Từ xưa đến nay, con người vẫn luôn tồn tại một thứ tình cảm đặc biệt với ánh trăng. Dù là phần tư tưởng cố chấp ‘Độc tại dị hương vi dị khách, mỗi phùng giai tiết bội tư thân’ (một mình nơi đất lạ làm khách lạ, mỗi khi đến dịp lễ tết lại nhớ người thân bội phần), hay là hoài niệm của những quán trọ trong trời đất cùng những vị khách qua đường suốt hàng trăm thời đại; tất cả tựa hồ đều đang gọi dậy những ký ức ngủ sâu từ xa xưa- nồng hậu, thầm kín và chân thành như vậy.  

Một vầng trăng sáng tiết Trung thu, xưa nay vẫn luôn được quảng đại quần chúng cho đến những bậc thi sĩ văn nhân gửi gắm vào trùng trùng tâm tư tình cảm và hàm nghĩa sâu sắc, cũng là ý tưởng thường được sử dụng khi làm thơ ngâm đối. Tết Trung thu càng là chốn truyền tải tình cảm cùng ký ức văn hóa từ hằng xa xưa, trong khung cảnh ước nguyện chúc phúc người người đoàn tụ, sum vầy. Những tập tục cùng nghi lễ vào Tết trung thu như tế trăng, bái trăng, thưởng trăng, cho đến rượu hoa quế, bánh trung thu, v.v… vẫn tiếp tục được lưu truyền qua các triều đại lịch sử.  

Tế trăng tết Trung thu 

Những lễ nghi, văn hóa thuở sơ khai đều bắt nguồn từ phong tục thờ cúng các vị thần cai quản trời đất, nhật nguyệt, sông núi, v.v… Từ ‘trung thu’ được xuất hiện sớm nhất là trong cuốn ‘Chu lễ – Xuân quan’: “Trung thu dạ nghênh hàn” (đêm trung thu nghênh đón cái lạnh).

Ảnh: Freepik.

Theo lịch cổ đại Trung Quốc, mỗi mùa trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông gồm có ba tháng, lần lượt được phân thành: tháng mạnh, tháng trọng và tháng quý. Tháng thứ hai của mùa thu là tháng trọng, tức trọng thu. Giữa tháng trọng của mùa thu là ngày 15, vậy nên gọi là trung thu. 

Trong ‘Lễ ký’ có ghi chép: “Đêm sáng, tế trăng”.  Tế trăng trung thu là lễ nghi thờ cúng và quy chế pháp luật cổ xưa. Lễ cổ này bắt đầu xuất hiện từ thời nhà Chu. Khi ấy, người Chu cử hành nghi thức bái tế mặt trời vào ban ngày và bái tế mặt trăng vào ban đêm. Trong đó, tiết xuân phân được chọn để bái tế mặt trời và tiết thu phân được chọn để bái tế mặt trăng. Cụ thể là, buổi sáng ngày 15 tháng 2 tiết xuân phân, người ta sẽ hướng về phía Đông thờ cúng mặt trời; và đêm 15 tháng 8 tiết thu phân, người ta sẽ hướng về phía Tây thờ cúng mặt trăng.  

Trong ‘Minh sử – Chí nhị thập ngũ – Lễ tam’ có viết: Nhật nguyệt lần lượt ứng với trời và đất, xuân phân dương khí dồi dào, thu phân âm khí tăng trưởng, cho nên việc bái tế cần chia làm hai, để phù hợp với ý nghĩa âm dương. Tiết xuân phân và tiết thu phân vừa đúng là những hôm có ngày và đêm dài bằng nhau. 

Ngày Trung thu đúng vào tiết thu phân trăng tròn, vậy nên mặt trăng vào Trung thu vô cùng sáng. Đây chính là thời điểm tế trăng đẹp nhất trong dịp lễ lớn của quốc gia. Đêm thực hiện nghi lễ, đế vương vận trang phục mũ áo chỉnh tề, sắp xếp cử hành thờ cúng, khẩn cầu cho quốc thái dân an. ‘Hán thư’ ghi chép: “Thiên tử xuân triêu nhật, thu tịch nguyệt. Triêu nhật dĩ triêu, tịch nguyệt dĩ tịch”, tạm hiểu là: thiên tử (hoàng đế) cử hành lễ bái tế mặt trời vào mùa xuân, bái tế mặt trăng vào mùa thu. Bái tế mặt trời vào sáng sớm, bái tế mặt trăng vào ban đêm. Đồng thời, việc cúng tế thần linh vào tết Trung thu phải do võ quan đại thần thay mặt hành lễ trên đàn tế mặt trăng.

Ban đầu, chỉ có đế vương cử hành nghi lễ cúng tế, nhưng dần dần trong dân gian cũng xuất hiện nghi thức tế trăng, bái trăng. Cho đến thời Trung Hoa Dân Quốc, mỗi dịp Tết Trung Thu, các hộ gia đình vẫn thường bày hương án và đặt tế phẩm theo lễ nghi truyền thống. Ngày nay, đàn tế mặt trăng ở phía tây Tử Cấm Thành chính là nơi các hoàng đế từng dùng để tế trăng.

Đến năm 1949, sau khi Đảng cộng sản Trung Quốc thành lập chính quyền, lý niệm đạo đức và những văn hóa truyền thống lâu đời từng bước bị phá hủy. Mọi người bắt đầu gọi Tết Trung thu là tết bánh trung thu, khiến cho nội hàm của một quốc gia lễ nghi bị đánh mất. Đúng như câu ‘bất học lễ, vô dĩ lập’ (không học lễ, thì không thể đứng vững (tồn tại) được) mà Khổng Tử từng nói. Con người chỉ đơn giản lưu giữ lại phong tục ăn bánh trung thu và những buổi tiệc rượu trung thu xa xỉ, khoa trương của chính phủ. Điều này dẫn đến hiện tượng: trong một ngày có thể làm ra tới vài tiết mục diễn xuất cổ trang tế lễ trời đất nhật nguyệt để thu hút khách du lịch.   

Trong ‘Luận Ngữ’ có bàn luận đến đạo lý: “Tế như tại, tế Thần như Thần tại”, ý là việc cúng tế phải được thực hiện một cách thành kính, trang nghiêm; tế Thần giống như có Thần đang hiện diện tại nơi cử hành lễ tế. Khổng Tử nói: “Ngô bất dư tế, như bất tế”, nghĩa là: không tự mình làm lễ thì chẳng thà không đi bái tế còn hơn. Những lễ tế diễn xuất nghệ thuật trên hình thức chỉ là những lời nói đùa giả dối lừa gạt người ta, thậm chí còn đem lại nguy hại to lớn. 

Nguồn gốc của tết Trung thu

Tương truyền, vào đêm trung thu, Thân Thiên sư làm phép, cùng với Đường Huyền Tông và Đạo sĩ Hồng du ngoạn cung trăng. Ba người nghe thấy tiếng nhạc tiên từ xa bay tới – thanh lệ uyển chuyển, rung động lòng người. Đường Huyền Tông thông thuộc âm luật, liền lặng lẽ ghi nhớ khúc nhạc trong lòng. Sau khi trở về, ông soạn ra tác phẩm ‘Nghê thường vũ y khúc’ nổi tiếng được ca tụng là ‘khúc nhạc chỉ có trên thiên thượng, nhân gian khó được nghe mấy lần’. Từ đó trở đi, ở dân gian bắt đầu xuất hiện tập tục đón tết Trung thu, trong ‘Đường thư – Thái Tông ký’ cũng có ghi chép về việc lấy ngày 15 tháng 8 làm ngày tết Trung thu.

Trung thu bắt đầu được coi là một ngày lễ tết dưới triều đại nhà Đường, trở nên thịnh hành vào thời Tống, đến thời Minh Thanh thì đã trở thành một dịp lễ lớn gần giống như tết đón năm mới. Phong tục này vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Trong lúc ngắm trăng, dưới ánh trăng sáng, người ta kể lại cho nhau những câu chuyện kinh điển xưa cũ liên quan đến mặt trăng được lưu truyền qua hàng trăm nghìn năm. Những sự tích quen thuộc như: Hằng Nga chạy lên mặt trăng, Ngô Cương chặt quế, thỏ ngọc giã thuốc, Huyền Tông ban đêm du ngoạn cung trăng, … đều là những điều thú vị của tết Trung thu khiến cho người ta thêm bay bổng, mơ mộng. Chắc hẳn trong chúng ta, có rất nhiều người vẫn còn lưu giữ ký ức về đêm trăng ngồi dưới ánh sáng bàng bạc, nghe người lớn kể lại những câu chuyện cổ xa xưa. 

Nguồn gốc của việc ăn bánh trung thu vào tết trung thu 

Ban đầu, bánh trung thu (hay bánh mặt trăng) được dùng trong nghi lễ tế trăng có kích thước rất lớn, không có nhân bánh. ‘Đế kinh cảnh vật lược’ vào thời Minh ghi lại: “Ngày 15 tháng 8 tế trăng, trong lễ tế, bánh trái hoa quả sử dụng nhất định phải tròn”, “bánh có đường kính hai thước”. Trong cuốn ‘Yến kinh tuế thời ký’ đời Thanh cũng có viết: kích thước lớn, đường kính dư thừa, phía trên mặt bánh có hình cóc và thỏ trên cung trăng. Có thể thấy, bánh mặt trăng (bánh trung thu) vào thời gian này được làm cẩn thận tỉ mỉ và tinh xảo hơn trước. Sau khi nghi thức tế trăng được du nhập vào dân gian, các chủng loại bánh mặt trăng lại càng thêm phong phú, đa dạng. 

Ảnh: Freepik.

Theo truyền thuyết, vị tướng nổi tiếng thời Đại Đường là Lý Tịnh đã chinh phục quân Hung Nô và chiến thắng trở về vào ngày 15 tháng 8. Một số thương nhân ngoại biên đã dâng bánh cho Đường Cao Tổ Lý Uyên để chúc mừng thắng lợi. Cao Tổ cầm chiếc bánh tròn, chỉ tay lên vầng trăng sáng, cười nói: “Nên lấy bánh Hồ mời mặt trăng”. Sau đó, những chiếc bánh được phân phát cho các quân thần của nhà vua. Chính vì vậy mới có tục ăn bánh mặt trăng (bánh trung thu) để đón Tết Trung thu.

Đến những năm cuối triều Nguyên, Chu Nguyên Chương khởi binh chống lại triều đình Mông Cổ triều Nguyên. Ông sử dụng bánh trung thu để bí mật truyền tin tức. Khi mọi người mua bánh trung thu về nhà sẽ phát hiện trong bánh có giấu một dòng chữ: “Ngày 15 tháng 8 giết Thát tử” (Thát tử ý chỉ quân đội Mông Cổ). Vì thế, quần chúng ào ào hưởng ứng. Cứ như vậy, tập tục tết Trung thu ăn bánh mặt trăng (bánh trung thu) lại được tiếp tục lưu truyền.

Trong cuốn ‘Tây hồ du lãm chí’ triều Minh viết: “Ngày 15 tháng 8 gọi là Trung thu, dân gian lấy bánh mặt trăng tặng cho nhau, mang ý nghĩa sum họp đoàn viên”. Vào ngày này, bánh trái tế trăng nhất định phải có hình tròn, với ngụ ý đoàn tụ. Vật phẩm dùng để tế trăng, do có mang theo ký thác của người làm lễ về hạnh phúc và cuộc sống thuận lợi, nên thường được đem chia cho mọi người cùng thưởng thức. Như vậy, tất cả mọi người đều sẽ nhận được lời chúc phúc từ thần mặt trăng. 

Ngô Cương chặt quế

Trong ‘Hoài Nam Tử’ thời Tây Hán có ghi chép: “Trong mặt trăng có cây quế”. Thơ Lý Bạch có câu: “Dục chước nguyệt trung quế, trì vi hàn giả tân” (tạm dịch: muốn chặt cây quế trên mặt trăng, giữ làm củi đốt cho ngày lạnh giá). Thơ Lục Du cũng viết: “Trừ khước Quân sơn Tương thủy bình, chước khước quế thụ nguyệt cánh minh” (Trừ bỏ núi Quân cho nước sông Tương bình lặng, chặt bỏ cây quế cho ánh trăng càng sáng hơn). Tất cả những tác phẩm trên đều nói về cây quế nơi cung trăng từ những góc nhìn khác nhau.

Đoạn Thành Thức thời Đường biên soạn tác phẩm ‘Dậu Dương tạp trở’, trong ‘Quyển một – Thiên Chỉ’ có đoạn ghi chép tương đối tỉ mỉ: “Từ xưa truyền rằng trên mặt trăng có cây quế, có con cóc. Cây quế trên trăng cao 500 trượng, bên dưới có một người liên tục chặt cây. Những vết cắt trên cây cứ chặt ra liền lành lại. Người đó họ Ngô tên Cương, là người Tây Hà, từng học phép tu tiên, sau bị giáng phạt tới chặt cây”. Phương thức chặt cây này được lấy để rèn luyện tâm tính của Ngô Cương, đồng thời giúp ông loại bỏ đi những nợ nghiệp do việc phạm tội đem đến.  

Trong ‘Quyển một – Thiên Chỉ’ còn viết: Cuốn Thích Già Phật ghi lại rằng ở mặt phía Nam núi Tu Di có một cây Diêm Phù. Mỗi khi trăng đi qua, bóng của cây này sẽ in nhập lên mặt trăng, khiến cho những người ở dưới mặt đất nhìn lên sẽ thấy trên trăng xuất hiện những cái bóng lốm đốm. Đó thực chất chính là bóng của cây Diêm Phù trên núi Tu Di. 

Vào thời cổ đại, cây quế mỗi tháng đều sẽ điểm xuyết nở hoa, cho đến lúc trung thu thì bắt đầu đua nhau khai nở. Bài thơ của Tống Chi Vấn đời Đường viết: 

“Quế tử nguyệt trung lạc, 
Thiên hương vân ngoại phiêu” 

Dịch nghĩa: 

Hoa quế rơi xuống trên mặt trăng,
Hương trời bay bổng ngoài tầng mây. 

Hương hoa quế ý vị mà vương vấn dài lâu, quả không hổ với danh hiệu là hương thơm của trời. 

Điểm thú vị là, chu kỳ hoa quế nở trùng với chu kỳ trăng tròn – mỗi tháng lại nở một lần – giống như cây quế bất tử mà Ngô Cương chặt, mỗi lần bị chặt rồi tự mình hồi phục xong, nó lại tràn đầy sức sống. Dân gian lấy cụm từ ‘thiềm cung chiết quế” để hình dung việc học tập khoa cử, ý nói việc đỗ đạt thành danh cũng quý giá khó có được giống như cành quế nơi cung trăng.  

Thỏ ngọc giã thuốc

Thơ Lý Bạch viết: “Bạch thố đảo dược thu phục xuân”, diễn tả khung cảnh xuân qua thu tới, thỏ ngọc vẫn quỳ ở đó miệt mài giã thuốc.

Thỏ mặt trăng (thỏ ngọc) xuất hiện sớm nhất với tên gọi là ‘nguyệt trung cố thố’ (thỏ lo việc trông coi, chăm sóc trên mặt trăng) trong tác phẩm ‘Thiên vấn’ của Khuất Nguyên. Trong “Đổng đào hành” của nhạc phủ* (nhạc phủ: quan đời Hán chuyên sưu tập thơ ca dân gian và âm nhạc) thời Hán viết: “Thái thủ thần dược nhược mộc đoan, ngọc thố trượng quỵ đảo dược cáp mô hoàn, phụng thượng bệ hạ nhất ngọc bàn, phục thử dược khả đắc thần tiên”. Chính là nói: Thỏ ngọc trên mặt trăng sử dụng loài cóc nhái vốn mang độc tính cực mạnh giã ra thuốc tiên trường sinh bất lão, biến người thành tiên.

Cuốn “Bác vật chí” thời Tấn lại có đoạn: “Thố thỉ hào vọng nguyệt nhi dựng, khẩu trung thổ tử”, ý là: thỏ trong thiên hạ đều là thỏ cái, liếm liếm lông tơ nhìn lên thỏ ngọc trên cung trăng bái lạy lẫn nhau rồi có thai, sau đó từ trong miệng nhả ra thỏ con.

Nói đến việc này, trong “Phong thần diễn  nghĩa” có đoạn kể về chuyện Cơ Xương nhả ra con của mình: Trụ vương giết con trai cả của Cơ Xương là Bá Ấp Khảo rồi đem xác của đứa con làm thành nhân bánh đưa cho Cơ Xương ăn, nhằm mục đích thăm dò Cơ Xương. Mặc dù biết rằng đó là thịt của con trai mình, nhưng Chu Văn vương Cơ Xương vẫn phải nhẫn nhịn đau đớn để ăn vào vì mưu tính lâu dài. Trên đường trở về Tây Kỳ, Cơ Xương lòng đau như bị dao cứa, cuối cùng nôn ra ba khối thịt. Ba khối thịt ấy đón gió mà hóa thành ba con thỏ. Ba con thỏ ấy chính là ba hồn của Bá Ấp Khảo. Sau này, chúng lại hóa thành một con thỏ, được Hằng Nga mang lên cung trăng theo lệnh của Nữ Oa.

Các tài liệu lịch sử, thơ ca, chuyện cổ, v.v… thời cổ đại đều có liên quan với nhau, đều có thể biểu lộ ra ý nghĩa thâm sâu bên ngoài ngôn từ. 

Hằng Nga bay lên mặt trăng

Chuyện cổ Hằng Nga bay lên mặt trăng vẫn luôn được lưu truyền rộng rãi trong quần chúng. Sự ly biệt một người trên trời, một người nhân thế của vị tiên tử cung trăng này với Hậu Nghệ, cũng chỉ có thể vào thời khắc ngắn ngủi ‘thiên nhai cộng thử thì’ (trăng sáng soi chung cả chân trời) đêm trung thu mới rút ngắn được phần nào. 

Mỗi khi ngắm nhìn trăng sáng, người ta thường hay liên tưởng tới Hằng Nga. Thơ Lý Thương Ẩn viết: 

“Hằng Nga ưng hối thâu linh dược,
Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm”

Dịch nghĩa:

Hằng Nga hối hận đã lấy trộm thuốc thần
Cô đơn trời biển một màu, đêm đêm thương nhớ. 

Bài thơ ‘Hằng Nga’ của Biên Cống thời Minh lại có câu: 

“Cộng tại nhân gian thuyết thiên thượng, 
Bất tri thiên thượng ức nhân gian” 

Tạm dịch: 

Cùng tại nhân gian nói chuyện trời, 
Chẳng biết trên trời nhớ nhân gian.

Ảnh: Freepik.

Đây cũng là mượn hình ảnh này để biểu lộ nỗi nhớ của người thân trên trời dành cho người nhà tại nhân gian, đồng thời kèm theo tình cảm mong nguyện được đoàn tụ, sum vầy. Có lẽ đó mới là ý nghĩa thực sự của câu chuyện này. 

Mặt trời và mặt trăng thay đổi ứng với thế gian con người

Nhật nguyện vốn tại trời cao, nhưng những điềm báo mà chúng biểu hiện lại tương ứng với những sự việc ở nhân gian. Người xưa quan sát thiên tượng để biết sự thịnh suy của xã hội.

Thời kỳ Tây Hán, Hoàn Khoan soạn ra ‘Diêm thiết luận’, trong đó có một câu viết: ‘Cố dương quang thịnh vu thượng, chúng âm chi loại tiêu vu hạ; nguyệt vọng vu thiên, bạng cáp thịnh vu uyên. Cố thần bất thần, tắc âm dương bất điều, nhật nguyệt hữu biến; chính giáo bất quân, tắc thủy hạn bất thời, minh đằng sinh. Thử tai dị chi ứng dã.”

Nghĩa là: Dương khí ánh sáng cường thịnh thuộc về trên, âm khí lại là tan biến thuộc về dưới; mặt trăng treo trên bầu trời, chai sò trong nước sẽ đầy đặn béo chắc. Vì điều này nên vào thời kỳ vua quan loạn lạc, âm dương mất đi sự hài hòa, mặt trăng và mặt trời sẽ xuất hiện thay đổi khác thường; nếu việc triều chính và giáo hóa không đồng đều, nạn hạn hán sẽ có ngày giáng xuống, nạn sâu bệnh và côn trùng phá hoại mùa màng cũng xảy ra. Những thứ này chính là báo ứng thiên tai sau khi mặt trăng và mặt trời phát sinh thay đổi tạo thành. Lại nói, người làm việc thiện sẽ được trời giúp đỡ, có được phúc báo; người làm điều ác phải chịu báo ứng, gặp phải tai họa. 

Bài thơ ‘Trung thu’ của Lý Phác viết: 

“Giảo thố không tòng huyền ngoại lạc,
Yêu mô hưu hướng nhãn tiền sinh.
Linh tra nghĩ ước đồng huề thủ,
Cánh đãi ngân hà triệt để thanh.”

Tạm dịch:

Thỏ lạc tung tăng vui múa hát
Cung thiềm khuất bóng biệt tăm hơi
Cầm tay tri kỷ, thầm mong ước
Ngắm dải Ngân trong vắt cuối trời.

(Bản dịch của Hải Đà, nguồn thivien.net)

Khí phách của những câu thơ này cùng với câu “Thiên tương kim dạ nguyệt, nhất biến tẩy hoàn doanh” (Trời đem ánh trăng đêm nay, một lần tẩy sạch vùng đất rộng lớn) của Lưu Vũ Tích trong ‘Bát nguyệt thập ngũ nhật dạ ngoạn nguyệt’(‘Đêm 15 tháng 8 ngắm trăng’), đều thể hiện ra sự gột rửa của vũ trụ rộng lớn, cùng với lòng mong nguyện khẩn cầu đoàn viên của cả trên trời lẫn thế gian vào đêm trăng.   

Trăng đêm nay từng soi sáng người xưa 

Chính như vầng trăng vượt từ quá khứ đến hiện tại trong thơ Lý Bạch: 

“Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt,
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân”

Tạm dịch:

Người nay chẳng thấy trăng năm ấy,
Trăng nay từng soi sáng người xưa.

Ánh trăng đã từng rọi sáng trên người những bậc hiền triết lịch sử vĩ đại. Tất cả nhân loại tự cổ chí kim đều cùng chung một vầng trăng sáng. Vậy trăng kia vì đâu lại tròn? Có phải vì hãm sâu trong mộng ảo say mê nơi trần thế nên đã khiến người ta coi đất khách thành quê nhà, đến mức quên đi mất sự mong mỏi chờ đợi của người thân? 

Đến lúc này, chúng ta mới hiểu được phần tình cảm bồi hồi, nhung nhớ xa xôi trong câu “Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương” (tạm dịch: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cúi đầu nhớ cố hương) của Lý Bạch. Vượt qua đoạn đường khó khăn, cuối cùng sẽ đến lúc ta trở về chốn cũ tốt đẹp, viên mãn. 

Theo Sound of Hope
Trường Lạc biên dịch