Lại nói, lúc Tuân Tử quay trở về Tề quốc, những hiền sĩ của đời trước như Thuần Vu Khôn, Điền Biền đều đã qua đời, Tuân Tử khi ấy trở thành văn sĩ có trình độ và thành tích cao nhất trong Tắc Hạ học cung, là lão sư (thầy giáo) được tôn sùng nhất…

Tuân Tử đương nhân bất nhượng – tích cực làm những việc nên làm, không nhân nhượng – trở thành người đứng đầu học cung, quản lý tất cả mọi hoạt động nghị luận và dạy học trong học cung.

Phục hưng Tắc Hạ học cung

Dưới sự dốc sức quản lý của Tuân Tử, học viện rộng lớn tráng lệ dần dần khôi phục lại sức sống năm xưa, dưới sự chiêu mộ nhiệt tình của Tuân Tử, những nhân sĩ và học trò đã phân tán trước kia đều quay trở về mảnh đất hạnh phúc này. Tắc Hạ học cung cuối cùng cũng đã được chấn hưng trở lại. Đương nhiên, quốc lực của nước Tề lúc này không thể nào so sánh với thời kỳ cường thịnh năm xưa, cảnh tượng phồn thịnh mấy ngàn người chen chúc trong một học đường cũng một đi không trở lại.

Tuy nhiên, Tắc Hạ học cung dù sao cũng được xây dựng lại, đối với nhân tài như Tuân Tử mà nói, nơi này vẫn là ngôi nhà khiến người ta cảm thấy được an ủi. “Sử Ký” miêu tả thân phận của Tuân Tử ở trong Tắc Hạ là “tam vi Tế tửu”, cũng có nghĩa là ba lần đảm nhận vị trí lãnh đạo của Tắc Hạ học cung. Tục lệ tế tửu (tế rượu) được bắt nguồn từ tập tục uống rượu trong bữa tiệc tiệc tế lễ của người xưa, trước khi mọi người uống rượu cần có một người có địa vị tôn quý nhất trong bữa tiệc nâng rượu lên tế Thần để mở tiệc, vì vậy gọi là “tế tửu”, lệ này sau phát triển thành danh xưng của một chức vụ, đại diện cho người có địa vị cao nhất trong một cơ quan nào đó. Tuân Tử không chỉ tiếp tục phát huy được “bất trị nhi nghị luận”, nghĩa là không đảm nhận chức quan thực tế trong bộ máy nhà nước nhưng vẫn có quyền bàn luận chuyện chính trị, giúp Tề Tương Vương mưu tính sách lược, mà ông còn dùng thân phận tông sư của một học phái để chủ trì hoạt động của Tắc Hạ học cung, đồng thời thiết lập các buổi giảng dạy, truyền thụ tư tưởng Nho gia.

Cứ như vậy lại thêm mười mấy năm trôi qua, Tuân Tử lần thứ hai rời khỏi nước Tề. Đây có lẽ là vì Tề Tương Vương thiếu tầm nhìn xa trong vấn đề chính trị, đối đãi nhân tài thực chất chỉ nuôi chứ không dung, Tuân Tử tuy có lòng cứu nước nhưng lại không có đất dụng võ, bất đắc dĩ lại một lần nữa đi đến nước khác trong lúc bản thân ông đã 62 tuổi. Lần này Tuân Tử đi du thuyết ở khắp nơi, trong quá trình đó ông có đi đến nước Tần ở phía tây, gặp được Tần Chiêu Vương. Nước Tần thông qua sách lược thay đổi pháp luật và viễn giao cận chính, quốc lực đạt đến cường thịnh, nhưng Tuân Tử nhìn ra được nguy cơ tiềm tàng bên dưới cường quốc này, ông dùng đạo lý Nho giáo để khuyên quân thần nước Tần.

Tần Chiêu Vương hỏi: “Nho sĩ không có ích gì cho đất nước đúng không?”, Tuân Tử đáp: “Nho sĩ trên triều đường có thể hoàn thiện triều chính, trong dân gian có thể mỹ hóa phong tục”. Phạm Thư khi ấy đảm nhận chức Tướng quốc của nước Tần hỏi rằng: “Tiên sinh vào nước Tần, đã nhìn thấy cái gì?”, Tuân Tử đáp: “Nước Tần có lợi thế về địa hình, người dân chất phác, bá quan nghiêm túc, Sĩ đại phu thông đạt đạo lý và công bằng chính trực, triều đình xử lý chính vụ không chậm trễ, có thể nói là quốc gia đại trị. Nhưng đáng tiếc, nước Tần không có Nho sĩ, đây là một khuyết điểm”. Lúc này trên dưới nước Tần đều bận rộn chiến tranh xâm lược, tư tưởng của Tuân Tử không được thực thi, vì vậy ông cũng nhanh chóng rời khỏi nước Tần.

Tắc Hạ học cung dần biến mất, tinh hoa văn hóa mãi trường tồn

Năm 265 TCN, vị quân vương cuối cùng của nước Tề là Tề Vương Kiến lên ngôi. Sau đó, Tuân Tử lần thứ ba quay về Tắc Hạ học cung của nước Tề. Anh hùng đã đến tuổi xế chiều nhưng chí lớn vẫn không suy tàn, hoặc có lẽ nước Tề phục quốc thành công khiến Tuân Tử lại nhìn thấy một tia hy vọng lần nữa, ông chuẩn bị vì Nho giáo, vì nước Tề mà cố gắng thêm một lần cuối cùng trong quãng đời còn lại. Lần này ông đi du thuyết tướng quốc nước Tề, giải thích về sách lược cường quốc.

Bố cục “Thập bát học sĩ đồ” vẽ bởi họa sĩ nhà Minh (ảnh: Phạm vi công cộng).


Tuân Tử cho rằng quân thần nước Tề nên “áp đảo khí thế của đối phương, thực hành đạo nghĩa hơn đối phương”. Quân chủ phải đạt được giáo hóa thương dân như con, lễ ngộ hiền tài, thực hành lễ pháp đạo nghĩa, trung tín khiêm nhường; tướng quân cần phải phân rõ thị phi, tiến cử hiền tài, phò tá nước Tề thống nhất thiên hạ. Nếu như không làm được, triều đình sẽ xuất hiện cảnh tượng hậu cung can dự triều chính, gian thần câu kết nắm quyền. Đặc biệt tình thế của nước Tề hiện nay đang thập phần nguy hiểm, phía trước đối đầu với nước Sở vô cùng lớn mạnh, phía sau có nước Yên cường thịnh đang ép sát, phía tây có nước Ngụy hùng mạnh kìm kẹp, phía đông có hai tòa thành trì của nước Sở đang quan sát. Một khi ba nước bắt tay nhau đối phó nước Tề, nước Tề sẽ bị xé thành bốn năm mảnh.

Tuân Tử dựa vào ý nghĩa của Nhân và Lễ trong Nho giáo, phê phán những thiếu sót và bàn luận phương pháp trị quốc. Tuy nhiên nỗi khổ tâm này của ông lại đổi lấy sự nghi kỵ và phỉ báng của người nước Tề. Sử cũ ghi chép rằng: “Người Tề nghi hoặc phỉ báng Tuân Khanh, Tuân Khanh đi đến Sở, Xuân Thân Quân cho ông làm Huyện lệnh Lan Lăng”.

Vị học giả đức cao vọng trọng này hoàn toàn tuyệt vọng đối với chính trị của nước Tề, mới chỉ hơn 2 năm, Tuân Tử lại rời khỏi nước Tề lần thứ ba, đi đến nước Sở một lần nữa. Xuân Thân Quân Hoàng Hiết lúc này đang đảm nhận vị trí Tướng quốc của nước Sở, ông mời Tuân Tử đi đến vùng đất Lan Lăng đảm nhận chức Huyện lệnh. Tuân Tử trải qua những năm cuối đời của mình tại đó, công việc chủ yếu của ông là dạy học và viết sách. Quan trọng nhất là ông đã hệ thống hóa toàn bộ học thuyết của mình, hoàn thành trước tác “Tuân Tử” gồm mấy vạn chữ, để lại di sản văn hóa vô cùng phong phú cho hậu thế.

Một ảnh hưởng quan trọng khác của Tuân Tử đối với hậu thế chính là đào tạo được hai người học trò rất đặc biệt, đó là Hàn Phi và Lý Tư. Hàn Phi tập hợp đầy đủ Pháp, Thuật, Thế trên người, trở thành một nhân vật đại thành tựu của tư tưởng Pháp gia. Lý Tư từ một Khách khanh của nước Tề phụng sự triều đình cho đến khi lên làm Thừa tướng của Tần triều, trợ giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước, lấy chế độ quận huyện thay thế chế độ phân chia đất, xác lập chế độ trung ương tập quyền hơn hai ngàn năm của đế quốc Trung Hoa. Chỉ đáng tiếc là, hai người theo học tư tưởng Nho giáo của Tuân Tử, nhưng cuối cùng lại từ bỏ quan niệm nhân nghĩa căn bản nhất mà thầy mình theo đuổi, đi vào con đường Pháp gia càng đi càng xa. Đây không phải điều mà Tuân Tử muốn nhìn thấy, nhưng ông thực sự đã dùng kiến thức và tài hoa của mình ảnh hưởng hướng đi của lịch sử Trung Hoa.

Vì sự ra đi của Tuân Tử, cuối cùng Tắc Hạ học cung hoàn toàn bước vào giai đoạn suy tàn. Năm 221 TCN, nước Tần diệt Tề, Tắc Hạ học cung cũng theo sự diệt vong của nước Tề mà bước vào điểm cuối cùng của vận mệnh. Tòa thành này lập nên một học cung có lịch sử hơn 150 năm, luôn luôn song hành với chính quyền Điền Tề, không chỉ chứng kiến quá trình hưng vong của Điền Tề, mà còn chứng kiến những sóng gió biến đổi cùng với sự tranh biện và giao lưu của các tư tưởng văn hóa trong toàn bộ thời kỳ Chiến Quốc.

Mặc dù Tắc Hạ học cung không còn nữa, nhưng phong thái học cung của Tắc Hạ chưa bao giờ biến mất. Nó giống như một hạt giống, đi theo lời giảng và trước tác của các vị tiên sinh để truyền bá rộng rãi trong thiên hạ. Trong thời kỳ đầu mới thành lập, nhà Tần đã thiết lập chế độ quan chức gồm 72 tiến sĩ, tương truyền đây chính là sử dụng theo truyền thống của Tắc Hạ học cung. Tiến sĩ Thúc Tôn Thông nổi tiếng nước Tần đã chế định chế độ lễ nghi điển chương trong nhà Hán. Hán Cao Tổ Lưu Bang vì vậy mà phải kinh ngạc tán thán rằng: “Ta hôm nay mới biết sự cao quý của hoàng đế”. Còn Thúc Tôn Thông được phong tặng danh hiệu “Tắc Tự Quân”, đây chính là lời khen dành cho ông vì đã thừa kế dư âm phong thái của Tắc Hạ. Lý tưởng thống nhất thiên hạ và quan niệm nhân nghĩa mà các bậc thầy trong Tắc Hạ học cung theo đuổi cũng đã trở thành hiện thực trong sự nối tiếp của các vương triều thống nhất Trung Hoa.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch