Quân đội quốc gia bị thương vong đến 400.000 người, hải quân hoàn toàn bị xóa sổ, chỉ còn lại rất ít máy bay. Quả là “Bích huyết tráng chí thư trung liệt, thanh thiên bạch nhật tế anh linh” (Máu đào tạc tấm lòng trung liệt, giữa trời xanh cúng tế vong linh)…!

Kiên định không lay động

Sau “chiến dịch Tùng Hỗ”, trọng điểm chiến lược của quân Nhật chuyển dần xuống phía nam và tập trung vào khu vực Hoa Trung (trung du sông Trường Giang). Sức mạnh các thiết bị quân sự của quân Nhật tại khu vực đầm lầy, sông trạch cũng bị suy giảm đáng kể. Quân Nhật tiến xuống phía nam đã rơi vào kế sách được Tưởng công sắp đặt sẵn. Tưởng Giới Thạch nói: “Mặc dù quân phiệt Nhật tự cho rằng bản thân xảo trá gấp nhiều lần chúng ta, nhưng trên thực tế thì chính họ mới là kẻ ngu muội không linh hoạt khéo léo”. “Họ muốn làm gì thì làm, hoàn toàn không kiêng nể gì cả. Nhưng lại không ngờ được rằng quốc sách cùng với chiến lược của họ, từ lúc khai chiến đến nay, trước sau đều không nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta.” (Trích: “Vận mệnh Trung Quốc”)

Nếu Thượng Hải thất thủ, Nam Kinh sớm muộn cũng sẽ gặp nguy hiểm. Ngày 20/11, Tưởng Giới Thạch đã có bài phát biểu và tuyên bố chủ trương dời đô: “Chúng ta từ trước đến nay vẫn luôn tin tưởng rằng bạo lực sẽ không thể khiến chúng ta suy sụp. Cuối cùng sẽ có một ngày, từ trong đống phế tích hoang tàn đổ nát mà kẻ địch đã tạo nên sẽ xuất hiện một quốc gia mới, chỉ cần thế giới còn tồn tại thì quốc gia này cũng sẽ tiếp tục tồn tại”. 

Vào ngày 13 tháng 12, Nam Kinh thất thủ, trong 2 tháng, quân đội Nhật đã điên cuồng tàn sát hàng loạt dân chúng, giết hại bừa bãi 300.000 binh lính và thường dân Trung Quốc. Lịch sử gọi đó là sự kiện “thảm sát Nam Kinh”.

Sau đó, chính phủ Quốc Dân đảng di dời về phía Tây đã khiến cho kế hoạch bức ép Tưởng Giới Thạch đầu hàng của Nhật Bản bị thất bại. Đối diện với đội quân như hổ lang hung ác tàn bạo, trong tầng lớp các cấp lãnh đạo của Quốc Dân đảng đã xuất hiện những ý kiến ​​trái chiều. Hầu hết mọi người đều sa sút tinh thần và cho rằng cuộc kháng chiến nhất định sẽ thất bại. Phe phái do Uông Tinh Vệ đứng đầu đã sớm chuẩn bị cho việc đầu hàng. Ngay cả trong số những thuộc hạ thân tín của Tưởng Giới Thạch cũng tràn đầy cảm xúc bi quan. Nhóm người Khổng Tường Hi, Vu Hữu Nhậm, Hồ Thích, Thái Nguyên Bồi, Trần Bố Lôi và một số người khác đều ủng hộ chủ trương nghị hòa, cho rằng kháng chiến chắc chắn sẽ thất bại và Trung Hoa nhất định sẽ diệt vong. Khi đó, hành chính nghị viện đã tổ chức một cuộc họp, và kết thúc báo cáo có những lời lẽ đầy oán giận như “Trung Quốc không diệt vong là không thuận theo đạo trời” v.v. (Nhật ký của Trần Khắc Văn). Các đồng sự và những người dân ủng hộ cuộc kháng chiến của Tưởng Công cũng bị châm chọc là “xướng cao điệu” (khoác lác), và “mắc bệnh điên loạn”.

Tưởng Giới Thạch đã viết trong cuốn nhật ký của mình: “Phái bảo thủ và những người có trí thức đều bị dao động, chủ động cầu hòa. Những họ không biết rằng cầu hòa vào lúc này chính là đầu hàng khuất phục chứ không phải là đàm phán hòa bình”. Ông cũng nói: “Các tướng lĩnh đã mất hết ý chí chiến đấu, trong thâm tâm đau khổ cùng cực… Quân địch kỳ thực vẫn chưa hạ quyết tâm tấn công vào thủ đô, duy chỉ có quân ta là không còn sức lực, quân địch mặc dù muốn dừng cũng không thể dừng lại được”.“Những người có học thức và lão già cổ hủ đều bám cứng vào những thất bại quân sự để làm cái cớ mà nêu cao chủ trương nghị hòa, các tướng lĩnh cấp cao toàn bộ đều đã xuống tinh thần, những kẻ vẫn nhăm nhe chờ cơ hội lợi dụng để trục lợi mọc lên nhan nhản, không hề có một chút tinh thần cách mạng nào”.

Tưởng Giới Thạch dẫn dắt đồng bào cùng chí hướng tiêu diệt kẻ thù xâm lược trên toàn quốc, tiến hành một cuộc kháng chiến bền bỉ, trường kỳ. Ngày 16 tháng 12 năm 1937, trước đêm Nam Kinh thất thủ, ông đã tuyên bố với toàn thể nhân dân rằng: “Trong cuộc kháng chiến trường kỳ của Trung Quốc, hạch tâm quyết định thắng lợi cuối cùng không phải ở Nam Kinh, cũng không phải ở các thành phố lớn, mà đặt ở lòng kiên định của nhân dân sống tại các vùng nông thôn trên cả nước. Hỡi đồng bào cả nước,.. phụ thân hãy khuyên răn con cái, huynh trưởng hãy động viên đệ muội, người người phẫn nộ, căm hận giặc ngoại xâm, từng bước bố trí phòng vệ,… tạo nên những thành lũy vô hình mà kiên cố, dùng để diệt địch”. (Trích: “Thư cáo nhân dân toàn quốc về việc quân đội ta rút khỏi Nam Kinh”, 1937)

Vào ngày 18 tháng 12, năm ngày sau khi Nam Kinh bị quân địch chiếm đóng, Tưởng Giới Thạch đã viết trong cuốn nhật kí: “Những ngày gần đây, nhân sĩ khắp nơi cùng với những người có chung chí hướng đều cho rằng cuộc kháng chiến của chúng ta nhất định đã thất bại, không thể không nhanh chóng chủ động cầu hòa, gần như tất cả mọi người đều nói như vậy. Nếu như vào lúc này mà giảng hòa, thì cũng không khác gì họa diệt vong, chẳng những không thể chịu đựng được sự áp bức của kẻ xâm lược, hơn nữa còn có thể phát sinh nhiều cuộc nội loạn. Những người đó chỉ thấy những nguy hại trước mắt, mà không biết được những tổn hại mà kẻ địch sẽ gây ra cho chúng ta, họ không hề có chủ kiến về việc dựa vào đâu để chống đỡ vượt qua khó khăn này”. (Trích: “Những tìm kiếm chân thực về Tưởng Giới Thạch”)

Tưởng Giới Thạch cho rằng “nhất định phải khiến đường tiến công của kẻ địch càng đi càng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, như vậy thì những thay đổi về hình thế trên thế giới nhất định sẽ không thể đoán trước được, vậy thì những khuyết điểm của giặc Oa chắc chắn sẽ bộc lộ càng nhiều, binh lực của kẻ địch cũng không thể sắp xếp bố trí một cách hợp lí, như vậy không chỉ khiến cho chúng rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, mà còn làm cho chúng mỏi mệt, các quốc gia khác nhất định sẽ thừa lúc mỏi mệt này mà vươn lên. Cuộc chiến với bên ngoài ngừng lại thì nội chiến tất nhiên sẽ nổ ra gây loạn khắp trong nước, thà là trong nước đại loạn vẫn còn hơn kháng chiến đại bại”.  

Về phía Nhật Bản, họ một mặt đưa quân tiến công, mặt khác lại lại lén lút chủ động dàn xếp dụ dỗ cầu hòa, vừa đấm vừa xoa. Tưởng Công cũng thuận theo đó mà tương kế tựu kế, nhiều lần điều đi đoàn đại biểu mật đàm cùng với Nhật Bản. Vào tháng 10 năm 1938, đại biểu bên phía Tưởng Công là Tiêu Chấn Doanh, đã có một cuộc trò chuyện bí mật với đại diện phía quân đội Nhật Bản và trung tướng quân Nhật là Takaji Wachi, và Tưởng Công đã nói thêm trong tuyên bố bên phía Trung Quốc: “Phương châm của chính phủ chúng tôi đối với chiến tranh hoặc nghị hòa sớm đã nhiều lần được biểu đạt cụ thể rõ ràng rồi, tức là tiêu chuẩn của hòa hoãn hoặc chiến tranh chính là tình thế có thể được khôi phục về nguyên trạng trước giai đoạn ngày 7/7 được hay không”. (Trích: “Những tìm kiếm chân thực về Tưởng Giới Thạch”, Dương Thiên Thạch)

Vào ngày 2 tháng 11, đặc phái viên ngoại giao Nhật Bản là Hirota đã chính thức đề xuất các điều kiện đàm phán hòa bình bên phía Nhật Bản, đồng thời ủy thác cho Đại sứ nước Đức là Todmann có cuộc gặp gỡ với Tưởng Giới Thạch vào ngày 5/1, thay mặt truyền đạt lại phương hướng hòa đàm bên phía Nhật Bản. Điều kiện mà Nhật Bản đưa ra lần này là: Quyền tự trị ở Nội Mông và Hoa Bắc; Từ khu vực Mãn Châu đến địa phận sông Vĩnh Định sẽ được phân định là khu vực trung lập; thỏa thuận đình chiến Tùng Hỗ trở thành mốc son đánh dấu sự mở rộng của khu vực trung lập này và mời các quan sát viên quốc tế duy trì trật tự an ninh; tăng cường hợp tác kinh tế Trung – Nhật, giảm bớt thuế quan nhập khẩu đối với hàng hóa của Nhật Bản; không được bài xích Nhật và cấm thực hiện chủ trương giáo dục kháng Nhật, cộng đồng phòng Trung Cộng.

Vào ngày 28 tháng 12, Tưởng Giới Thạch đã nói với những người có chủ trương nghị hòa là Uông Tinh Vệ, Khổng Tường Hi những lời thẳng thắn, bộc trực nhất: “Tinh thần cách mạng của Quốc dân Đảng và chủ nghĩa Tam dân chỉ có thể được dùng để tìm kiếm tự do và công bằng cho Trung Quốc, chứ không phải là để đầu hàng kẻ địch và kí kết các hiệp ước bất bình đẳng đối với chúng ta, điều này chỉ vĩnh viễn làm tăng thêm những trói buộc với đất nước và dân tộc. Nếu như không may tất cả các sách lược đều hướng đến thất bại, vậy thì cuộc cách mạng thất bại đó cũng không có gì đáng phải xấu hổ, chỉ cần chính quyền Quốc dân của ta không bị hãm vào trong những tính toán thâm độc của kẻ địch, vậy thì chúng sẽ không có chỗ bám víu và quốc gia chúng ta sẽ có cơ hội khôi phục chủ quyền bất cứ lúc nào”. Cuối cùng thì Tưởng, Uông và Khổng sau khi thương nghị đã quyết định kiên trì kháng chiến, không để ý tới các điều kiện hòa giải được đưa ra bởi kẻ địch.

Nhật Bản rốt cuộc cũng không có cách nào để có thể cùng đi trên một con đường mà Tưởng Công muốn hướng tới, bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc toàn bộ những “thành quả” của Nhật Bản sau sự kiện cầu Lư Câu đều bị vô hiệu hóa. Nhật Bản thấy rằng Tưởng Giới Thạch sẽ không chịu khuất phục trước áp lực, vậy nên vào tháng 1 năm 1938 đã quyết định “không lựa chọn chính phủ Quốc dân đảng làm đối tác đàm phán” và đặt hy vọng vào sự ủng hộ của chính quyền bù nhìn. Sau khi chế độ bù nhìn Uông Tinh Vệ được thành lập vào năm 1940, Nhật Bản mới có thể thực sự dựa vào đó mà tiến hành thao túng toàn diện.

Tưởng Giới Thạch tin tưởng vững chắc rằng cuộc kháng chiến nhất định sẽ thắng lợi, nhưng nó không thể nhanh chóng đạt được kết quả. Ngay từ ngày 25 tháng 2 năm 1932, ông đã ra lệnh cho Hà Ứng Khâm chuẩn bị lên kế hoạch cho cuộc kháng chiến chống Nhật, đồng thời còn nói rằng: “Chiến đấu lâu dài với quân Nhật, không phải như vậy là không đủ để làm tiêu tan đi dã tâm và sự ngạo mạn của họ” (Bản sơ thảo do Tổng thống Tưởng Công biên tập). Tháng 1 năm 1938, Tưởng Giới Thạch nói rằng: “Chúng ta chính là muốn dùng thời gian lâu dài, để phòng thủ trên một không gian rộng lớn hơn, dùng không gian đó để kéo dài thời gian kháng chiến, qua đó tiêu hao thực lực quân địch, tranh thủ cho thắng lợi sau cùng” (Những điều kiện và yếu tố cho kháng chiến thắng lợi, 1938).

Máu đào nhuộm trời xanh

Ngày 13 tháng 3 năm 1938, Tưởng Giới Thạch đã viết trong cuốn nhật ký của mình: “Kháng chiến quyết không phải nhất thời tranh giành mà đạt được thắng bại và được mất, nó có quan hệ mật thiết tới họa phúc từ trăm ngàn thế hệ của người dân Đông Á. Vì nguyên do đó mà không tiếc bất kì sự hy sinh nào, trừ phi đạt được mục tiêu, nếu không thì chiến tranh sẽ mãi mãi không có hồi kết”. 

Vào giữa tháng 4 năm 1938, theo sự điều động của Tưởng Giới Thạch, quân đội cách mạng quốc gia tại quân khu 5 dưới quyền chỉ huy của tư lệnh Lý Tông Nhân tại khu vực Sơn Đông cùng với Giang Tô, chỗ tiếp giáp với Đài Nhi Trang đã khiến cho quân Nhật chịu tổn thất nặng nề, giết hơn 10.000 quân địch. Mặc dù quân đội Quốc dân vẫn đang thực hiện chiến lược rút lui, đại thắng Đài Nhi Trang đã phá tan những ngôn luận ngông cuồng kiểu như “quân đội Quốc dân là không thể chiến thắng”. Trước đó không lâu, Chủ tịch tỉnh Sơn Đông kiêm Phó Tư lệnh quân khu 5 là Hàn Phúc Củ ở trong trận chiến tại Từ Châu, vừa lâm trận đã bỏ trốn, bỏ mặc phòng tuyến tại khu vực Tế Nam và Hoàng Hà, đã bị Tưởng Giới Thạch xử bắn. Sự việc này đã trở thành tin chấn động một thời gian, ủng hộ tinh thần và sĩ khí kháng chiến của quân binh nơi tiền tuyến một cách sâu sắc. 

Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1938, hơn 1 triệu binh lính của quân đội Cách mạng Quốc gia do Tưởng Giới Thạch chỉ huy đã bảo vệ thủ đô Vũ Hán trong thời chiến. Đại chiến sắp nổ ra, Tưởng Giới Thạch đã có bài phát biểu trên đài phát thanh toàn quốc, ông nói: “Nhân dân Trung Quốc và chính phủ đã bị quân xâm lược Nhật Bản ức hiếp, áp bức đến cùng cực. Quân đội Trung Quốc vì sự tồn vong của dân tộc, quyết tâm tại Vũ Hán quyết một trận tử chiến với quân Nhật”. “Quân đội chúng ta trong trận chiến lần này sẽ không lấy sự thành – bại, tiến – thoái của một thành phố hay một địa phương làm trọng, mà tự động lựa chọn các địa khu tác chiến thuận lợi nhất để đạt được mục đích triệt phá tiêu diệt sinh lực địch”. 

Nhật Bản nóng lòng muốn kết thúc sớm trận chiến này, vì muốn chiếm được Vũ Hán nên đã dốc toàn lực, được ăn cả ngã về không. Chiến dịch lần này đã kéo dài đến bốn tháng rưỡi. Quân đội quốc gia đã sử dụng lực lượng không quân và hải quân ít ỏi còn lại để chiến đấu kịch liệt, quyết tâm liều chết với quân Nhật. Kết quả là 200.000 quân Nhật đã chịu thương vong. Quân đội Nhật vô cùng tức giận trước thiệt hại nặng nề, rốt cuộc đã đưa ra một quyết định thấp hèn, bất chấp tất cả mà làm trái với công ước quốc tế trong chiến tranh – sử dụng khí độc. Quân đội quốc gia bị thương vong đến 400.000 người, hải quân hoàn toàn bị xóa sổ, và chỉ còn lại rất ít máy bay. Quả là “Bích huyết tráng chí thư trung liệt, thanh thiên bạch nhật tế anh linh” (Máu đào tạc tấm lòng trung liệt, giữa trời xanh cúng tế vong linh)!

Ngày 21 tháng 10, Quảng Châu thất thủ, quân Nhật cắt đứt tuyến đường sắt Quảng Đông – Hán Khẩu, khiến cho Vũ Hán tứ bề thọ địch. Ngày hôm sau, Tưởng Giới Thạch quyết định từ bỏ cố thủ Vũ Hán. Vào thời điểm đó, việc rút lui về chính trị, quân sự và công thương nghiệp của Vũ Hán đã được hoàn tất theo kế hoạch và chuyển đến khu vực hậu phương rộng lớn phía Tây Nam. Vào nửa đêm ngày 24 tháng 10, Tưởng Giới Thạch và phu nhân Tống Mỹ Linh bay khỏi Vũ Xương. Hôm sau, quân Nhật tấn công vào Vũ Hán. Các học giả cho rằng trận quyết chiến tại Vũ Hán là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến, hai bên từ đó về sau chuyển hướng sang thế trận giằng co. Nhật Bản tuy rằng trong chiến dịch lần này đã đạt được thắng lợi nhưng lại thua về mặt chiến lược và rơi vào vũng lầy của cuộc kháng chiến toàn dân của Trung Quốc. 

Theo sự sắp xếp của Tưởng Công, chính phủ di chuyển về phía tây đến Trùng Khánh, lợi dụng địa thế hiểm yếu tự nhiên của Ba Thục nhằm khắc chế quân xâm lược Nhật Bản. Trong tâm khảm của mỗi người dân Trung Quốc thì Trùng Khánh chính là “thành lũy hy vọng” cho sự nghiệp phục hưng Trung Hoa. Một mặt, quân đội Nhật Bản mở rộng chiến tuyến sang hướng Tây, đồng thời bắt đầu chiến dịch công kích dữ dội vào Trùng Khánh trong suốt 6 năm. Mưu đồ của họ là thông qua đó phá hủy trung tâm chỉ huy kháng chiến của Tưởng Trung Chính, làm lung lay quyết tâm chiến đấu của quân dân Trung Quốc. Dù xét từ góc độ quân sự, kinh tế, chính trị hay tâm lý người dân Trung Quốc, thì tình thế kháng chiến lúc bấy giờ vẫn chưa hoàn toàn thể hiện được rõ ràng, và vận mệnh của dân tộc Trung Hoa vẫn đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc.

Người Nhật nhận thức rõ tầm quan trọng của Tưởng Giới Thạch đối với Trung Quốc. Vào tháng 6 năm 1938, Cục trưởng cục Đông Á thuộc Bộ Ngoại giao Nhật Bản là Ishisha Inotaro (1887-1954), trong một báo cáo đã nói: “Nếu ví chính phủ Quốc Dân đảng như một cái quạt thì Tưởng Trung Chính thực sự là trục lõi của cái quạt. Đối với đa số trí thức Trung Quốc có ý thức dân tộc mà nói, thì Tưởng Trung Chính quả thực chính là sinh mệnh của quốc gia dân tộc, vị anh hùng gánh vác sứ mệnh phục hưng dân tộc. Ông cũng chính là một anh hùng dân tộc của nhân dân Trung Quốc. Muốn lật đổ bức tượng đài Trung Hoa Quốc Dân, so với việc thảo phạt Mãn Châu của Trương Học Lương và các thế lực quân phiệt địa phương là hoàn toàn khác biệt”.

(Còn tiếp…)

Theo Epoch Times
Toàn Kan biên dịch