Lời nói đầu: Ôn dịch, binh họa, thiên tai nối tiếp nhau không ngừng – Vào cuối triều đại nhà Thanh, dị nạn không ngừng. Thân gặp thời loạn thế, có nên buông mình thuận theo con sóng cuốn trôi, hay là mài dũa sự dũng mãnh mà tiến lên, cảnh tỉnh huệ nhãn? Tăng Quốc Phiên cảm thán thân tại loạn thế thực là bất hạnh. Đối diện với sự khuất nhục, phỉ báng, công danh và dụ dỗ, ông lặng lẽ tuân thủ truyền thống, thận trọng tu thân. Trải qua muôn ngàn hiểm trở cũng không khuất phục, cuối cùng ông đã vượt lên trong loạn thế. Ông lập đức, lập ngôn, lập công, là Đại Thanh đệ nhất văn thần Phong vũ hầu, là một vị đại thần công cao chấn chủ, nhưng luôn có thể thiện khởi thiện chung. Chúng tôi trích xuất các cuốn gia thư, nhật ký và sử cảo của Tăng Quốc Phiên, từ quan điểm về tài phú, tư tưởng tu thân, trí huệ trị gia, đạo dưỡng sinh v.v. và những tầng diện bất đồng khác, để trình hiện giá trị truyền thống được Tăng Quốc Phiên kế thừa, vì độc giả mà tái hiện những giá trị tinh hoa truyền thống đã bị quên lãng. 

Từ năm Đạo Quang thứ mười tám (năm 1838) khi Tăng Quốc Phiên nhậm chức, đến năm Hàm Phong thứ mười (năm 1860), ông lấy thân phận khâm sai đại thần mà giám sát việc quân sự tại Giang Nam. Ông lúc này là một thành viên quan trọng của triều đình Đại Thanh. Trong gia tộc, không chỉ Tăng Quốc Phiên nắm giữ đại quyền, mà các em trai của ông cũng tương kế kiến công lập nghiệp, vì bảo hộ Đại Thanh mà lập nhiều chiến công hiển hách. Thế nhưng, ông hành sự cực kỳ thận trọng. Đối đãi với các em trai và con cháu của mình, ông khẩn thiết chân thành đốc đạo, khuyến giới [trừ bỏ, kiêng kị] thói Kiêu [kiêu ngạo], Xa [xa hoa], Dật [dâm dật].

Tự cổ chí kim, quan trường luôn là chốn công danh, thị phi. Tăng Quốc Phiên phụng mệnh tại Trường Sa huấn luyện quân. Ông học theo Thích Kế Quang của Minh triều, chiêu mộ kiện dũng tráng đinh, hiệu gọi là “Tương Dũng”, đồng thời gây quỹ để đóng chiến thuyền. Kinh qua nhiều năm liên tục chiến đấu và chiến bại, dù bị các triều thần điêu nan, lăng nhục, cản trở, Tăng Quốc Phiên cuối cùng cũng đã thành tựu một phen sự nghiệp, danh chấn thiên hạ. Ông nói: “Người người đều đam mê danh vọng, ai có thể không ganh bỉ với tôi? Khi tôi đang có danh vọng hiển hách, tất lại có người hứng chịu thanh danh bất hảo.”

So sánh như vậy khiến tâm lý ông trái lại cảm thấy phiền lòng, tự thấy mình như thể đá mài nhớ hoài tịnh cốc, thân tại quan trường không quên nguồn cội, thời thời khắc khắc đều tự phản tỉnh, tiết chế, cáo giới bản thân. Ông nghĩ đến các anh em ở quê nhà, dặn đi dặn lại các em giáo dục con cháu cần cần cù, thành khẩn, hành sự khiêm tốn, cẩn trọng mà đối đãi người khác. Ông nói: “Tôi thế đó, vì bên ngoài có chút quyền uy, con cháu trong gia môn dễ kiêu sa dâm dật, cả hai thứ này đều là con đường dẫn tới bại gia.”

Khuyến cáo huynh đệ trừ bỏ thói kiêu căng dâm dật

Khi kinh nghiệm của huynh đệ nhà họ Tăng càng ngày càng nhiều, các em của ông trong thư cũng dần thể hiện ra thói kiêu căng ngạo nghễ. Vào năm Tây An thứ mười một (1861), Tăng Quốc Phiên cũng cảnh tỉnh các em mình phải giới kiêu, giới nọa, giới dật – trừ bỏ kiêu ngạo, lười biếng và dâm dật. Ông nhìn nhận: “Giữa Thiên Địa, duy chỉ có thanh liêm và cẩn thận mới là con đường [kế] thừa tái [tạo] phúc khí. Kiêu ngạo khiến người ta tự mãn, tự mãn thái quá thì sẽ diệt phúc.” Trong mắt ông, một cá nhân bất luận là khi phát ngôn hay là viết văn chương, ví như chê bai người khác không cao nhã, khinh thường người khác thô bỉ, tùy ý nghị luận khuyết điểm của người khác, hoặc yết lộ chuyện riêng tư của một cá nhân, những thứ đó đều là biểu hiện của sự kiêu ngạo.

Gia tộc Tăng thị danh vọng cao dày, thanh thế hiển hách, ngoài cử chỉ ngôn đàm chứa đầy ngạo khí của các em mình, Tăng Quốc Phiên còn chú ý đến việc con cháu trong gia tộc lời lẽ cũng đầy ngạo mạn, một khi mở miệng liền nghị luận người khác hay dở, giễu cợt mỉa mai người khác thấp hèn hơn mình. Vì thế, ông đã khuyên trừng đệ Tăng Quốc Hoàn: “Hiền đệ muốn con cháu hậu bối của mình từ bỏ thói kiêu ngạo, phải trước tiên cải chính triệt để thói quen nghị luận khuyết điểm của người khác, phơi bày đời tư của người khác, sau đó lại khiến các con cháu hậu bối cảnh tỉnh và cải chính những chuyện này. Trừ bỏ được chữ Kiêu, lấy không khinh rẻ, phi nghị, cười nhạo người khác làm đệ nhất tín; Tu bỏ chữ Nọa [lười biếng], lấy không ngủ dậy muộn làm đệ nhất nghĩa.” 

Tuy nhiên, trừng đệ Tăng Quốc Hoàn đã trả lời bức thư, nói rằng các tử đệ Tăng gia không phải là không khiêm hòa. Tăng Quốc Phiên dĩ nhiên không đồng ý. Ông tin rằng bất cứ ai thích chế giễu, phê bình và vạch trần những khuyết điểm của người khác, đều thuộc về người kiêu ngạo. Ông trích dẫn câu tục ngữ “Phú gia tử đệ đa kiêu, quý gia tử đệ đa ngạo”, ý tứ là con cháu nhà giàu hay kiêu, con cháu nhà phú quý hay cao ngạo, để khuyên giải em mình: “Không phải nhất định cứ phải là con nhà ăn ngon mặc đẹp, động thủ đánh người mới gọi là kiêu ngạo. Chính là tự mình cảm thấy đắc chí mãn ý, từ đó không còn e dè sợ hãi, mở miệng liền nghị luận người khác hay dở, đây đã là cực kiêu cực ngạo rồi.” Ông hy vọng trừng đệ có thể dũng cảm tỉnh ngộ, hy vọng em trai và các con cháu trong gia tộc có thể trong giới kiêu, giới nọa mà hạ chút công phu.

Lấy sử làm gương, đãi nhân xử thế như đi trên băng mỏng

Việc quân cấp bách, chính sự bận rộn, nhưng Tăng Quốc Phiên vẫn kiên trì mỗi ngày đọc một cuốn sách lịch sử. Ông thông thuộc kinh sử, giảng cho các em các câu chuyện lịch sử, tựa như nắm trong tầm tay. Trong lịch sử, có rất nhiều người thất bại vì kiêu ngạo và lười biếng. Tăng Quốc Phiên nói ác nhân thời nhà Đường và nhà Ngu từ thượng cổ, ví như con trai trưởng của vua Nghiêu, Đan Chu, vì ngạo mạn mà xuất binh thảo phạt vua Thuấn; Người anh cùng cha khác mẹ của vua Thuấn tên là Tượng, bản tính hung ác ngạo mạn, muốn đẩy Đại Thuấn vào tử địa; Kiệt, vị vua cuối cùng của thời nhà Hạ, cho tới Trụ Vương nhà Thương, những vị đó đều vì kiêu ngạo và thù hận mà kết cục đều lạc vào cảnh tang thân vong quốc.

Tăng Quốc Phiên lấy sử làm gương, ông tự thuật rằng từ tháng 6 năm Hàm Phong thứ 8, đã nỗ lực tự giới cấm chữ Ngạo [kiêu ngạo] và chữ Nọa [lười biếng]. Ông từ việc quan sát các quan chức hiển quý và quốc gia chiến sự, nhận thấy rằng dù là chuyện gia bại hay chiến bại, nếu không phải là do kiêu căng, thì cũng là vì lười biếng, một trong hai chữ Kiêu và Nọa luôn hiện diện trong sự thất bại. Do đó khuyến cáo các em lấy giới cấm chữ Kiêu [trừ bỏ kiêu ngạo] là ưu tiên hàng đầu.

Tăng Quốc Phiên trong nỗ lực giới kiêu giới ngạo, đã có không ít kinh nghiệm. Đương thời trên quan trường, cả Bành Ngọc Lân và Tăng Quốc Thuyên đều là những tướng tài hiếm có; hai người, một người đảm nhiệm tướng lĩnh Thủy sư, người kia là tướng lĩnh Lục sư của Tương quân. Bành Ngọc Lân (tự Tuyết Cầm) là tri kỷ tâm giao của Tăng Quốc Phiên, còn Tăng Quốc Thuyên là em ruột của ông. Hai vị tướng của Tương quân này có phong cách hành sự bất đồng, do đó hay bất hòa với nhau, hiềm khích càng ngày càng sâu, đã đến mức khó có thể tâm đầu ý hợp. Tăng Quốc Thuyên viết thư trách móc với huynh trưởng, bài xích Bành Tuyết Cầm ứng xử tỏ vẻ câu nệ thái quá, nói mắt ông ta có thể nhìn xa ngàn dặm, nhưng lại không thấy được lông mi của mình, rằng bất luận là giọng nói hay dung mạo, biểu hiện đều như thể “người khổng lồ xa cách ngàn dặm”, ý nói Bành Tuyết Cầm ngạo mạn khó gần. Tăng Quốc Phiên hồi đáp nguyên đệ: “Sự cao ngạo của Tuyết Cầm, Tuyết Cầm tự mình không biết. Còn ứng xử của nguyên đệ, e rằng cũng cao ngạo không kém, chỉ có là bản thân không tự biết thôi.”

Ông dẫn ra hai ví dụ cho điều này. Vào mùa đông năm Hàm Phong thứ 7, Tăng Quốc Phiên oán trách Lạc Văn Kỳ (Lạc Bỉnh Chương) đối đãi với mình quá khắc nghiệt. Em trai của ông, Tăng Quốc Hoa nói với ông: “Sắc mặt của ca ca, cũng thường khiến người ta khó mà chịu nổi.” Vào mùa xuân năm Hàm Phong thứ 11, Phùng Thụ Đường cực kỳ oán hận Trương Bạn Sơn, nói ông ta là kẻ kiêu ngạo. Tăng Quốc Phiên nói với nguyên đệ, sắc mặt của chính Thụ Đường lúc đó cũng như thể “người khổng lồ cách xa ngàn dặm”, rất ngạo mạn. Tăng Quốc Phiên lấy bản thân mình và Thụ Đường làm ví dụ, hy vọng nguyên đệ minh bạch, khi em trai đang trách cứ Bành Tuyết Cầm ngạo mạn, có thể là bản thân cũng không tự ý thức được rằng trên sắc mặt của mình cũng biểu hiện một sự ngạo mạn như vậy, đều là bản thân không tự mình nhìn thấy mà thôi. 

Tâm lý của một người thường là “dĩ ngạo lăng vật, dĩ thử tự thị” – lấy ngạo mạn lăng mạ người, dùng nó để tự ra vẻ; điều này liền được phản ánh ra dung mạo bên ngoài. Tăng Quốc Phiên đã minh bạch được điểm này, từ năm Hàm Phong thứ 8 trở đi, ông nỗ lực trừ bỏ kiêu ngạo và lười biếng: “Giới Kiêu, lấy không la mắng người hầu của mình làm ưu tiên; Giới Nọa (kiêng lười biếng), lấy không ngủ dậy muộn làm ưu tiên.” Tăng Quốc Phiên  khích lệ bản thân gắng gỏi, không được quên quang cảnh lúc nhỏ từng bán rau tại thành Tương, cũng nhắc nhở các em không được quên cảnh từng kéo xe bia tại vũng Trúc Sơn. Trước kia, huynh đệ họ Tăng đã từng rất kham khổ; tại nơi thế gian thế sự vô thường, làm sao có thể biết rằng tương lai mình sẽ còn không đau khổ?

Thân tại nơi phú quý, nếu không biết khiêm nhượng, đối xử với người khác kiêu ngạo và độc đoán, sẽ trong vô ý mà chôn sâu cái gốc của tai họa. Câu chuyện sau đã được ghi lại trong “Nhan Thị gia huấn“:

Vào thời kỳ Bắc Tề, Thái tử Cao Vĩ và Lang Da vương Cao Nghiễm là anh em đồng bào, cùng một mẹ. Lang Da vương tư chất thông minh thiên phú, lại vô cùng dũng vũ, tài trí và kiến ​​thức của ông ta thời bấy giờ không ai có thể sánh kịp. Cả Vũ Thành Đế và Hồ Hoàng hậu đều rất sủng ái ông ta, cho phép ông ta ăn mặc tiêu chuẩn tương đương anh trai Thái tử. Đãi ngộ mà ông ta được hưởng không chỉ vượt quá tiêu chuẩn mà còn vượt qua các vương gia khác. Lang Da vương lúc nhỏ không nhận thức được địa vị của bản thân mình, ngay cả sau khi Thái tử ca ca lập vị hoàng đế, ông ta vẫn kiêu ngạo và phóng túng, không có chút tiết chế. Đồ dùng, trang phục, trang sức ông ta sử dụng phải tương đương với Hoàng đế ca ca, hoàn toàn không có sự phân biệt vua tôi. Một ngày nọ, ông ta nhìn thấy một quả mận chín mọng đóng trong khối băng tại Nam cung, đã mắng mỏ ngay tại triều: “Anh trai tôi đã có, vì sao tôi không có?” Lang Da vương muốn liền đòi, có một số triều thần thì thầm, chỉ trích ông ta giống như Thúc Đoạn, Châu Hu thời Xuân Thu. Do tể tướng Hòa Sĩ Khai và Hồ Thái hậu tư thông, uế loạn hậu cung, Lang Da vương nhân tiện giả truyền Thánh chỉ xử trảm Hòa Sĩ Khai. Mặc dù Hòa Sĩ Khai không đắc nhân tâm, nhưng Hoàng đế Cao Vĩ lúc đó đã không xử phạt ông ta, mà trảm Lang Da vương vì tội khi quân (khinh nhờn vua). “Nhan Thị gia huấn” lấy Lang Da vương làm gương, như một ví dụ để giới kiêu, trừ bỏ tính kiêu ngạo.

Tăng Quốc Phiên lấy sử làm gương, cẩn thận tuân thủ. Mặc dù chức cao quyền trọng, ông thân tại cực phẩm, nhưng đãi nhân xử thế luôn như đi trên băng mỏng. Ông không muốn những tử đệ trong gia tộc mình bị nhiễm thói kiêu ngạo và dâm dật, mà từ đó dẫn đến những tai họa không thể lường trước được.

Tư liệu tham khảo:

  • “Tăng Quốc Phiên gia thư”
  • “Bắc Tề thư” tập mười hai
  • “Tăng Quốc Phiên toàn thư”, trang 216-217
  • “Sử cảo nhà Thanh”, tập 405 

Tác giả Tống Bảo Lam – The Epoch Times
Hương Thảo biên dịch

Từ Khóa: