Truyền thống tìm kiếm nhân tài như khát nước của các quân chủ nước Tề đời trước đã ảnh hưởng đến chính sách của Điền Tề Hoàn Công rất sâu sắc. Sau khi ông lên ngôi chưa lâu, liền ra lệnh xây dựng học viện, bắt đầu triệu tập lại nhân tài trong thiên hạ để tiến hành phục hưng nước Tề. Vậy ‘Tắc Hạ học cung là gì’?…

Khiêm gia thương thương, bạch lộ vi sương. Sở vi y nhân, tại thủy nhất phương (cỏ lau mơn mởn, giọt sương đóng băng. Người đó của tôi, đứng cạnh dòng nước). Trung Hoa thời cổ xưa luôn xem nước là nguồn gốc của sự sống, cũng là nguồn gốc của văn minh. Tại những nơi có sông có nước luôn diễn ra các hoạt động văn nghệ tao nhã vô cùng phóng khoáng và lãng mạn, khiến người ta say mê. Ví dụ như ngâm ca khúc “Thủy điệu” như dòng nước chảy siết, hoạt động “khúc thủy lưu thương” của những thiếu niên, bữa tiệc Khúc Giang của tiến sĩ thi đỗ khoa cử…

“Khúc thủy lưu thương” là một tập tục truyền thống của Trung Quốc thời xưa. Ngày Thượng Tỵ vào mùng 3 tháng 3 âm lịch là một trong những ngày lễ thanh tẩy quan trọng của người Trung Quốc xưa, vào ngày này mọi người thường đi ra sông suối để tắm rửa, sau đó sẽ ngồi ở hai bên dòng suối quanh co, đặt một ly rượu lên chiếc bè nhỏ thả trên mặt nước để nó trôi theo dòng nước, trôi đến trước mặt người nào thì người đó cầm lên uống, mang ý nghĩa tiêu trừ tai họa. Sau này, khúc thủy lưu thương được phát triển thành một hoạt động vui chơi tao nhã của các văn nhân thi sĩ.

Bữa tiệc Khúc Giang hay còn gọi là hội Khúc Giang, Khúc Giang là tên gọi của một hồ nước nằm trong vườn thượng uyển của nhà Đường, vào thời nhà Đường, sau kỳ thi khoa cử, triều đình sẽ tổ chức một bữa tiệc ở bên hồ Khúc Giang để chúc mừng tiến sĩ vừa mới thi đỗ. Sau này bữa tiệc Khúc Giang được phát triển thành “hội thơ” cho những thi nhân ngâm thơ sáng tác.

Quay ngược lịch sử trở về vùng ngoại ô phía tây Lâm Truy, năm xưa Lâm Truy là kinh đô của nước Tề và Tiên Tần. Một dòng nước chảy dài dọc theo phía bắc kinh thành đã tạo thành một sân khấu cho hoạt động bách gia tranh minh (bách gia tranh minh hay còn gọi là bách gia chư tử, bách gia chư tử là những triết lý và tư tưởng ở Trung Hoa cổ đại nở rộ vào giai đoạn từ thế kỷ thứ 6 đến năm 221 TCN trong thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc. Đây là thời kỳ hoàng kim của triết học Trung Quốc vì rất nhiều hệ thống triết lý và tư tưởng được phát triển và bàn luận một cách tự do). Một cánh cổng thành biến thành một hàng rào phân Thánh hiền và kẻ phàm tục thành hai thế giới riêng biệt. Nếu như nói bên trong thành là cuộc sống phồn hoa huyên náo của hồng trần nơi kinh đô, thì bên ngoài thành chính là một tòa cung điện tinh thần của sự bay bổng tự do, là một thế ngoại đào viên tách biệt với đời sống thế tục. Nơi đây có những con đường lớn bằng phẳng và rộng rãi, các tòa kiến trúc tráng lệ như cung điện. Nhưng mà điều tuyệt vời nhất chính là nơi đây quy tụ được một nhóm người có trí tuệ bậc nhất trong thiên hạ.

Trong nhóm người này, người có địa vị cao quý được gọi là “tiên sinh”. Những tiên sinh ở đây đều đội mũ cao và thắt dây đeo bản to trông rất phong độ và phóng khoáng, ra vào đều ngồi xe đẹp ngựa đẹp, có hàng trăm học trò đi theo. Họ không làm quan và cũng không lao động sản xuất nhưng ánh mắt luôn sáng như một ngọn đuốc, lúc nào cũng quan sát chuyện triều chính, xã tắc và bá tánh. Họ thường nói những lời hay ý đẹp, hoặc là giảng giải học vấn, hoặc biện luận chân lý, hoặc đi khắp nơi thuyết giảng, hoặc sáng tác văn chương, miệng nói lời hay, tay viết chữ đẹp, họ đã cùng nhau tạo ra một khu rừng về học thuật và tư tưởng triết lý của dân tộc Hoa Hạ.

Cánh cổng thành này chính là “Tắc môn” thuộc một trong 13 cổng thành lớn của kinh đô Lâm Truy. Tòa cung điện học thuật và giáo dục này chính là “Tắc Hạ học cung” vang danh ngàn năm. Nơi đây là thánh địa mà các học giả luôn khao khát, là điểm khởi đầu cho tinh thần Trung Hoa thăng hoa. Ngàn năm sau, vẫn có một đại văn hào nhiệt tình ca tụng sự tráng lệ của học viện này: “Xây học viện lớn, cạnh con đường rộng, làm phong phú chuyến du ngoạn của các ẩn sĩ, làm tráng lệ nơi ở của các học giả, đẹp làm sao!” (trích trong “Tắc Hạ Phú” của Tư Mã Quang). Tư duy linh hoạt, tài hoa toàn diện, văn chương xuất sắc cùng với phong thái tao nhã của các vị tiên sinh ở Tắc Hạ chính là di sản văn hóa và đỉnh cao chói lọi ngàn đời.

Thời đại then chốt, chòm sao Song Tử

Tắc Hạ học cung được xây dựng vào khoảng hơn hai ngàn năm trước trong một thời đại khiến ta vô cùng thán phục, các học giả ngày nay gọi thời đại đó là “thời đại then chốt”. Đoạn lịch sử từ năm 800 TCN đến năm 200 CN, trong một số nền văn minh cổ xưa ở phương Đông và phương Tây gần như là cùng một lúc xuất hiện rất nhiều nhà thông thái và Thánh hiền đứng ra sáng lập trường phái tư tưởng của riêng mình, ví dụ như bách gia chư tử của Trung Quốc, các triết gia nổi tiếng như Socrates, Plato, Aristotle và một số học giả khác ở Hy Lạp cổ đại, Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ v.v… Họ sáng lập ra hệ thống triết học và văn hóa tôn giáo độc đáo, mang đến sự đột phá về triết học và sự giác ngộ về tinh thần cho nhân loại.

Bích họa “Trường Athens” (School of Athens), một kiệt tác kinh điển của Raphael (Ảnh: Room of the Segnatura/ The Vatican Museum).

Các trường học cao đẳng lâu đời nhất của nhân loại cũng theo đó mà hình thành: Ở phương Tây, trường Athens đại diện cho tiếng nói của một gia đình được sáng lập bởi các triết gia nổi tiếng. Ở phương Đông, trường học cao cấp lâu đời nhất chính là “Tắc Hạ học cung” được xây dựng dựa trên chính sách nuôi dưỡng nhân tài “thu hút kỳ tài ở ngàn dặm, tổng hợp tư tưởng của trăm nhà” của Tề Tuyên Công.

Tuy rằng bị ngăn cách bởi địa lý xa xôi nhưng hai học viện này giống như chòm sao Song Tử, cùng nhau phóng ra ánh sáng của trí tuệ và đức hạnh chiếu sáng hai đầu của lục địa Á-Âu.

Đây dường như là sự trùng hợp của vận mệnh, hoặc là sự sắp đặt có chủ ý của lịch sử. Trong thời đại then chốt xuất hiện toàn những nhân vật nổi tiếng và các sự kiện lớn mang ý nghĩa văn hóa nền tảng, khiến nền văn minh của nhân loại trong giai đoạn đầu đã bước lên một đỉnh cao mà những thời đại khác khó có thể vượt qua. Xưa nay ý Trời vẫn luôn rất vi diệu và khó đoán, chúng ta chỉ có thể không ngừng tán thán và kinh ngạc đứng trước nền văn minh vĩ đại của nhân loại mà thôi.

Tên gọi của hai học viện này biểu hiện ra hiệu ứng đối ngẫu một cách thần kỳ, về mặt va chạm tư tưởng, xung đột ngôn ngữ, các phương diện về nghiên cứu học thuật và khám phá vũ trụ, cả hai đều có điểm tương đồng một cách rất tự nhiên. Bởi vì bối cảnh văn hóa, hoàn cảnh xã hội không giống nhau nên chúng cũng có những đặc điểm riêng biệt của mình.

Trường Athens là một khái niệm tổng thể, là một trường tư thục được sáng lập bởi các nhà hiền triết của Hy Lạp, nó giống sân khấu văn hóa độc đáo và ngôi nhà tâm linh hơn, trong đó nổi tiếng nhất là Academy của Plato và Lyceum của Aristotle. Mục đích thành lập trường học của họ chủ yếu là muốn tìm kiếm người kế thừa những kiến thức của mình, để đảm bảo cho sự tiếp nối và phát triển của trường học. Plato và Aristotle vốn dĩ là hai thầy trò, do kiến thức được kế thừa và phát triển vượt bậc, vì vậy cuối cùng Aristotle đã tự thành lập trường phái mới của riêng mình, ông trở thành cha đẻ của một trường phái mới.

‘Tắc Hạ học cung’ là trung tâm học thuật được nước Tề hào phóng đầu tư cho nhân tài trong thiên hạ, kể từ khi được thành lập nó đã được định sẵn là một sự sáng tạo trước nay chưa từng có. Nó tập hợp những hiểu biết về chính trị, giáo dục, và các kiến thức học vấn khác tại một chỗ, dựa trên tấm lòng bao dung cực kỳ to lớn, nó đã quy tụ được những nhân tài kiệt xuất nhất trong thời Chiến Quốc. Các nhân vật đại diện cho các trường phái tư tưởng khác nhau đều có thể đến đây sáng tác và thuyết giảng, tập trung học trò để giảng dạy, thuyết giảng chủ trương chính trị của mình. Học giả của các nước đến đây đều được tự do đi theo một người thầy mà mình ngưỡng mộ, trở thành học sĩ (học sinh) của Tắc Hạ, tập trung vào nghiên cứu học thuyết của các trường phái và khám phá tiềm năng lớn nhất của bản thân trong quá trình không ngừng học tập.

Trong Tắc Hạ học cung có những thầy trò học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau, có những người bạn tri âm cùng chung tư tưởng và chí hướng, cũng có những đối thủ ngang tài ngang sức khó phân biệt cao thấp. Họ tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, thể hiện một thời kỳ văn hóa như biển lớn dung nạp trăm sông của nước Tề, cùng với cảnh tượng phồn thịnh của sự quy tụ nhân tài trong thời kỳ Chiến Quốc. Các tiên sinh trong Tắc Hạ học cung vừa là những bậc thầy văn hóa vừa là các chính trị gia nhiều mưu lược, với lòng biết ơn sâu sắc, họ dùng kiến thức thực tế về trị quốc bình thiên hạ của mình để báo đáp lại quốc gia một cách vô vị kỷ, họ cùng nhau tạo dựng một chính quyền vững mạnh và tạo nên phong thái của một thời đại.

Nằm giữa biển và núi, sóng gió của nước Tề

Chúng ta cùng quay trở về thời gian và không gian của Trung Quốc cổ xưa, Hạ Tắc học cung cũng được sinh ra trong thời kỳ sóng gió hỗn loạn. Vương thất suy yếu, văn hóa và trật tự xã hội bị phá hoại, chư hầu tranh giành bá chủ, chiến tranh diễn ra khắp nơi. Sống trong thời kỳ hỗn loạn của những cuộc tranh giành giữa các anh hùng, quân vương các nước đều mang tham vọng lớn, mong muốn xưng bá thiên hạ. Họ ra sức chiêu mộ nhân tài, tích cực tìm kiếm con đường để giúp đất nước trở nên giàu có và lớn mạnh.

Mô hình kinh đô Lâm Truy phục chế, nay thuộc khu Lâm Truy, thành phố Tri Bác, tỉnh Sơn Đông (Ảnh: Rolfmueller/Wikimedia Commons).

Những biến động lớn của thời đại cũng thúc đẩy sự biến đổi trật tự xã hội của vương triều nhà Chu. Trong thời cuộc loạn lạc không yên, các thành phần trí thức sống lệ thuộc vào tầng lớp quý tộc cũng bắt đầu tiếp nhận một nền giáo dục chất lượng tốt, sau đó có được những sở trường riêng, trở thành nhân tài trụ cột mà các nước tranh nhau chiêu mộ. Họ cũng có cơ hội qua lại giữa các nước, nhận được sự tán thưởng và tiếp đãi nồng hậu của các quân vương, trở thành nhân vật chủ chốt ảnh hưởng đến vận mệnh quốc gia và xu hướng lịch sử. Thành tựu của họ cũng góp phần làm cho tầng lớp trí thức phát triển nhanh chóng.

Những thành phần trí thức này là nhân tài ưu tú của quốc gia. Mang hoài bão cứu giúp thiên hạ, hoặc theo đuổi giá trị nhân sinh, họ tích cực tìm kiếm phương pháp giải cứu bá tánh thiên hạ và sách lược cai trị đất nước, họ tiến hành nghiên cứu, suy ngẫm, biện luận xoay quanh các chủ đề về bá vương, đạo nghĩa và lợi ích, ý Trời và tính người, từ đó hình thành ra rất nhiều trường phái như Nho giáo, Mặc gia, Pháp gia, Âm Dương gia, Tung Hoành gia v.v.. thúc đẩy văn hóa học thuật của Tiên Tần phát triển nhanh chóng.

Đồng thời, họ hy vọng có được sự trọng dụng của quân vương và sự thấu hiểu của người đời, biến học thuyết của mình thành phương pháp thực tế. Vì thế họ không ngại gian nan vất vả mà đi khắp nơi để tìm kiếm cơ hội thực hiện lý tưởng và thay đổi vận mệnh. Sự khao khát mãnh liệt của họ đã tạo nên cuộc gặp gỡ giữa quân vương và các nhân tài, sau đó làn sóng nuôi dưỡng nhân tài được thịnh hành ở nhiều nước. Các nhà tư tưởng lũ lượt xuống núi, họ tìm được cơ hội để thể hiện tài năng và chí lớn của mình và trở thành bầu trời sao sáng chói trong triều đình của các nước. Còn tại nước Tề, một quốc gia lớn ở phía đông trong thời kỳ Chiến Quốc, có một khu vườn trọng tâm của bách gia tranh minh đang âm thầm được hình thành.

Nước Tề, biên giới gồm phần lớn tỉnh Sơn Đông, phía đông nhìn ra biển lớn, phía nam ngước nhìn núi cao, bên trong là một đồng bằng rộng lớn, nước Tề là một thánh địa được bao quanh bởi sông núi, có các dãy núi và biển nối tiếp nhau, thường được hình dung là “nằm giữa biển và núi”. Vào thời kỳ Tây Chu, nước Tề nghênh đón vị quân vương đầu tiên, đó chính là Thái Công Khương Tử Nha, mở đầu cho sự thống trị 600 năm của chính quyền Khương Tề. Từ sau khi Khương Thái Công xây dựng nước Tề, ông đã đơn giản hóa các nghi lễ dựa trên phong tục tập quán của nước Tề, nhờ đó mà ổn định được lòng dân, lựa chọn cây trồng thích hợp với chất lượng đất trồng, mở cửa kinh doanh thương mại, thuận lợi phát triển ngư nghiệp và ngành muối, giúp nước Tề nhanh chóng trở thành quốc gia hải vương giàu có một cõi và có quân sự vững mạnh, tạo dựng được địa vị vững chắc của mình trong vương triều nhà Chu.

Thời kỳ Xuân Thu, Quản Trọng tiến hành cải cách cả nông nghiệp và thương nghiệp, phò tá Tề Hoàn Công chín lần họp chư hầu, ổn định cục diện hỗn loạn trong thiên hạ. Về mặt chính trị, Tề Hoàn Công thực hiện “tôn vương nhương di” (tôn vương nhương di nghĩa là tôn vinh thiên tử nhà Chu lên làm bá chủ của Trung Nguyên, và chống lại các cuộc xâm lăng của dân du mục ở phương Bắc và tộc người trong lãnh thổ nước Sở ở phương Nam), trở thành người đứng đầu trong Xuân Thu Ngũ bá. Về kinh tế, phát triển hoạt động thương mại ven bờ biển, thương gia ở khắp nơi trong thiên hạ đều quy tụ về nước Tề, kinh đô Lâm Truy trở thành trung tâm thương mại phồn hoa. Nước Tề bước vào thời kỳ phồn thịnh, chính sách quốc gia cởi mở và linh động của nước Tề hình thành tinh thần tự tin và khí chất hào phóng rộng lượng được phát triển từ trong văn hóa bản địa.

Sau thời kỳ Khương Tề, nước Tề dần trở nên suy yếu, sự nghiệp vĩ đại đã không còn, gia tộc Điền Thị ở nước Tề ngày càng trở nên lớn mạnh. Đến khi tướng quốc Điền Hòa lên nắm quyền, ông đã đày Tề Khang Công ra ngoài bãi biển, tự lập mình làm quân chủ nước Tề xa xôi, xác lập chính quyền Điền Tề, lịch sử gọi là “Điền Thị thay Tề”. Sự kiện này cùng với sự kiện “ba nhà chia Tấn” đã cùng nhau đẩy lịch sử Trung Hoa từ thời kỳ Xuân Thu bước sang thời kỳ Chiến Quốc. Sau thời của Điền Hòa, con trưởng của Điền Hòa là Điềm Diệm lên kế vị. Mười năm sau, con trai thứ của Điền Hòa là Điền Ngọ giết vua cướp ngôi, trở thành Điền Tề Hoàn Công. Vương quyền lớn mạnh và phồn thịnh bị thay thế, đối mặt với kẻ địch bao vây ở ba phía, quốc gia mà Điền Tề Hoàn Công tiếp quản là một nước lớn mà không mạnh, sóng gió bủa vây (“Ba nhà chia Tấn” là sự kiện ba gia tộc Hàn, Triệu và Ngụy lần lượt đứng lên tự thành lập đất nước của riêng mình, điều này khiến cho nước Tấn bị giải thể, vì vậy ba nước Hàn, Triệu và Ngụy còn được gọi là “Tam Tấn”).

Làm thế nào để cai trị một quốc gia lớn, đoàn kết lòng dân và triều đình, và đánh thắng những kẻ địch lớn mạnh? Hàng loạt những vấn đề liên quan đến trị vì đất nước cần Điền Tề Hoàn Công phải đưa ra đối sách khẩn cấp nhanh hơn những quân chủ khác. Tắc Hạ học cung cuối cùng cũng đợi được thời cơ tốt nhất để lộ diện với thiên hạ.

Khoảng cách mong manh, học cung lộ diện

“Ngày xưa Tề Hoàn Công lập Tắc Hạ học cung, thiếp lập danh hiệu đại phu, chiêu mộ hiền tài và kính trọng họ” (trích trong “Trung Luận” của Từ Cán). Năm 387 TCN, Điền Tề Hoàn Công kế vị, sau đó vào một ngày nọ, có một công trình xây dựng với quy mô lớn đang được thực hiện ở ngoài thành Lâm Truy, các tòa lầu mọc lên, đây chính là hình dạng ban đầu của Tắc Hạ học cung. Tuy không thể biết chính xác công trình Tắc Hạ học cung sẽ hoàn tất vào ngày nào, nhưng đây chắc chắn là thời khắc mang tính then chốt trong sự nghiệp chấp chính của Tề Hoàn Công hoặc thậm chí là của của toàn bộ chính quyền Điền Tề.

Tắc Hạ học cung xây xong, những học giả có lý tưởng bắt đầu nảy sinh ý định đi đến nước Tề. Bức tranh “Lưu Tung Niên đọc sách tại sơn quán” trong “Danh Lưu Tập Tảo Sách” của nhà Tống (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Quyết định này của Tề Hoàn công cũng không phải là sự sáng tạo hoàn toàn vô nghĩa, mở học viện vừa phù hợp với xu hướng tìm kiếm hiền tài của thời đại, mà cũng là trí tuệ mà ông học hỏi từ các vị minh quân đời trước của nước Tề. Vào thời của Khang Thái Công, nước Tề đã lập ra chính sách dùng người là tôn sùng hiền tài và người có công. Chính sách này phá bỏ được những ràng buộc trong hệ thống pháp chế của nhà Chu, người có tài có đức mà lại có cống hiến cho quốc gia và dân chúng, bất luận có xuất thân như thế nào thì vẫn sẽ được nhận sự tôn kính và trọng dụng của triều đình.

Vào thời Tề Hoàn Công, vì để chiêu mộ hiền tài ở khắp nơi nên Tề Hoàn Công đã bắt chước các vị hoàng đế anh minh của thời thượng cổ, thiết lập chính sách cho phép mọi người đều được nghị luận triều chính gọi là “sách thất chi nghị”. Sách ở đây nghĩa là nhiều người cùng tranh luận, “sách thất” chính là nhiều người tụ tập tại một chỗ để bàn luận chuyện triều chính. Chính sách này mở ra con đường ngôn luận rộng lớn cho mọi người tự do trao đổi và tranh luận, giúp cung cấp ý kiến tư vấn toàn diện hơn cho quân chủ. Vì để thể hiện thành ý của mình, Tề Hoàn Công đưa ra đãi ngộ vật chất rất tốt cho những người nghị luận chính sự, để thu hút kỳ nhân dị sĩ trong thiên hạ. Từ phương diện chính trị cho thấy, “sách thất” đã trở thành nguồn gốc để các tiên sinh trong Tắc Hạ học cung bàn luận chính sự và phò tá việc triều chính. Ngoài ra, Tề Hoàn Công còn để lại rất nhiều giai thoại về tôn trọng hiền tài, ví dụ như Ninh Thích chăn trâu, người trong ấp Mạch Khâu, tiểu thần Tắc đều là những hiền tài được Tề Hoàn Công tìm kiếm và trọng dụng.

Truyền thống tìm kiếm nhân tài như khát nước của các quân chủ nước Tề đời trước đã ảnh hưởng đến chính sách của Điền Tề Hoàn Công rất sâu sắc. Sau khi ông lên ngôi chưa lâu, liền ra lệnh xây dựng học viện, bắt đầu triệu tập lại nhân tài trong thiên hạ để tiến hành phục hưng nước Tề. Vậy Tắc Hạ học cung nằm ở đâu?

Khu vực Lâm Truy của thời xưa được chia hai thành lớn nhỏ khác nhau. Thành lớn dành cho bá tánh bình dân sinh sống, thành nhỏ dành cho quân chủ và các quan chức sinh sống. Lâm Truy có 13 cổng thành. Trong “Tề Địa Ký” có viết: “Bên cạnh Hệ Thủy ở cổng thành phía tây của kinh thành nước Tề có một giảng đường, vì được xây cạnh dòng nước, nên gọi là Tắc môn”. Tắc môn (hay cửa Tắc) nằm ở phía tây của thành lớn, ở gần thành nhỏ. Bên ngoài Tắc môn, bên cạnh Hệ Thủy chính là Tắc Hạ học cung. Nơi đây trong lành thoáng mát, cỏ cây tươi tốt, không chỉ tiện cho quân chủ và các vị tiên sinh của Tắc Hạ học cung qua lại với nhau mà còn là môi trường lý tưởng rất thích hợp cho việc học tập của các học giả.

Sau khi Tắc Hạ học cung được xây xong, những người có lý tưởng và chí lớn bắt đầu nảy sinh ý định đi đến nước Tề. Những nhân vật nổi tiếng như Trần Vu Khôn, Trâu Kỵ đã đi đến nước Tề vào những năm cuối đời của Điền Tề Hoàn Công. Điền Tề Hoàn công cai trị nước Tề 18 năm, không ngừng chinh phạt với các nước: Yến, Ngụy, Lỗ, Triệu… phần lớn đều là hao tổn sức lực mà không mang lại kết quả gì, nhưng cũng chưa từng xuất hiện đại loạn. Tắc Hạ học cung dường như là đang âm thầm tích lũy sức mạnh.

Mặt khác, sự im lặng của Tắc Hạ học cung dường như là có liên quan đến tính cách của Điền Tề Hoàn Công. Câu chuyện “Biển Thước gặp Thái Hoàn Công” (Thái Hoàn Công tức Tề Hoàn Công) là một câu chuyện khá nổi tiếng. Vào thời kỳ Chiến Quốc, một danh y tên Biển Thước khi đi ngang qua nước Tề, ông đã đi gặp Điền Tề Hoàn Công. Trong lúc nói chuyện, Biển Thước vừa nhìn đã nhìn ra được bệnh tình của Tề Hoàn Công, liền nói rằng: “Giữa các đường nếp trên da của ngài có một số bệnh nhỏ, không chữa trị sợ rằng sẽ bị nặng hơn”. Điền Tề Hoàn Công cho rằng y sĩ thích nghiêm trọng hóa vấn đề cho nên hoàn toàn không để tâm. Cứ cách 10 ngày là Biển Thước vào diện kiến Điền Tề Hoàn công, mỗi lần ông đều chỉ ra bệnh tình của Tề Hoàn công ngày một nghiêm trọng hơn.

Đến lần gặp mặt thứ tư, Biển Thước phát hiện ra bệnh tình của Điền Tề Hoàn Công không còn cách nào cứu chữa nữa, ông không nói lời nào mà chỉ quay đầu bỏ chạy. 5 ngày sau, Điền Tề Hoàn Công phát bệnh liền truyền gọi Biển Thước, nhưng lúc này Biển Thước đã chạy đến nước Tần rồi. Vì sai lầm “trốn tránh bệnh tật” nên cuối cùng Điền Tề Hoàn Công ôm hận mà chết. Một quân chủ ngay cả bệnh tình của mình mà còn không nghe lọt tai lời khuyên của danh y, thì làm thế nào có thể tiếp nhận ý kiến trị nước của các nhân tài chứ?

Có lẽ một sự nghiệp vĩ đại là phải trải qua một thời gian ấp ủ đủ lâu thì mới có thể phát ra sức mạnh lớn nhất. Trong thời kỳ “Tuyên Uy chi trị” tiếp theo, Tắc Hạ học cung sẽ chính thức nghênh đón ánh sáng huy hoàng thực sự của nó.

(Còn nữa…)

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Ghi chú của người biên tập: Trong lịch sử có hai vị Tề Hoàn Công: một vị là Khương Tiểu Bạch thời Xuân Thu, một nữa là Điền Ngọ thời Chiến Quốc. Điền Ngọ chấp chính trong 6 năm rồi mất, sau đó con trai của ông là Điền Nhân kế vị. Điền Nhân chính là Tề Uy vương nổi tiếng trong lịch sử. Nước Tề ban đầu là họ Khương nắm giữ việc cai trị, sau này họ Điền thay họ Khương.

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.news||5d70ff185__

Ad will display in 09 seconds