Sau bậc thầy Nho giáo Mạnh Tử, Tắc Hạ học cung đột nhiên xuất hiện một kỳ nhân tên là Trâu Diễn, mang đến một môn học thuyết vô cùng cao thâm. Ông thường xuyên trình bày với mọi người về quan điểm ‘không giống ai’ của mình, thậm chí đôi khi còn khiến người ta cảm thấy kỳ lạ khó hiểu…

Ngôn luận của Trâu Diễn đều đề cập đến đất trời, vũ trụ, nguyên lý vĩ mô về lịch sử thăng trầm, đều là những thứ mà người đời chưa từng nghe nói đến, ví như ông cho rằng:

“Kể từ khi khai thiên lập địa đến nay, xã hội dựa theo quan hệ ngũ hành tương thắng để thay đổi, tuần hoàn, ví dụ Ngu thuộc thổ đức, Hạ thuộc mộc đức, Thương thuộc kim đức, Chu thuộc hỏa đức. Mỗi khi có một triều đại sắp hình thành, trên trời đều giáng xuống điềm lành thông báo cho con người biết”.

“Trung Quốc còn gọi là ‘Xích Huyện Thần Châu’, vào thời Đại Vũ nội bộ phân chia thành Cửu Châu (9 châu); trong thiên hạ còn có 9 vùng đất giống như Xích Huyện Thần Châu, đều bị bao quanh bởi biển lớn. Giữa Châu và Châu, con người và chim chóc muông thú không tương thông”.

Tuy nhiên, những luận điểm của Trâu Diễn lại nhanh chóng trở thành triết học chính trị mà các nước chư hầu đua nhau theo đuổi. Các thế hệ sau tóm tắt những ngôn luận này thành “Ngũ đức chung thủy thuyết” và “Đại Cửu Châu thuyết”. Đồng thời trong lúc này, một học phái thông qua âm dương ngũ hành để suy diễn quy luật vũ trụ đất trời, xã hội con người chính thức được hình thành, đó chính là Âm Dương gia.

Danh sĩ Trâu thị: nhân tài của Tắc Hạ

Như trên đã nói, nhân vật huyền thoại đã sáng lập học phái này chính là Trâu Diễn. Thân thế và cuộc đời của ông cũng bí ẩn giống như học vấn khó thấu triệt của ông vậy. Ngày tháng năm sinh của ông không rõ ràng, Trâu Diễn sống vào khoảng sau thời của Mạnh Tử, phả hệ gia tộc của ông rất khó khảo chứng, chỉ biết ông họ Tử, là hậu thế của Tống Mẫn Công, lấy phong ấp Trâu làm họ, quá trình học tập của ông là một bí ẩn, trong sử sách cũng chỉ có vài dòng ghi chép giản lược.

“Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ” vẽ bởi Matteo Ricci vào thời nhà Minh (Phạm vi công cộng).

Tuy nhiên, Trâu thị có rất nhiều danh sĩ, họ ở nước Tề có thể nói là nổi bật một thời, vang danh khắp thiên hạ. “Sử Ký” có câu nói “Tam Trâu Tử”, sớm nhất là Trâu Kỵ, cũng chính là tướng quốc Trâu Kỵ được nhắc đến trong bài viết kỳ trước, rất giỏi trong việc thuyết phục Tề Vương, và thông qua cải cách để chấn hưng nước Tề; tiếp theo là Âm Dương gia nổi tiếng Trâu Diễn; cuối cùng là một vị tên Trâu Thích, người này thừa kế học thuyết của Trâu Diễn, sáng tác và đề xuất chủ trương học thuyết của mình.

Trâu Diễn và Trâu Thích đều từng làm tiên sinh trong Tắc Hạ học cung, nước Tề lúc bấy giờ lưu truyền một câu nói: “Đàm thiên Diễn, điêu long Thích, chích cốc quá Khôn”. Có nghĩa là Trâu Diễn thích bàn luận những nguyên lý huyền diệu của vũ trụ, Trâu Thích thích trau chuốt ngôn từ, học thuyết của Thuần Vu Khôn thì trôi chảy và thú vị. Trâu Diễn có thể được xếp ngang hàng với tướng quốc Trâu Kỵ cùng Tắc Hạ nguyên lão Vu Thuần Khôn, tài trí và sức ảnh hưởng của ông chắc chắn là vô cùng xuất chúng.

Theo như “Sử Ký” và “Diêm Thiết Luận” ghi chép, lúc đầu Trâu Diễn sử dụng Nho giáo để du thuyết chư hầu, không được trọng dụng. Sau vài lần bị từ chối, Trâu Diễn phát hiện những nhà cầm quyền đương thời ngày càng xa xỉ, không còn thực hiện chính sách nhân đức, không cách nào nghiêm khắc với bản thân và thúc đẩy người dân giống như những yêu cầu trong sách cổ, vì thế ông chuyển sang nghiên cứu quy luật âm dương tiêu trưởng của sự vật, sự biến hóa trong quá trình thay đổi thăng trầm của lịch sử, viết ra hai bài  “Chung Thủy” và “Đại Thánh”, tổng cộng hơn 100 ngàn từ. Trong thời kỳ của Tề Tuyên Vương, Trâu Diễn du học tại Tắc Hạ học cung.

Tổ tiên của Trâu Diễn từ nước Trâu di dời đến nước Tề, vào thời kỳ Tiên Tần, văn hóa của nước Trâu và nước Lỗ vốn dĩ là một thể thống nhất, là nơi sản sinh ra Nho giáo, Trâu Diễn lại sinh ra sau thời của Mạnh Tử, đương nhiên là chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, thời trẻ ông là một Nho sinh (học trò theo tư tưởng Nho giáo). Mà vấn đề ông gặp phải cũng không khác gì Mạnh Tử, “thiên hạ đang trong tình cảnh hợp tung liên hoành, xem tấn công và thảo phạt là tài năng”. Khi đó các nhân vật hoạt động tích cực trong giới chính trị và nổi tiếng trong các nước chư hầu gồm có Pháp gia Thương Ưởng, Binh gia Điền Kỵ, Tung Hoành gia Tô Tần… bởi thế, các bậc danh sĩ Nho giáo đề cao quan niệm đạo đức của ba đời thượng cổ, thúc đẩy học thuyết chính trị nhân nghĩa và vương đạo thường rất khó được chư hầu trọng dụng.

Đối mặt với hoàn cảnh khó khăn của Nho giáo khi không có đất dụng võ, sách lược của Khổng Mạnh là lui về viết sách, dùng hết khả năng để tiếp tục lưu truyền lý tưởng Nho giáo, chờ đợi thời cơ trong tương lai. Cách làm của Trâu Diễn khá là đặc biệt, nếu như đạo lý của con người và sự việc không thể nào đả động được chư hầu, vậy thì mở rộng tầm nhìn, khám phá bản chất của thế giới, sự hình thành của vạn vật trong đất trời bao la vô tận và trong lịch sử xa xôi lâu đời, từ đó nắm bắt được đạo lý trị quốc của đương thời. Cuối cùng, Trâu Diễn đã đạt được thành tựu to lớn trong môn học âm dương ngũ hành, sáng lập ra học phái Âm Dương gia.

Sự vận hành của âm dương thuộc về nhân nghĩa

Tư tưởng âm dương ngũ hành đã xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa từ rất lâu đời, nhưng trước thời kỳ Chiến Quốc, chỉ có một vài ghi chép ít ỏi trong sách cổ. Âm Dương gia bắt nguồn từ nơi đâu? “Hán Thư – Nghệ văn chí” ghi chép: “Âm Dương gia thịnh hành, hơn cả chức quan Hi Hòa”. Hi Hòa là vợ của Đế Tuấn trong truyện thần thoại, sinh ra 10 mặt trời. Dựa theo quy luật thời gian, mỗi ngày Hi Hòa sẽ sắp xếp mặt trời thay phiên nhau mọc lên từ phía đông và lặn ở phía tây, vì vậy nhân gian mới có sự thay đổi ngày đêm. Dựa theo chức năng đặc biệt của Hi Hòa, chức quan Hi Hòa chính là một chức quan chuyên quan sát nhật nguyệt tinh tượng, chế định lịch ngày tháng năm. Giống như trong “Nghiêu Điển” của Hán Thư có nói: “Đảm nhiệm chức quan Hi Hòa, khâm phục và tuân theo vũ trụ bao la, suy đoán sự vận hành của nhật nguyệt và ngôi sao, nghiêm túc ghi nhớ quy luật vận hành của vũ trụ để chế định khuôn phép cho dân làm theo”.

“Thiên văn toàn đồ” lấy từ “Khâm định thiên văn chính nghĩa” (Phạm vi công cộng)

Chức quan này nắm giữ lịch thiên văn, không chỉ có liên quan đến các thông tin của nông nghiệp và tế lễ, mà còn thông qua sự biến đổi thiên tượng để dự đoán vận thế hung cát, nắm giữ học vấn huyền diệu cổ xưa, có thể giao tiếp với trời và người, vì vậy địa vị vô cùng quan trọng. Thời xưa học tập trong quan phủ, những kiến thức về âm dương ngũ hành cũng được truyền thụ liên tục giữa các đời quan viên. Khi lễ nhạc bị hủy hoại, những quan viên này thất trách, họ lưu lạc trong dân gian, kiếm sống bằng công việc mại nghệ, từ đó khiến việc học tư thục và bách gia tư tưởng càng thêm thịnh vượng. Tuy nhiên, trong số những quan viên Hi Hòa ở dân gian chưa từng xuất hiện nhân vật tiêu biểu hoặc trước tác kinh điển nào, học thuyết âm dương ngũ hành trở thành một nhà được bắt nguồn từ Trâu Diễn.

Điều đáng tiếc là những trước tác của Trâu Diễn hầu hết đều bị thất lạc, tư tưởng chính của ông chỉ được tổng kết trong “Sử Ký”. Phương pháp nghiên cứu của ông là từ nhỏ đến lớn, từ gần cho đến xa vô cùng. Về mặt thời gian mà nói, ông từ thời hiện tại quay ngược về đến thời của Hoàng Đế, ông chi chép những hung cát và sự hưng suy của các thời đại khác nhau, rồi tiếp tục đi đến thời điểm khai thiên lập địa và thậm chí là trời và đất còn chưa xuất hiện, Tư Mã Thiên cũng phải cảm thán rằng: “xa xôi rộng lớn không thể khảo chứng mà tìm ra lúc ban đầu”. Về mặt không gian, đầu tiên Trâu Diễn bắt đầu tại vị trí “Trung Quốc”, liệt kê ra các ngọn núi nổi tiếng, những dòng sông lớn, kỳ trân dị thú, không có thứ gì không được bao quát, rồi đề xuất Cửu Châu của Trung Quốc chỉ là “tiểu Cửu Châu” trong tư tưởng Nho giáo mà thôi, bên ngoài Trung Quốc là biển lớn, bên ngoài biển còn có đại lục giống như Trung Quốc, tức “Đại Cửu Châu”.

Những triết học này đối với con người mà nói không khác gì là phá vỡ mê cung, tiết lộ ra vài phần chân tướng trong các tầng không gian. Vì vậy, vương công đại thần lúc đầu nghe Trâu Diễn nói, không ai là không kinh ngạc, nhưng lại cảm thấy bất lực nếu muốn thực hiện chủ trương của ông. Thật ra, Trâu Diễn bàn luận chuyện đất trời vũ trụ không phải là vì muốn có được danh tiếng, mà là vì “cuối cùng quy kết đến nhân nghĩa tiết kiệm, và thực hiện trong quân thần và lục thân”. Ông nghiên cứu Âm Dương học là một sách lược đi đường vòng, thông qua những quan điểm kỳ quái ngoài mặt, thực chất là hàm chứa ngôn luận rất phong phú, hy vọng chư hầu có thể tỉnh ngộ, từ chính trị bá đạo chuyển sang vương đạo lấy nhân nghĩa làm gốc.

Nếu như lịch sử thế giới đã xa xôi đến vậy, không gian rộng lớn đến vậy, kẻ chấp chính cần gì nóng vội trong một lúc, tranh giành thắng lợi trong một lúc, âm mưu đấu đá, toan tính cái được mất của một thành một trì làm gì chứ? Nếu như mỗi một triều đại đều dựa theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc để biến đổi và phát triển, các lộ chư hầu nếu muốn có được thiên hạ, đầu tiên cần phải tự kiểm điểm bản thân xem đã phù hợp với cái đức của ngũ hành chưa? Có thể có được điềm báo của ông trời hay không, rồi mới đưa ra lựa chọn chính nghĩa… Nhưng trên thực tế chư hầu đều tấn công và chinh phạt lẫn nhau dưới sự thúc giục của tham vọng, vậy chẳng phải là nực cười và đáng buồn hay sao? Quy luật vận hành âm dương của Trâu Diễn liên quan đến thiên hạ đại sự, siêu việt những vấn đề của thế gian, vì vậy chư hầu đều nhiệt tình theo đuổi, nhưng cuối cùng vẫn không thể biến nó thành hiện thực.

Tắc Hạ điêu tàn, bỏ Tề đến Yên

Lý luận của Trâu Diễn không chỉ bao gồm nội dung của Nho giáo mà còn có thể nhìn thấy bóng dáng của các học thuyết khác như Đạo giáo, Pháp giáo. Tắc Hạ học cung vốn dĩ là trung tâm giao lưu và dung hòa các học phái với nhau, Trâu Diễn là Tắc Hạ tiên sinh, về phương diện biện luận hoặc nghiên cứu học tập ít nhiều cũng sẽ bị những học thuyết khác ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp. Vào lúc ông đang rất nổi bật trong Tắc Hạ, chính quyền Điền Tề truyền vào tay của quốc vương đời thứ sáu, tức Tề Mẫn Vương. Tề Mẫn Vương nối tiếp lý tưởng tranh bá thiên hạ của Tề thị, dẫn dắt quần thần đưa quốc lực của nước Tề lên đỉnh cao. Tuy nhiên Tề Mẫn Vương cố chấp tự mãn, đố kỵ nhân tài, cả đời thăng trầm, nước Tề về sau cũng vì ông mà gần như diệt vong.

“Phòng Vương Duy tuyết khê đồ” vẽ bởi họa sĩ Lam Anh của nhà Minh (Phạm vi công cộng)

Tề Mẫn Vương quanh năm vắt kiệt binh lực, tùy ý phát động chiến tranh, tạo thành gánh nặng to lớn cho nước Tề. Ông ganh ghét nhân tài, bức ép một trong Chiến Quốc tứ công tử là Mạnh Thường Quân bỏ đi. Ông thiếu khí chất phong độ để lắng nghe lời khuyên của thần tử và trọng dụng nhân tài, ông không nghe những lời khuyên chân thành của Tắc Hạ tiên sinh. Các danh sĩ trong Tắc Hạ vô cùng thất vọng, họ cũng bỏ đi như Mạnh Tử, mỗi người đi về một hướng, trong đó bao gồm Trâu Diễn. Mất sự phò tá của hiền thần và mưu sĩ, nước Tề bắt đầu bước vào giai đoạn suy yếu.

Nhìn khắp thiên hạ trong thời Chiến Quốc, bảy nước chư hầu lớn mạnh cùng xưng bá, hai bên đông tây Tề Tần tranh bá. Tề Mẫn Vương nhiều lần đưa ra quyết sách sai lầm, khiến nước Tề rơi vào tình cảnh bốn bên đều có kẻ địch bao vây, cô lập một mình không có sự trợ giúp. Năm Tề Mẫn Vương thứ 15 (năm 286 TCN), nước Tề thôn tính nước Tống, uy thế cực kỳ hùng mạnh. Nước Tống kinh tế phát triển, lại là mảnh đất tứ chiến, là mảnh đất mà các nước chư hầu dòm ngó. Việc làm này của Tề Mẫn Vương khiến các nước kiêng dè, nếu để lãnh thổ nước Tề mở rộng, cuộc chiến Tề Tần là điều không thể tránh khỏi, lại cộng thêm nước Yên một lòng muốn báo thù, nước Tề bề ngoài thì vẻ vang nhưng thực chất là đang rơi vào tình cảnh nguy cơ trùng trùng.

Hai năm sau, đại tướng Nhạc Nghị với tư cách là thượng tướng quân, thống lĩnh liên quân sáu nước công đánh Tề, liên tục chiếm được 72 tòa thành, trực tiếp tiến thẳng về Lâm Tri. Quân Tề bại trận như núi đổ, Tề Mẫn Vương chết một cách thê thảm trong lúc đang bỏ trốn. Nước Tề gần như diệt vong, Tắc Hạ học cung từng khiến người trong thiên hạ phải ngưỡng mộ cũng trở nên ảm đạm điêu tàn trong chiến tranh. Trong lúc nước Tề xảy ra đại nạn như vậy, Trâu Diễn đã đi đâu?

Theo “Sử Ký” ghi chép, Trâu Diễn từng du lịch đến các nước như Ngụy, Triệu và Yên. Mỗi lần đến một nước, ông đều được quốc vương của nước đó kính trọng và tiếp đãi chu đáo. Lương Huệ Vương của nước Ngụy đích thân ra ngoài ô để nghênh đón ông, thi hành lễ chủ khách với ông. Bình Nguyên Quân của nước Triệu cúi người một cách cung kính đi bên cạnh ông, còn đích thân giúp ông phủi bụi ở chỗ ngồi. Yên Chiêu Vương của nước Yên thì dùng lễ nghi đệ tử đối với ông, cong lưng cúi người dùng chổi quét sạch đường đi để dẫn đường cho ông, còn xây cung điện cho ông, thể hiện thành ý chiêu mộ nhân tài to lớn nhất, vì vậy mà thời gian Trâu Diễn ở lại nước Yên lâu hơn.

Trong sách cổ còn ghi chép hai câu chuyện kỳ lạ của Trâu Diễn khi ở nước Yên: Nước Yên có một thung lũng lạnh giá gọi là Hàn Cốc, nơi đó không trồng được ngũ cốc, Trâu Diễn thổi tấu Luật Quản (1 loại nhạc cụ cổ truyền của TQ), khiến mùa xuân về trên mặt đất, Hàn Cốc cũng có thể trồng trọt hoa màu, đổi tên thành “Thử Cốc”. Từ quan điểm âm dương cho thấy, luật thuộc âm thanh dương, trong tay của Âm Dương gia Trâu Diễn lại càng có sức mạnh siêu phàm, làm thay đổi được cả thời tiết của bản địa.

Trâu Diễn ở nước Yên luôn được mọi người tôn sùng, nhưng cảnh ngộ của ông đã thay đổi trong thời kỳ của Yên Huệ Vương – sau thời của Yên Chiêu Vương. Yên Huệ Vương không tín nhiệm các thần tử cũ của tiền triều, nghe theo lời xúi giục của kẻ xấu, cuối cùng bắt Trâu Diễn nhốt vào nhà lao. Trâu Diễn hàm oan chịu nhục, ông ngước mặt lên trời gào khóc, Trâu Diễn lòng đầy bi thương và phẫn nộ một lần nữa đã khiến ông trời cảm động. Lúc đó đang là tháng 5, nhưng trên trời lại rơi xuống những bông tuyết to bằng lông ngỗng, trở thành một chuyện vô cùng kỳ lạ trong kinh đô nước Yên.

Đợi khi được rửa sạch oan tình, Trâu Diễn lại một lần nữa quay trở về nước Tề. Nước Tề lúc bấy giờ, quốc vương mới lên ngôi, đất nước đang chờ phục hưng trở lại, Tắc Hạ học cung cũng không còn bộ dạng của ngày xưa nữa. Tuy nhiên Trâu Diễn không có bất cứ sự giao lưu nào với Tắc Hạ học cung, kết cục cuối cùng của ông ra sao cũng không ai hay biết. Ông cùng với Âm Dương học thần bí của mình cứ như vậy mà âm thầm lặng lẽ biến mất khỏi tầm mắt của lịch sử.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch