiều tương trợ.

Kế thừa truyền thống, “Thiên hạ vi công”

Năm 1921, trong một dịp đến Quế Lâm, Marin – đại diện Liên Bang Xô Viết đã hỏi Tôn Trung Sơn: “Cơ sở tư tưởng cách mạng của ông là gì? Tôn Trung Sơn đáp:

“Trung Quốc có một đạo Nho chính thống, được các bậc cao nhân Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ, Chu Công, Khổng Tử đời đời kế tục. Nền tảng tư tưởng của tôi chính là Đạo Nho này, cuộc cách mạng của tôi cũng kế thừa tư tưởng chính thống này, với mục tiêu phát huy và làm rạng rỡ giá trị truyền thống”.

Marin cảm thấy rất khó hiểu liền hỏi lại, Tôn Trung Sơn vẫn lặp lại câu trả lời như vậy. Tưởng Giới Thạch cũng có mặt tại đó liền giải thích thêm:

“Thật ra lời mà Tổng thống vừa nói có ý nghĩa rằng: Chủ nghĩa tam dân là lấy tư tưởng chính trị và tư tưởng luân lý vốn có của đất nước chúng tôi – “Thiên hạ vi công” (Công bình vì thiên hạ) làm nền tảng”.

(Trích “Bản chất và cơ sở triết học của chủ nghĩa tam dân”)

Trên thân mang trọng trách là nhân vật anh hùng thiên hạ mà Sáng Thế Chủ giao phó, thừa kế sự nghiệp chưa tròn của Quốc phụ – Tôn Trung Sơn, mục tiêu phấn đấu một đời của Tưởng Giới Thạch chính là kế thừa đạo Nho chính thống của Trung Hoa và thực hiện chủ nghĩa tam dân. Trong mắt Tôn Trung Sơn, chàng sĩ quan trẻ Tưởng Giới Thạch “dũng mãnh, chân thành, lại thêm tài thao lược dụng binh” (lời của Tôn Trung Sơn), có đầy đủ toàn bộ tố chất của một vị lãnh tụ quốc gia. 

(Còn tiếp…)

Tác giả: Tổ nghiên cứu anh hùng thời đại – Epoch Times
Minh Ngọc biên dịch