Trang bìa tạp chí ‘Time’ Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 6 năm 1942 đã đăng bức ảnh chân dung của Tưởng Giới Thạch cùng lời thuyết minh ngắn gọn: “Tổng tư lệnh Tưởng: Quá khứ 5 năm nằm gai nếm mật, nhưng thử thách cam go nhất vẫn còn ở hồi sau”…

Khắc chế cường địch đến cùng

 “Phụ thân vốn có tầm nhìn chiến lược bao quát toàn diện bối cảnh quốc tế, không chỉ dẫn dắt định hướng Trung Quốc đối đãi một cách cao thượng, dùng đức báo oán trong mối quan hệ ngoại giao với Nhật Bản, đồng thời còn yêu cầu các quốc gia đồng minh Âu Mỹ cũng cư xử với Đức và Italia như vậy. Mục đích của ông chính là mong muốn hạn chế sức ảnh hưởng của thế lực Cộng sản tới các lục địa phía bắc Châu Á, cũng như kìm hãm sự lan rộng của thế lực này sang Thái Bình Dương.” (“Tưởng Vĩ Quốc khẩu thuật tự truyện”)

Tầm nhìn xa trông rộng

Trong thời kỳ đầu kháng chiến, Trung Quốc đơn độc chống lại Nhật Bản. Hoa Kỳ duy trì thái độ trung lập, không cung cấp vũ khí cho Trung – Nhật. Liên Xô kể từ khi ký kết ‘Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau giữa Trung Quốc – Liên Xô’ vào tháng 8 năm 1937, đã nhiều lần viện trợ không quân và bán vũ khí cho Trung Quốc. Tuy nhiên sau khi ‘Thỏa thuận trung lập giữa Liên Xô và Nhật Bản’ được xác lập vào năm 1941, Liên Xô đã chấm dứt cung ứng viện trợ cho Trung Hoa, đồng thời công nhận quốc gia Mãn Châu, “đâm một nhát đao chí mạng” sau lưng Trung Quốc. Vào năm 1940, Anh đã gây sức ép buộc Nhật Bản khóa lại xa lộ Miến Điện, cắt đứt con đường giao thương với nước ngoài duy nhất của Trung Quốc.

Tưởng Giới Thạch trong bộ quân phục tiêu chuẩn, năm 1940. (Lĩnh vực công hữu)

Tưởng Giới Thạch nhận định rằng Trung Quốc trong hành trình kháng chiến chống Nhật Bản không hề bị cô lập, ba quốc gia Anh, Mỹ và Liên Xô không sớm thì muộn cũng sẽ bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh đang “leo thang” đến cực điểm này. Ông đặc biệt chú ý coi trọng xu hướng thiết lập mối quan hệ ngoại giao mật thiết với nhiều quốc gia Âu Mỹ cũng như các nước khác.

Vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, quân Đức xâm lược Ba Lan, đánh dấu sự bùng nổ của chiến tranh Châu  Âu. Tưởng Giới Thạch nhận được thông tin, vô cùng phấn khởi mà ghi lại trong nhật ký: “Trong hai năm trường kỳ kháng chiến, Trung Quốc luôn kỳ vọng vào sự thay đổi của bối cảnh quốc tế, hôm nay kết quả mong đợi đã đến rồi. Tình hình quốc tế mặc dù đầy rẫy hiểm nguy, nhưng nếu kiên định lựa chọn vận dụng đường lối hữu hảo, thận trọng, tôi tin tưởng rằng nhất định có thể khiến đất nước chúng ta khôi phục, chấn hưng trở lại”. (Trương Kỳ Quân, “Đại cương lịch sử Đảng”, tập 3)

Trong nhật ký ngày 16 tháng 9 năm 1940, ông viết: “Vết rạn nứt trong mối quan hệ Đức – Nga ngày càng sâu sắc, trong khi đó Hoa Kỳ và Nga có khả năng câu kết liên minh”.

Đầu năm 1941, Tưởng Công với tầm nhìn xa trông rộng, đã ghi lại trong cuốn nhật ký của mình 9 điểm ‘đáng kỳ vọng’ trong bối cảnh quốc tế tương lai, hai điểm đầu tiên là: “A, Nga – Đức tuyên chiến; B, Mỹ – Oa (Nhật) đối đầu.”

Ngày 10 tháng 5, Tưởng Giới Thạch thẳng thắn đưa ra lời khuyên tới đại sứ Hoa Kỳ về động thái tạm thời án binh bất động với Nhật Bản: “Theo phán đoán của tôi và những báo cáo đã được xác thực gần đây, trong vòng một tháng rưỡi tới (tức là đến cuối tháng 6) nếu mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Đức không chuyển biến theo chiều hướng xấu, chỉ cần có thể duy trì tình hình như hiện tại, thì nhất định Đức sẽ tấn công Nga trong khoảng thời gian một tháng rưỡi này.” Ngày 16 tháng 6, Tưởng Giới Thạch đã triệu kiến Chu Ân Lai – người đứng đầu đảng Cộng sản Trung Quốc, thông qua anh ta để chuyển lời tới Liên Xô, “Quân đội Đức sẽ đánh chiếm Liên Xô vào ngày 21 tháng 6.” Đến ngày 22 tháng 6, Đức tấn công Liên Xô, chỉ muộn hơn một ngày so với lời tiên đoán của Tưởng Giới Thạch. Thông tin này đã giúp Liên Xô có thời gian gần một tuần lễ để chuẩn bị quân trang ứng chiến. (Lộc Tích Tuấn, “Dự đoán và cơ sở ứng phó của Tưởng Giới Thạch về chiến tranh Liên Xô – Đức”)

Áp phích của đồng minh Trung – Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2. (Lĩnh vực công hữu)

Chiều hướng diễn biến của bối cảnh thế giới chính là minh chứng rõ ràng nhất cho tầm nhìn sáng suốt của Tưởng Giới Thạch. Sau khi Liên Xô – Đức khai chiến, Tưởng Công thuyết phục Roosevelt (Tổng thống Hoa Kỳ) cần giữ vững lập trường cứng rắn đối với Nhật Bản, ngừng việc cung cấp vũ khí và tài nguyên năng lượng cho đất nước này. Quân đội Nhật Bản bị cắt đứt nguồn cấp lương thực, chợt cảm thấy như ngũ lôi oanh đỉnh (bị 5 loại sét đánh vào đầu), vô cùng tuyệt vọng, quyết định ‘phá phủ trầm châu’ (đập nồi dìm thuyền) chiến đấu đến cùng (‘Đập nồi dìm thuyền’ dựa theo tích: Hạng Vũ đem quân đi đánh Cự Lộc, sau khi qua sông thì dìm hết thuyền, đập vỡ nồi niêu để binh sĩ thấy không có đường lui, phải quyết tâm đánh thắng). Vào ngày 1 tháng 12, Thiên hoàng Nhật Bản đã chủ trì một cuộc họp hoàng gia, đưa ra nhận định như sau: “Hoa Kỳ đã hoàn toàn trở thành người phát ngôn của Tưởng Giới Thạch”. “Toàn bộ thành quả kể từ chiến tranh Nhật – Thanh, chiến tranh Nhật – Nga và những biến cố tại Trung Quốc đến nay đều tiêu tan tựa như ‘dã tràng xe cát’. Nhật Bản đã quyết định “phát động chiến tranh chống lại Mỹ, Anh và Hà Lan”.

Đến ngày 7 tháng 12, Nhật Bản huy động quân đội đột kích Trân Châu cảng, châm ngòi nổ cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Tưởng Giới Thạch trong nhật ký của mình đã viết: “Thành quả về mặt chính trị và chiến lược của cuộc kháng chiến, chính là dồn ép Nhật Bản đến đỉnh điểm, vật cực tất phản, có thể không dè chừng và sợ hãi chăng?!” Vào ngày 9 tháng 12, Trung Quốc và các nước đồng minh Hoa Kỳ, Anh đã đồng loạt chính thức tuyên chiến với Nhật Bản, hình thành thế trận đối đầu với lực lượng phe trục Đức – Ý – Nhật trong Thế chiến thứ II.

Bốn năm trước, Thượng Hải bị chiếm đóng, Nam Kinh rơi vào tình thế nguy nan, Tưởng Giới Thạch trước khi dời đô đến Trùng Khánh, đã đưa ra lời dự đoán như sau: “Hiện tại đối mặt ứng phó với các quốc gia xâm lược, nhất định sẽ nảy sinh một chiến tuyến liên hợp giữa Anh, Hoa Kỳ, Pháp và Liên Xô, có thể nói rằng bối cảnh thế giới đã được thay đổi bởi cuộc kháng chiến anh dũng của chúng ta, nếu chúng ta tiếp tục nỗ lực chiến đấu, thì có thể đạt được mục tiêu khiến các quốc gia ở Viễn Đông coi Nhật Bản như kẻ thù, bao vây Nhật Bản”. “Nhất định phải đưa Nhật Bản vào thế bị cô lập hoàn toàn. Mục tiêu này không hề xa xôi, thực sự rất dễ dàng đạt tới” (Quốc phủ di dời đến Trùng Khánh và triển vọng tương lai của cuộc kháng chiến, ngày 19 tháng 11 năm 1937). Bốn năm sau, dự ngôn đó đã trở thành hiện thực.

Năm 1941, Lattimore được Roosevelt tiến cử đảm nhiệm vai trò cố vấn chính trị cho Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Lattimore đã làm việc cùng vợ chồng Tưởng Công được hơn một năm, sau đó bởi vì quan điểm ủng hộ Cộng sản mà bất hòa với Tưởng Công và từ chức. Nhưng trong tập hồi ký của mình, Lattimore vẫn luôn khẳng định rằng Tưởng Công là “một người yêu nước chân chính”, “đặc biệt có tầm hiểu biết sâu sắc về quốc gia”, thậm chí đôi khi còn “có tầm nhìn xa trông rộng hơn cả Roosevelt hay Churchill”. “([Mỹ] Đào Hàm Trứ, Lâm Thiêm Quý phiên dịch, “Tưởng Giới Thạch và Trung Quốc hiện đại”)

Thống soái chiến khu

Tết Nguyên đán năm 1942, 26 quốc gia bao gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Liên Xô,… đã ký kết tuyên ngôn phản đối xâm lược tại Washington, Tưởng Giới Thạch được đề cử là “Thống soái tối cao chiến khu Trung Quốc” của phe Đồng Minh, đảm nhận vai trò chỉ huy lực lượng quân đội tại các miền đất thuộc địa của phe Đồng Minh như Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam để liên hợp tác chiến. Trên trang bìa tạp chí ‘Time’ Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 6 năm đó đã đăng bức ảnh chân dung của Tưởng Giới Thạch cùng lời thuyết minh ngắn gọn: “Tổng tư lệnh Tưởng: Quá khứ 5 năm nằm gai nếm mật, nhưng thử thách cam go nhất vẫn còn ở hồi sau.”

Vào tháng 2 năm 1942, Tưởng Giới Thạch và phu nhân đã chấp thuận lời mời đến thăm Ấn Độ của thống đốc Anh Quốc đang lưu trú tại đó. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tưởng Giới Thạch với tư cách là nhà lãnh đạo Trung Quốc. Ấn Độ là thuộc địa của Anh, cuộc chiến giành độc lập dân tộc do Mahatma Gandhi lãnh đạo đang mâu thuẫn sâu sắc với mẫu quốc Anh, vì vậy mà Ấn Độ không muốn tham gia vào cuộc chiến chống phát xít. Trong khi đó Nhật Bản và Đức cũng nóng lòng muốn lôi kéo Ấn Độ trở thành chiến lược trọng tâm của Nam Á. Mục đích chuyến đi lần này của Tưởng Giới Thạch chính là tìm kiếm sự thỏa hiệp giữa Anh và Ấn Độ, tận dụng cơ hội giúp Ấn Độ sớm ngày giành độc lập, từ đó củng cố vai trò của Ấn Độ trong phe Đồng Minh. Tưởng Giới Thạch đã gặp gỡ các nhà lãnh đạo dân tộc của Ấn Độ như Gandhi, Nehru, Gina (cha đẻ của Pakistan) và trao đổi trò chuyện một cách thành thật, thân mật với họ.

Tưởng Giới Thạch phát hiện ra rằng Ấn Độ và Trung Quốc có rất nhiều điểm tương đồng, đều phải chịu sự áp bức, uy hiếp từ các quốc gia non trẻ; cùng có nền văn minh lâu đời và đều tin tưởng vào “sức mạnh tinh thần truyền thống”. Tưởng Giới Thạch tiến hành vận động phong trào độc lập tại Ấn Độ và làm trung gian hòa giải trong mối quan hệ với Anh Quốc. Từ góc độ lãnh đạo của Churchill mà nhìn nhận thì có lẽ do còn tồn tại những hiềm khích về ‘can thiệp nội chính’, vậy nên Ấn Độ không nhận được sự nhượng bộ từ Anh. Tưởng Giới Thạch vì ủng hộ nền độc lập chính nghĩa của dân tộc Ấn Độ, đã không ngần ngại mạo phạm Anh Quốc – vốn là một quốc gia hùng mạnh trong phe Đồng Minh, ông đã thể hiện sự trượng nghĩa và tấm lòng đồng cảm, khiến nhân dân Ấn Độ vô cùng xúc động. Một số nhà lãnh đạo Ấn Độ đã tự nguyện cam kết với Tưởng Giới Thạch rằng họ sẽ không ủng hộ chủ nghĩa phát xít Đức và Nhật Bản. Trước khi rời Ấn Độ, Tống Mỹ Linh đã dùng tiếng Anh để truyền đi rộng rãi “Lá thư gửi nhân dân Ấn Độ” của Tưởng Giới Thạch: Vận mệnh của nhân dân hai quốc gia Trung Quốc và Ấn Độ là tương đồng, vì vậy cần kề vai hợp lực tác chiến.

Hai tháng sau sự kiện Trân Châu Cảng, quân đội Nhật Bản đã chiếm giữ nhiều hòn đảo và thành phố ở Nam Á. Trung tuần tháng 2 năm 1942, Hồng Kông, Manila và Singapore thất thủ. Vào tháng 5, Philippines, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia và Myanmar cũng lần lượt bị chiếm đóng. Quân Nhật liên tiếp thực hiện thành công ý đồ xâm lược tại Nam Dương, từng bước hình thành thế trận bao vây Trung Hoa.

Quân đội Nhật Bản ở Nam Dương không hề gặp bất cứ trở ngại nào, nhưng đến khi tấn công Trung Quốc lại gặp nhiều khó khăn. Đầu năm 1942, Tưởng Giới Thạch ra lệnh cho Tiết Nhạc chỉ huy 30 vạn Quốc quân, dàn trận thiên lô tại Trường Sa bao vây 12 vạn quân Nhật, tiêu diệt được 57.000 quân địch. Trong khi đó quân đội Trung Quốc chỉ hao tổn 28.000 binh sĩ.

Nhà báo người Mỹ Formen sau khi thu thập diễn biến tại chiến trường đã đưa tin: “Trung Quốc lần thứ ba đại thắng ở Trường Sa đã chứng minh một nguyên tắc, đó chính là nếu quân đội Trung Quốc được trang bị tương đương với quân đội Nhật Bản, thì họ có khả năng dễ dàng đánh bại quân đội Nhật Bản”.

Tưởng Giới Thạch vô cùng phấn chấn, trong nhật ký ngày 4 tháng 1 đã bày tỏ: “Nhật Bản trong quá trình xâm lược Nam Dương, có thể nói rằng chiến đấu không nơi nào bất lợi, tấn công không nơi nào thất bại, vậy mà đến chiến dịch tại Trường Sa lại rơi vào thế vô cùng thảm hại, qua đây chính phủ Anh, Hoa Kỳ và dư luận quốc tế mới có thể thấy rằng quân xâm lược Nhật Bản hùng mạnh thì phản ứng của đất nước chúng ta cũng không hề yếu mềm”.

Vào tháng 2 năm 1942, quân đội Nhật Bản ồ ạt tấn công vào Yangon (thủ đô Miến Điện), binh lực Anh Quốc đóng quân tại Miến Điện đã cầu cứu viện trợ từ bộ chỉ huy chiến khu Trung Quốc. Ngày 16 tháng 2, chính phủ Trung Quốc điều động quân viễn chinh đến Miến Điện tham chiến. Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc ra nước ngoài chiến đấu sau chiến tranh Giáp Ngọ. Tưởng Giới Thạch đã hai lần gửi quân viễn chinh được trang bị theo phong cách Mỹ đến Miến Điện và Ấn Độ, dưới sự chỉ huy của tham mưu trưởng Joseph Stilwell và sự phối hợp của quân đội Anh, dốc sức cho trận huyết chiến với quân xâm lược Nhật Bản, quyết tâm bảo vệ con đường huyết mạch Tây Bộ và đã giành được chiến thắng cuối cùng.

(Còn tiếp…)

Theo Epoch Times
Minh Ngọc biên dịch