Lý Bạch không chỉ là nhà thơ kiệt xuất nhất trong lịch sử mà còn là nhân vật được biết đến nhiều nhất trong thế giới người Hoa. Tác phẩm của ông giống như thiên mã hành không, thơ như mây nước chảy mây trôi, giống như thiên thành.

Lý Bạch (701-762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, nổi tiếng với những biệt danh như “Thi Tiên”, “Thi hiệp”, “Tửu tiên”, “Trích tiên nhân”… Ông không chỉ nhà thơ kiệt xuất nhất trong lịch sử Trung Quốc, cũng là người nổi tiếng nhất trong giới Hoa Kiều. Có hơn 1.000 bài thơ văn của Lý Bạch nổi tiếng trên thế giới, và các tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm “Tảo phát bạch đế thành”, “Nguyệt hạ độc chước”, “Tĩnh dạ tứ”, “Thục đạo nan”, “Hành lộ nan”, “Mộng du thiên mỗ ngâm lưu biệt”, “Tương tiến tửu đẳng”, “Tịnh hữu”, “Lý thái bạch tập”…

Tranh vẽ Lý Bạch. (Ảnh: Wiki)

Thành tựu nghệ thuật trong thơ ca của Lý Bạch được coi là đỉnh cao của thơ ca lãng mạn Trung Quốc

Nhà thơ Nghiêm Vũ thời nhà Tống đã viết trong tác phẩm “Thương lãng thi thoại”: “Người ta nói Thái Bạch là tiên tài, còn Tràng Cát (Lý Hạ) là quỷ tài, nếu không những lời thơ của tiên thiên Thái Bạch, lời thơ của Tràng Cát làm sao có thể bất tử”. Lý Bạch đã để lại cho đời nhiều bài thơ cổ, thơ luật, thơ nhạc phủ tuyệt đẹp, trong đó thơ ngũ ngôn tuyệt cú đặc biệt được khen ngợi. “Toàn Đường thi” của Tào Diễn thời Khang Hy triều nhà Thanh biên soạn đã thu thập 86 bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú của Lý Bạch. “Đường thi phẩm hối” của Minh Cao Bính biên soạn đã lựa chọn 23 bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú của Lý Bạch và liệt ông vào những thi nhân chính thống của dòng thơ này. “Đường thi tam bách thủ” lựa chọn 3 bài Ngũ ngôn tuyệt cú của ông. Những bài thơ ngũ tuyệt của ông là những tác phẩm nghệ thuật tinh tế, luôn được yêu thích rộng rãi, có nhiều bài thơ như “Tĩnh dạ tứ”  với những câu thơ bất hủ đã đạt đến mức độ thiên hạ ai ai cũng yêu thích:

Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.”

Dịch nghĩa:
Đầu tường trăng sáng soi,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng,
Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà.

Thiên sinh kỳ tài 10 tuổi ngâm thơ văn võ toàn tài, thiếu niên du hiệp

Theo ghi chép trương “Cựu Đường thư”, cha của Lý Bạch tên là Lý Khách, đảm nhiệm chức Thành úy. Theo ghi chép, khi mẹ Lý Bạch sắp sinh ông, đột nhiên mơ thấy ngôi sao Thái Bạch từ trên trời đột nhiên rơi vào trong lòng bà. Tỉnh dậy, đến tối hôm đó, bà sinh ra Lý Bạch. Sau đó có nhiều người tin rằng, Lý Bạch là Thái Bạch tinh hạ phàm. Khi Lý Bạch lên 5 tuổi, theo cha dời nhà tới Tứ Xuyên. Từ nhỏ ông đã có tư chất thông minh, khác với người thường, 10 tuổi có thể ngâm thơ, đối thơ. Khi cha ông hướng dẫn ông đọc “Tử hư phú” của Tư Mã Tương Như, ông chỉ cần đọc một lần có thể lĩnh ngộ.

Thời trẻ, Lý Bạch cũng đã đọc rất nhiều tác phẩm của Bách gia chư tử, Sở Từ, Cổ nhạc phủ, và các bài thơ của các thi nhân nổi tiếng thời Hán, Ngụy. Năm 10 tuổi, ông say mê học kiếm thuật, trong một thời gian ngắn, tài múa kiếm và tài thơ của ông được bộc lộ rõ rệt.

Năm 15 tuổi, ông đã có bài phú ngạo Tư Mã Tương Như, bài thơ gửi Hàn Kinh Châu, khá nổi tiếng. Thời trẻ, ông vô cùng tin theo Đạo giáo thịnh hành lúc bấy giờ, thích sống ẩn dật trong núi rừng, tìm trường sinh bất tử và học Đạo giáo, đồng thời có chí hướng chính trị muốn cống hiến và làm nên sự nghiệp. 

Một mặt, ông muốn trở thành một ẩn sĩ và bất tử vượt ra khỏi thế tục, mặt khác lại muốn làm nên sự nghiệp, trợ giúp quân vương. Có rất ít bài thơ được Lý Bạch viết trong khi ở nước Thục thời thiếu niên, nhưng những bài thơ như “Phóng đái thiên sơn đạo sĩ bất ngộ”, “Nga mi sơn nguyệt ca” thể hiện tài hoa xuất chúng của ông.

Sau khi Lý Bạch 20 tuổi, bắt đầu ngao du ở giữa nước Thục, từng leo lên các ngọn núi nổi tiếng Nga Mi và Thanh Thành. Những kinh nghiệm sống ấy có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành tính cách và phong cách thơ phóng khoáng của ông. Khi đó Lý Bạch 26 tuổi, để thực hiện lý tưởng chính trị của mình và đi tới nhiều nơi ở Trung Quốc.

Đảm nhiệm chức vụ hàn lâm không nịnh nọt quyền quý, một đoạn giai thoại duyên hội ngộ với Đỗ Phủ

Mặc dù Lý Bạch là kỳ tài khoáng thế, thơ văn cái thế, tuy nhiên con đường quan trường của ông lại không được suôn sẻ. Đến năm Thiên Bảo thứ nhất, khi đã 42 tuổi, ông mới được hoàng đế Đường Huyền Tông khi đó hạ chiếu xuất chinh tới Trường An. Lúc đó vì Hạ Trí Chương, thi nhân đảm nhiệm chức Thư giám tại kinh đô sau khi đọc được văn thơ của Lý Bạch đã vô cùng khen ngợi và tiến cử ông với vua Đường. 

Vào năm Thiên Bảo đầu tiên (742), Hoàng đế Huyền Tông của nhà Đường cho gọi Lý Bạch vào cung để yết kiến, đích thân trao quyền cho Lý Bạch, hỏi ý kiến của ông về vấn đề quốc gia và xã hội. Đường Huyền Tông coi trọng tài năng văn chương của Lý Bạch, nên đã phong cho Phong Hán Lâm làm văn nhân triều đình của mình, hễ cần yến tiệc hay đi chơi đều nhờ ông làm thơ. Qua một thời gian, Lý Bạch phát hiện ra Huyền Tông không coi mình là quân sư về kinh tế nên thất vọng. Điều mà vua Đường ngưỡng mộ chẳng qua chỉ là tài hoa về thơ văn của ông, coi ông là văn nhân ngự dụng của cuộc sống nơi cung đình. Sự tài hoa và kiêu ngạo của ông đã  khiến cho những kẻ bầy tôi lạm quyền trong triều đình khi đó gièm pha nói xấu. Điều này làm ông tự cảm thấy Trường An không phải nơi có thể ở lâu dài. 

Tranh vẽ “Lực Sĩ cởi giày, Quý phi mài mực” thời Thanh. (Ảnh: Wiki)

Sau 3 năm được vua Đường triệu kiến tới kinh thành làm Hàn Lâm Học Sĩ, Lý Bạch quyết định rời đi, lần nữa bắt đầu cuộc sống ngao du sơn thủy của mình. Năm 744, Lý Bạch vì làm phật ý Cao Lực Sĩ, Dương Quý Phi, bị gièm pha nhiều, sinh ra chán nản. Lại cũng vì đôi chân của kẻ giang hồ không còn chịu ngồi im được nữa, Lý bèn quyết ý rời cung. Từ biệt Trường An, mang theo một chút bạc làm lộ phí, bái biệt Đường Minh Hoàng đi thẳng. Vua tiếc tài ông, mấy bận níu giữ, Lý coi như bỏ ngoài tai. Vua lại tặng vàng, Lý cũng không cầm. Cuối cùng, vua thở dài, ban cho ông một trong những đặc ân kỳ lạ nhất lịch sử: được phép uống rượu miễn phí thoải mái ở bất kỳ tửu quán nào, tiền sẽ do ngân khố triều đình chi trả. Tại Lạc Dương ông gặp Đỗ Phủ, tại Biện Châu ông lại gặp Cao Thích. Ba vị thi nhân cùng nhau ngao du Tế Nam, Khai Phong…

Tháng tư, chính vào lúc hoa hạnh bay đầy trời, Lý Bạch tới Lạc Dương. Mà lúc đó, Đỗ Phủ vừa khớp cũng đang ở Lạc Dương. Đỗ Phủ, 33 tuổi, năm ấy cùng Lý Bạch kết làm bạn vong niên. Hai người hơn kém nhau 11 tuổi, vì tài thơ, vì cùng chí hướng, vừa gặp tựa như đã quen nhau ngàn kiếp, kết bái tương giao làm bạn vong niên, một trong những tình bạn kỳ lạ nhất trong lịch sử. Trong hơn nửa năm ngao du ấy, tình cảm của Lý Bạch và Đỗ Phủ ngày càng thân thiết, coi nhau còn trọng hơn huynh đệ một nhà. Sau này, trong thơ của mình, Đỗ Phủ thường nhắc đến những ngày tháng rong chơi thống khoái ở đất Tề, đất Lỗ mà thầm lưu luyến, nhớ tiếc. Ngày nay, trong công viên Vũ Vương Đài ở Khai Phong vẫn còn lưu lại một bức hoạ tưởng nhớ về ba đại thi hào Lý Bạch, Đỗ Phủ và Cao Thích đăng đài ngâm thơ với tên gọi “Tam hiền tử” (ba người hiền).

Bút lạc kinh phong vũ, thơ thành quỷ thần khiếp

Trong bài thơ “Tương tiến tửu” Lý Bạch từng viết: “Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh” 

Dịch nghĩa: “Thánh hiền xưa nay đều bặt tiếng, Chỉ có kẻ uống rượu được lưu danh”

Trong phần đầu bài thơ lại viết: 

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát
Triêu như thanh ti mộ như tuyết
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng
Thiên kim tán tận hoàn phục lai” 

Dịch nghĩa: 

“Bạn chẳng thấy sao: nước sông Hoàng Hà từ trên trời rơi xuống
Chảy băng băng ra bể không bao giờ trở lại
Lại chẳng thấy sao: gương sáng trong nhà cao soi bật nỗi buồn tóc trắng
Mới khi sáng còn xanh như tơ, chiều đã như tuyết
Con người ta sống mà được đắc ý thì nên hết sức vui
Đừng để chén vàng cạn dưới ánh trăng
Trời sinh ta có tài ắt sẽ có chỗ dùng
Ngàn vàng tiêu hết rồi lại có”

Trong lịch sử văn minh năm nghìn năm của Trung Hoa, thơ thường dùng để biểu đạt ý, rượu để truyền thần, viết hết tận cùng kiếp nhân sinh. Thi Tiên uống rượu một cách rất hào sảng, vừa mượn rượu để tiêu sầu, vừa cất cao giọng hát để giải tỏa những uẩn khúc ở trong lòng, phát tán những cảm khái bi phẫn của nhân sinh. Toàn bài thơ toát ra cái tính hào phóng ngông cuồng mạnh mẽ của thi nhân chen lẫn với buồn vui hỉ nộ, bỗng trầm lên xuống như dòng nước của sông Hoàng Hà từ trên trời tuôn đổ xuống rồi cuồn cuộn chảy thẳng về đông. Trong thơ trong rượu có núi nam, rừng trúc, có tiếng đàn tỳ bà nơi biên ải của Vương Hàn, còn có cả tâm chí anh hùng mạnh mẽ như biển cả của Tào Tháo. Lý yêu thơ tới mê đắm, yêu rượu thành cuồng dại, vừa có phong cách của hiệp khách, lại không mất đi khí chất, đẳng cấp của văn nhân. Ông thường xuyên trong trạng thái uống say, nhưng lại mở to đôi mắt nhìn rõ thế tục, trong lòng lại phát ra những lời chan chứa đầy nỗi lòng.

Trong bài thơ “Ký Lý thập nhị Bạch nhị thập vận” của Đỗ Phủ có câu: 

Tích niên hữu cuồng khách,
Hiệu nhĩ trích tiên nhân.
Bút lạc kinh phong vũ,
Thi thành khấp quỷ thần”.

Nghĩa là: 

Năm trước có một người khách cuồng,
Gọi ông là vị tiên bị đày xuống trần gian.
Ông sáng tác mạnh như mưa gió khiến mọi người e sợ,
Xong một bài thơ quỷ thần phải khóc.

Bốn câu thơ này có thể nói lên rõ nhất sự phóng túng không chịu bị trói buộc và tài hoa làm rung chuyển mưa bão của thi tiên Lý  Bạch. Trong thế giới rượu, Lý có thể khoan thai, tự tại, phóng khoáng, bộc lộ hết tâm tư tình cảm, không chịu bất cứ trói buộc nào. Tiêu dao, tự tại, phóng khoáng, không oán hận, năm tháng cuộc đời đã được thơ Lí Bạch ủ thành một bình hương êm dịu, giản dị và thanh tao, sảng khoái, đã được lưu truyền hàng nghìn năm.

Ngộ đầu vĩnh vương thi tiên hoạch tội sát tặc vô lực thái bạch hồi thiên

Năm Thiên Bảo thứ 13 (755), ông quen với Ngụy Hạo ở Quảng Lăng, hai người cùng xõa tóc đi thuyền vào sông Tần Hoài. Sau đó đến Tuyên Thành. Tháng 11 năm này có loạn An Lộc Sơn, Lý Bạch liền về Lư Sơn, ở ẩn tại Bình phong điệp. Năm ông 56 tuổi, Tiết độ sứ Vĩnh Vương Lân đến tận núi mời ông về phủ. Lý Bạch đành phải đi theo. Đến khi Lân làm phản bị bắt, Lý Bạch chạy trốn nhưng không thoát, lúc sắp bị tử hình có Tuyên Uý đại sứ Thôi Chi Hoán với ngự sử trung thừa Tống Nhược Tư đem giấu đi. Sang năm 757, ông bị triều đình bắt lại, lúc này người từng được Lý Bạch cứu khi xưa là Vương Chi Hoán ra sức giải oan, ông được giảm xuống tội đi đày.

Năm 758, trên đường đi đày ba vùng Dạ Lang, Động Đình, Tam Giáp, Lý Bạch được tha, liền đi xuống phía đông đến Hán Dương, tiếp tục cuộc ngao du đây đó, tuy nhiên tuổi già, sức yếu, ông đành đến Đang Đồ, ở nhờ anh họ là Lý Dương Băng. Đến năm 762, Đường Đại Tông lên ngôi, cũng là người hâm mộ thơ của Lý Bạch, cho người mời Lý Bạch nhưng trên đường đi thì nghe tin ông đã qua đời.

Ban đầu ông được chôn cất ở Thái Thạch Cơ, con cháu đời sau thuận theo ý nguyện của ông và cải táng ở Thanh Sơn. Người Trung Quốc cổ đại rất chú trọng đến chuyện học hành đèn sách sau này ra làm quan giúp nước. Tuy nhiên, Lý Bạch đã không đi theo con đường này. Ông có tài năng xuất chúng về thơ ca, cũng có tâm phục vụ đất nước, nhưng không có cơ hội thi hành.

Mặc dù con đường quan lộ của ông không như ý, nhưng có thể lưu lại cho hậu thế rất nhiều bài thơ hay. Những năm cuối đời khi sức lực kiệt quệ, cuộc sống quẫn bách, may thay, công lao cả đời dày công đúc kết thành gần một nghìn bài thơ, được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, trở thành một di sản quan trọng trong kho tàng văn học Trung Quốc

Theo Vision Times
Bình Nhi
biên dịch

Từ Khóa: