Hiện nay chúng ta gọi những người làm kinh doanh là ‘thương nhân’ (商人) hoặc ‘thương gia’, nhưng chữ ‘Thương’ là lại là tên triều đại Trung Quốc cách đây hơn 2500 năm. Vậy triều Thương có đặc điểm gì giống với ‘thương nhân’?

Trong chương trình ‘Sử hải dương phàm‘ (史海揚帆: biển sử giương buồm) thuộc kênh Youtube ‘Thiên Lượng thời phân’ đăng ngày 25/1/2020, nhân dịp đầu năm Canh Tý 2020, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã chia sẻ lịch sử tiền tệ đồng thời có giải đáp vấn đề trên như sau.

Trong dịp Tết Nguyên Đán, ngoài việc chúc nhau sức khoẻ, bình an, người ta hay chúc thêm là ‘cung hỷ phát tài’, cho nên Giáo sư Chương muốn nói chuyện một về… tiền. Thời Trung Quốc cổ đại gọi tiền là tiền tệ, còn tiền là cách gọi tương đối thông tục (phổ thông) của người dân.

Giáo sư Chương nói một chút về lịch sử diễn biến phát triển của tiền thời Trung Quốc cổ đại.

Tiền tệ thời nhà Thương: vỏ sò biển sâu

Tiền tệ xuất hiện sớm nhất ở Trung Quốc là ‘tiền vỏ sò’ (bối tệ: 貝幣). Cái gọi là ‘tiền vỏ sò’ chính là lấy vỏ sò để làm tiền tệ. Loại ‘bối tệ’ này được phát hiện lượng lớn vào thời nhà Thương (商). Vương triều nhà Thương là một vương triều rất kỳ lạ, mang đầy cảm giác thần bí.

Tiền vỏ sò chụp từ Tiếu đàm phong vân phần 2 tập 2: Đế quốc hồng nghiệp.

Thời đó triều Thương rất chú trọng tế tự (tế lễ thờ cúng), còn rất thích ‘có việc gì thì hỏi Thần’. Người triều Thương hầu như mỗi khi làm đại sự như: gieo hạt, săn bắn, chiến tranh v.v. đều muốn hỏi Thần một chút. Họ hỏi như thế nào? Họ lấy mai rùa hoặc là xương bò đem thiêu trong lửa. Bởi vì sau khi thiêu những thứ trên bị nứt, nên căn cứ theo những vết/hoa văn thu được mà tiến hành giải thích rốt cuộc ý của Thần là gì.

Triều Thương đem rất nhiều kết quả chiêm bốc (占卜: xem bói) khắc trên mai rùa hoặc xương bò. Do đó văn tự khắc trên mai rùa (quy giáp – 龜甲) hoặc trên xương thú (thú cốt – 獸骨) gọi là ‘Giáp cốt văn’. Giáp cốt văn trong tiếng Anh gọi là Oracle. Chúng ta biết Oracle hiện nay là công ty dữ liệu lớn (công ty database), còn ý nghĩa từ Oracle trong tiếng Trung là ‘Thần dụ’ (神諭: chỉ dụ của Thần), tức khải thị của Thần cho con người. Triều Thương đối với quỷ thần dường như có mối liên hệ rất mật thiết.

Triều Thương dời đô rất nhiều lần, cuối cùng định đô tại An Dương, hiện nay là phần phía bắc của tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ở An Dương có Ân Khư (殷墟: tàn tích của nhà Thương Ân) đã đào được rất nhiều văn vật triều Thương. Trong những văn vật khai quật được, thì ở trong mộ của người phụ nữ tên là Phụ Hảo (1) đã phát hiện hơn 6000 vỏ sò, hơn nữa số vỏ sò này là vỏ sò biển sâu.

Mai rùa mà triều Thương dùng để chiêm bốc có một chủng từ bán đảo Malaysia. Điều này nói rõ rằng, kỹ thuật hàng hải của người nhà Thương thời đó vô cùng phát triển, họ có thể đến vùng biển sâu để lấy vỏ sò, đến Malaysia để bắt rùa. Các nhà khảo cổ còn khai quật được xương cá voi (sinh vật ở biển sâu) vào triều Thương.

Triều Thương tuy là quốc gia ở trong đất liền, đô thành ở An Dương tỉnh Hà Nam nhưng kỹ thuật tạo thuyền và hàng hải vô cùng phát triển. Bởi vì vỏ sò dù sao cũng rất khó kiếm được, cho nên triều Thương dùng vỏ sò để làm tiền tệ.

Chúng ta biết rằng chữ Trung Quốc là biểu âm biểu ý, rất nhiều chữ Trung Quốc cổ đại mà liên quan đến tiền đều có chữ ‘bối’ (貝: vỏ sò). Ví như ‘thưởng tứ’ (賞賜: ban thưởng) thì cả hai chữ đều có bộ Bối, chữ Thưởng – 賞 có bộ Bối ở dưới, còn chữ Tứ – 賜 có bộ Bối bên trái. 

Chữ Quý – 貴 (trong Phú quý – 富貴) có bộ Bối ở dưới. Chữ Phú – 賦 (trong Phú thuế – 賦稅) là một loại thuế phải đóng thì bên trái có bộ Bối. Chữ Bần – 貧 (trong Bần cùng – 貧窮) có bộ Bối ở dưới. 

Khi tạo chữ thời cổ đại, những chữ liên quan đến tiền đều mang bộ Bối – 貝 (vỏ sò), thuyết minh rằng thời đó xác thực dùng vỏ sò làm tiền tệ.

Chữ Bối – 貝 là vỏ sò. Ảnh chụp từ cuốn ‘Tìm về cội nguồn chữ Hán’ của Lý Lạc Nghị.

Triều Chu ‘lấy vật đổi vật’ và xuất hiện một ít tiền đúc

Chúng ta biết rằng triều Thương là viễn dương hàng hải, mà viễn dương hàng hải làm việc gì? Vào thế kỷ 15 đến thế kỷ 16 là thời đại của ‘đại hàng hải’. Ví như chuyến đi của Vasco da Gama, Colombo phát hiện ra đại lục mới; hay Ma-gien-lăng đi vòng quanh thế giới v.v. đều xảy ra vào cuối thế kỷ 15. Đến đầu thế kỷ 16 cũng trỗi dậy quốc gia hải dương như Hà Lan, Anh Quốc v.v. 

Thời đại ‘đại hàng hải’ trên thực tế là thời đại mà thương mại quốc tế vô cùng phát triển. Do đó kỹ thuật hàng hải của triều Thương ám chỉ rằng người triều Thương rất thích kinh doanh. Hiện nay có có một cách nói đó là: những người làm kinh doanh gọi là ‘Thương nhân’ (商人), kỳ thực là có liên quan đến triều Thương.

Sau khi bị triều Chu lật đổ, triều Thương tiêu mất, không biết vì sao kỹ thuật đóng tàu cũng tiêu mất. Trên thực tế rất nhiều người triều Thương cũng tiêu mất. Sau đó triều Chu lấy một phương thức sinh hoạt xã hội hoàn toàn khác với triều Thương. 

Triều Chu chủ yếu lấy nông nghiệp để lập quốc. Vào đầu triều Chu thực hành ‘tỉnh điền chế’ (井田製: chế độ tỉnh điền). 8 gia đình chiếm hữu 8 miếng đất giống như chữ Tỉnh – 井, ở giữa là ruộng chung, mọi người đến canh tác ở thửa ruộng chung này. 8 miếng đất thuộc về sở hữu chung của 8 nhà, mỗi nhà canh tác một miếng, trải qua vài năm thì hoán đổi một lần. 

Việc sinh hoạt theo phương thức đó đã dẫn đến trao đổi hàng hoá vào thời nhà Chu không phát triển giống như thời nhà Thương. Do đó tiền tệ triều Chu ít hơn nhiều so với triều Thương. Vậy người triều Chu làm kinh doanh như thế nào? Những người triều Chu lấy vật đổi vật, kiểu như lấy những gì sản xuất trên chính mảnh đất của mình để tiến hành trao đổi. Trong Thi Kinh có thể thấy một câu như thế này: ‘Ôm vải đổi lụa’ (bão bố mậu ti – 抱布貿絲). Tình huống này kéo dài mãi đến thời Xuân Thu.

Thời Xuân Thu có rất nhiều giao lưu qua lại giữa các quốc gia, gồm cả việc… hối lộ lấy lòng giữa người với người, nhưng không có tiền thì phải làm thế nào? Vẫn dùng đồ vật, nhưng là thứ quý giá như khối ngọc hoặc ngựa tốt. Giống như chúng ta xem chuyện ‘Mượn đường diệt Quắc’, nước Ngô và nước Quắc bị nước Tấn lừa, thứ mà nước Tấn hối lộ cho quốc vương hai nước là Ngọc và Ngựa. Vì vậy giao lưu giữa các quốc gia với nhau là dựa vào đồ vật.

Tiền tệ triều Thương là tiền vỏ sò, thời đầu nhà Chu rất hiếm thấy tiền bởi vì ‘lấy vật đổi vật’. Còn tiền đúc thật sự xuất hiện trên quy mô lớn là vào thời Chiến Quốc.

Những năm thời Xuân Thu, kỹ thuật đúc đồng đúc sắt tương đối phát triển, nên đến thời Chiến Quốc, nhu cầu mậu dịch (buôn bán, thương mại) dẫn đến việc rất nhiều quốc gia bắt đầu đúc tạo tiền tệ cho riêng mình.

Đương nhiên hình dạng của tiền tệ mỗi nước có khác nhau, có cái hình tròn, có cái hình đao. Thời đó ngoài tiền tệ đúc của các nước, còn có sử dụng hoàng kim, hoàng kim thời đó là chỉ đồng thau. Đến hậu kỳ thời Chiến Quốc chúng ta thường thấy trong truyện nói rằng thưởng 1000 hoàng kim v.v. 

Tiền có hình dạng khác nhau thì bất lợi cho việc giao lưu kinh tế. Ảnh chụp từ Tiếu đàm phong vân phần 2 tập 2: Đế quốc hồng nghiệp.

Đến thời Chiến Quốc, các nước tự đúc tiền. Tiền đúc bằng đồng thường thuộc về ‘hạ tệ’, tức tiền tệ thứ cấp; còn ‘thượng tệ’ là hoàng kim. Đây là tình huống vào cuối thời Chu.

Thời Tần – Hán đến Nguỵ Tấn – Nam bắc triều dùng tiền đúc

Đến thời Tần, Tần Thuỷ Hoàng đã làm một việc đó là thống nhất tiền tệ, trong đó có cả thống nhất hình dạng tiền tệ.

Ông phế bỏ toàn bộ tiền tệ được các nước đúc trước đây, thống nhất thành hình dạng ‘ngoài tròn trong vuông’ (Ngoại viên nội phương – 外圓內方). Từ đó trở đi, tiền xu của Trung Quốc đều mang hình dạng như vậy.

Tiền tệ mà Tần Thuỷ Hoàng đúc tạo lúc đó rất nặng, một đồng nặng ‘bán lượng’ (半兩: nửa lượng). Một Lượng – 兩 nặng 24 Thù – 銖, một Thù nặng từ 2-3g, do đó ‘bán lượng’ (12 Chu) nặng khoảng 24-36g.

Đến thời Hán sơ (đầu thời Hán), tiền tệ phát sinh một số thay đổi. Thời Hán sơ rất kỳ quái, bởi vì từ lúc Lưu Bang khai quốc đến khi Hán Vũ Đế thống nhất quyền đúc tiền quốc gia, đoạn giữa dài 70-100 năm thì dân gian có thể tự đúc tiền. Điều này nghĩa là, nếu trong nhà có một ngọn núi đồng kiểu như Ngô vương Lưu Tị, ông ấy có thể khai thác đồng để đúc tiền. Điều này có vẻ giống như trong nhà có sẵn máy in tiền vậy. Đoạn thời gian ấy xác thực là có thể tuỳ tiện in tiền trong dân gian. 

Còn Hán Văn Đế rất thích một người là Đặng Thông, đã đem những ngọn núi đồng ở đất Ba Thục thưởng cho Đặng Thông, sau đó Đặng Thông đúc tiền ở Tứ Xuyên. Thời ấy tiền nhà họ Đặng, họ Ngô lưu thông khắp thiên hạ. Quốc gia không đúc tiền mà lão bách tính có thể tự mình đúc. 

Đến thời Hán Vũ Đế có một biến hoá quan trọng, đó là quốc gia thu hồi lại quyền in tiền, tất cả tiền do quốc gia thống nhất đúc.

Công nghệ đúc tiền thời Hán Vũ Đế cũng không tốt lắm, nên lúc đầu có rất nhiều người chế tạo tiền giả. Vấn đề này khá phức tạp và toàn bộ quá trình thống nhất tiền tệ Giáo sư Chương đã nói trong Tiếu đàm phong vân phần 2: Tần Hoàng Hán Vũ, nên ở đây không giảng lại.

Sau này Hán Vũ Đế thu hồi tất cả đồng trong thiên hạ, tiếp đó chuyên đúc tiền ở địa phương Thượng Lâm tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tiền này gọi là ‘Ngũ chu tiền’ (五銖錢). ‘Ngũ chu tiền’ này đọc tên biết nghĩa, mỗi bản đồng nặng 5 Chu, nhẹ hơn đồng tiền 12 Chu (nửa lượng) của nhà Tần rất nhiều; nhưng độ tinh khiết, trọng lượng, chất lượng… vô cùng tốt. Điều này làm cho tiền do tư nhân đúc trộm không có lợi nhuận, bởi vì chi phí của họ cũng là 5 Chu, không rẻ hơn được nên không có lợi nhuận; từ đó tránh khỏi nạn đúc trộm.

‘Ngũ chu tiền’ trở thành loại tiền lưu truyền với thời gian dài nhất trong lịch sử Trung Quốc, kéo từ thời Hán Vũ Đế đến những năm đầu triều Đường vẫn còn lưu thông (khoảng hơn 700 năm).

Từ thời Hán đến Nguỵ Tấn – Nam bắc triều: phát lương bằng lương thực

Trên thực tế bắt đầu từ thời Tần, Hán đã có tiền, kéo dài cho đến thời Nguỵ Tấn – Nam bắc triều; nhưng lương của quan viên không phải tiền mà là lương thực. Cho nên, quan viên thời Hán đều có cấp bậc, dùng cách nói hiện tại là cán bộ cấp Tỉnh, cấp Bộ, cấp Cục. Khi đó những quan viên này nói về cấp bậc to nhỏ sẽ nói rằng bao nhiêu bao nhiêu Thạch (石, bính âm đọc là dan4. Đơn vị đo thể tích bằng 100 lít). Đây chính là lương một năm của họ.

Ví như Tam công là Thái uý, Ngự sử đại phu, Thừa tướng, mỗi năm họ được 1 vạn thạch lương thực; vì vậy Tam công còn gọi là ‘trật vạn thạch’ (秩萬石: bổng lộc vạn thạch). Cán bộ cấp tỉnh như Cửu khanh thì lương của họ là 2000 thạch/năm. Xuống dưới nữa thì có 1000 thạch, 800 thạch, 600 thạch v.v. Do đó lương của quan viên thời Hán phát bằng lương thực. 

Đến thời Đông Hán thì phát lương một nửa là lương thực, một nửa là tiền. Ít nhất đến thời Đông Tấn chúng ta thấy lương của quan viên vẫn là lương thực. Đào Uyên Minh có một câu nói rất nổi tiếng là: “Đừng vì năm đấu gạo mà khom lưng”, bởi vì ông làm quan thì lương có 5 đấu gạo (cũng có thể có một phần tiền). Đấu – 斗 là đơn vị đo thể tích, có giá trị bằng 10 lít.

Thời Đường: lụa là ‘thượng tệ’ (tiền tệ thượng cấp)

Triều Tuỳ lúc sơ kỳ vẫn còn lưu hành ‘ngũ chu tiền’. Sau đó việc đúc tiền có một số thay đổi.

Trước thời nhà Đường, tất cả các đồng tiền đều có trọng lượng, ví như Tần ‘bán lượng’, Hán ‘ngũ chu’; nhưng đến triều Đường, Đường Cao Tổ Lý Uyên đúc tiền không ghi trọng lượng. Tiền mà Đường Cao Tổ Lý Uyên đúc gọi là ‘Khai Nguyên thông bảo’ (開元通寶: tiền tệ lưu thông từ niên hiệu Khai Nguyên của Đường Cao Tổ), bên trên không ghi trọng lượng.

Ảnh đồng tiền ‘Khai Nguyên thông bảo’ chụp từ Wikipedia.

Tuy rằng ‘Khai Nguyên thông bảo’ trở thành tiền tệ của triều Đường, trở thành trung gian giao dịch; nhưng ‘thượng tệ’ (tiền tệ thượng cấp) của triều Đường không phải là tiền đồng ‘Khai Nguyên thông bảo’, mà là… lụa/tơ lụa. Khi Hoàng đế triều Đường ban thưởng cho ai đó thường thưởng bao nhiêu bao nhiêu tấm lụa. Do đó ‘tiền’ tiêu vào triều Đường là lụa. Đây là ‘thượng tệ’.

Sau khi Hoàng Sào tác loạn, rất nhiều lụa đã bị thiêu mất trong loạn lạc; cho nên những bài thơ thời Ngũ Đại có viết rằng: “Trong khố lụa là cháy thành tro” (Nội khố thiêu vi cẩm tú hôi – 內庫燒為錦繡灰).

***

Đến thời nhà Tống, tiền tệ lại phát sinh biến hoá. Lúc này xuất hiện tiền giấy, bởi vì buôn bán khi ấy quá lớn, không thể mang cả xâu tiền đi giao dịch. 

Tiền giấy triều Tống lại xuất hiện một số ‘trục trặc’ trung gian. Nhưng nếu hiểu rõ vấn đề này, chúng ta sẽ phát hiện được bản chất của tiền tệ chính là: tín dụng (sự tin tưởng), và giải thích được ‘tiền tệ tín dụng có chủ quyền’ là như thế nào. 

Rốt cuộc sự thể ra làm sao, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích:
(1) Phụ Hảo: Bà là nữ tướng, nữ chính trị gia đầu tiên được ghi chép thành văn khắc trên đồ đồng xanh sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc.