Một số nhà sử học đương thời từng nhận xét rằng: Sở Trang Vương là bậc quân chủ vô cùng khôn khéo, vừa ra tay đã có khí thế thiên binh vạn binh mã, “nhất minh kinh nhân, nhất phi trùng thiên”…

Câu thành ngữ “Nhất minh kinh nhân” thường được dùng để nói về một người nhìn bề ngoài thì không có gì nổi bật, thậm chí là không có tiếng tăm gì, nhưng khi làm việc lại có thể tạo ra kết quả bất ngờ khiến cho người ta kinh ngạc. Nguyên thành ngữ này bắt nguồn từ câu nói: “Không bay thì thôi, hễ cất cánh là bay tận trời xanh”; hoặc: “Không hót thì thôi, hễ cất tiếng là khiến người người kinh sợ”. Người đời sau liền nói thành: “Nhất minh kinh nhân”…

Từ nguồn gốc của câu thành ngữ “Nhất minh kinh nhân”…

Trong “Sử ký – Hoạt kê liệt truyện” của Tư Mã Thiên thời Tây Hán, có kể về việc Thuần Vu Khôn ở nước Tề đã dùng lối nói ẩn ý để đối thoại với nhà vua như sau, Thuần Vu Khôn nói: “Nước ta có con chim lớn, lại đậu ở sân của nhà Vua, nhưng 3 năm không bay không hót, không biết đây là chim gì?” 

Vương trả lời: “Ta biết rồi. Đây có thể không phải là loài chim thường. Con chim này ba năm không bay, nhưng khi bay vút tận trời xanh, ba năm không hót nhưng khi hót là người người khiếp sợ”. 

Thuần Vu Khôn vốn là phò mã nước Tề, thân cao chưa đầy 7 xích (khoảng 2 mét), tính tình vui vẻ, nói năng khôn khéo, nhiều lần được cử đi sứ các nước khác nhưng ông chưa bao giờ chịu khuất nhục. Lúc Tề Uy Vương tại vị, ông rất thích nói những ngôn từ khó hiểu, ăn chơi thâu đêm suốt sáng, ham vui, say sưa rượu chè, không quan tâm đến chính sự. Ông đem việc chính sự ủy thác cho Khanh đại phu. Thuở ấy, văn võ bá quan trong triều cũng đều hoang dâm phóng túng, các nước láng giềng thường thay nhau tấn công xâm lược nước Tề, quốc gia lâm nguy đến mức đối diện với sự diệt vong. Nhìn thấy cảnh tượng này, đám quan lại hạ thần triều đình không ai dám khuyên can Tề Vương. 

Thuần Vu Khôn đã dùng ngôn ngữ khó hiểu để thuyết phục vua Tề: “Nước ta có con chim lớn, lại đậu ở sân của nhà Vua, nhưng 3 năm không bay không hót, không biết đây là chim gì?“. Tề Uy Vương nói: “Con chim này không bay thì thôi, chỉ cần nó cất cánh là bay tận trời xanh. Nó không hót thì thôi chứ khi đã hót là sẽ khiến người người khiếp sợ“. Vậy là, Tề Uy Vương đã hạ lệnh cho 72 quan phủ vào triều bẩm tấu sự tình. Ông khen thưởng từng người cũng trách phạt từng người, đồng thời ông cũng cho xuất binh ngăn địch khiến các nước chư hầu hoảng sợ, đều đem đất đã xâm chiếm trả lại cho nước Tề. Tề Uy Vương cũng tại vị được 36 năm. Những lời này sau cũng đã được ghi lại trong “Điền Hoàn thế gia”. 

Đến những giai thoại vang danh thiên hạ về Sở Trang Vương…

Tuy nhiên, điển cố “Nhất minh kinh nhân” lại có liên quan đến Sở Trang Vương, bắt nguồn sớm nhất vào thời Xuân thu chiến quốc. Sách “Hàn phi tử – Dụ lão” có ghi chép rằng:

“Sở Trang Vương làm chính sự, 3 năm không hạ lệnh, 3 năm không lên triều. Tư Mã đứng hầu bên phải mới hỏi Sở Trang Vương một cách đầy ẩn ý: ‘Tại ngọn đồi phía nam có con chim, 3 năm không cất cánh, không bay không hót, im im ắng ắng, không biết đây là chim gì?’ Sở Trang Vương nghe xong liền nói: ‘Ba năm không bay, để chắp đôi cánh thật dài; không bay không hót, là đang quan sát dân tình xã tắc. Mặc dù không bay, nhưng khi cất cánh sẽ bay tận trời xanh, mặc dù không hót, nhưng khi cất tiếng là người người kinh sợ. Ngươi đừng quản nữa, ta đã hiểu rồi’ “. 

Sau nửa năm, Sở Trang Vương liền tự mình xử lý việc triều chính. Ông bãi bỏ 10 điều và thiết lập 9 điều, giết 5 quan đại thần và dùng 6 người ẩn danh. Cuối cùng Sở Trang Vương đã khôi phục đất nước vô cùng thịnh vượng. Sở Trang Vương đã khởi binh chinh phạt nước Tề, tiến đến Từ Châu đánh bại Tề quốc, tại sông Ung đánh thắng quân Tấn, tại nước Tống hội họp chư hầu và xưng bá chủ thiên hạ. Sở Trang Vương không biểu lộ tài thao lược của mình quá sớm nên mới gặt hái được công lớn. Cho nên, trong “Đạo Đức Kinh”‘, Lão Tử có nói rằng: “Đại khí vãn thành, đại âm hi thanh”; ý tứ là:  “Đồ dùng lớn lâu thành, tiếng lớn nghe không thấy”.

Trong chính sử “Sử ký – Sở thế gia” của Tư Mã Thiên có ghi chép chi tiết hơn. Ngũ Cử tâu: “Có con chim đậu ở đỉnh đồi, 3 năm không bay không hót, không hiểu đó là chim gì?” Trang Vương trả lời: “Ba năm không bay, một khi cất cánh là vút lên tận trời xanh; ba năm không hót, nhưng khi cất tiếng là khiến người người kinh sợ”. 

Ảnh minh họa: Theo Epochtimes.

Sở Trang Vương thừa kế ngôi vị đã 3 năm mà chưa hề ban chiếu chỉ dụ, không để ý đến việc triều chính và cơ nghiệp bá chủ, ban ngày thì du ngoạn săn bắn, đêm đến thì bày tiệc uống rượu, ông hạ lệnh cho dựng một tấm biển gỗ viết: “Ai dám can ngăn thì chém chết không cần luận tội!” Tuy vậy quan đại thần Ngũ Cử vẫn liều chết vào cung khuyên can. Lúc đó, tay trái Trang Vương ôm Trịnh Cơ, tay phải ôm Việt nữ, ngồi chính giữa đám ca sĩ và vũ công. 

Ngũ Cử thưa: “Hạ thần hy vọng có thể nói với Chúa công một lời khó hiểu”. Tiếp đến ông nói: “Có con chim đậu trên đồi, 3 năm không bay không hót, đây là loại chim gì?” Sở Trang Vương nghe xong liền nói: “Ba năm không bay, một khi cất cánh sẽ bay tận trời xanh, 3 năm không hót, khi cất tiếng sẽ khiến người người kinh tâm động phách. Ngươi đi xuống đi, ta biết rõ ý tứ của ngươi”. 

Vài tháng sau, Sở Trang Vương càng thêm buông thả hơn. Đại phu Tô Tòng lại liều mình vào cung khuyên ngăn. Sở Trang Vương nói: “Ngươi không nghe chiếu lệnh của ta sao?” Tô Tòng trả lời: “Xả thân mà có thể khiến chúa công tài đức sáng suốt, đây là tâm nguyện của hạ thần”. Nghe xong lời này, Sở Trang Vương liền ngừng các cuộc vui chơi và bắt đầu xử lý chính sự. Ông cho giết mấy trăm kẻ phạm tội, thăng chức cho mấy trăm người có công, ngoài ra còn phân công cho Ngũ Cử và Tô Tòng quản lý việc triều chính, cả nước trên dưới đều vô cùng ủng hộ. Thuở ấy, nước Sở đang đứng bên bờ diệt vong, nhưng chỉ trong 6 năm sau đó đã có thể thảo phạt nước Tống và thu về 500 chiếc chiến xa. 

Một số nhà sử học còn nhận xét rằng, Sở Trang Vương là bậc quân chủ vô cùng khôn khéo, vừa ra tay đã có khí thế nghìn vạn binh mã, “nhất minh kinh nhân, nhất phi trùng thiên”. Trong suốt 3 năm tưởng chừng Sở Trang Vương không làm gì nhưng kỳ thực ông đang nghiên cứu và khảo nghiệm bá quan văn võ. Ông ngụy trang bản thân thành một vị quân chủ hồ đồ nhưng thực chất là đang âm thầm tìm hiểu tình hình thế sự. Sở Trang Vương quả là một bậc quân chủ có tài thao lược hiếm có. 

Một số học giả đời sau giải thích nguồn gốc của thành ngữ “Nhất minh kinh nhân” như sau: Điều này có lẽ cũng không mâu thuẫn. Có thể Tề Uy Vương cũng từng bị hỏi qua câu ẩn ngữ này, sau đó nhớ tới Sở Trang Vương đã từng nói qua mà đột nhiên tỉnh ngộ, bất ngờ thốt lên câu trả lời. 

Sở Trang Vương (? – 591 TCN), tên thật là Hùng Lữ, hay Mị Lữ, là con trai của Sở Mục Vương. Ông là một trong những vị Sở vương có thành tựu đáng kể nhất. Dưới thời đại của ông, nước Sở trở nên cực thịnh, đặc biệt là đánh bại được nước Tấn, thảo phạt nước Trịnh, khiến tên tuổi của Sở Trang Vương được liệt vào trong Ngũ bá thời Xuân Thu.

Trong lịch sử Trung Quốc, Sở Trang Vương là một bậc quân chủ vô cùng nổi tiếng. Có một câu nói được nhiều người biết đến ám chỉ ông, đó là “Tuyệt anh chi yến”, được ghi chép trong “Thuyết uyển – Phục ân’. Đại Minh phùng mộng Long “Đông Chu liệt quốc chí” hồi thứ 51 có miêu tả khá kỹ càng về chuyện này. Về sau, điển cố này còn được viết thành vở kịch nổi tiếng mang tựa đề “Trích anh hội”, chuyện kể rằng: 

Trong thời kỳ Xuân Thu, các nước chư hầu không ngừng chiến loạn. Sở Trang Vương đã bày tiệc đại yến quần thần thiết đãi danh tướng để chuẩn bị bình định phản loạn. Tần phi, người được Sở Trang Vương sủng ái cũng dự tiệc để trợ hứng. Khi bữa tiệc diễn ra, tiếng đàn, điệu múa, rượu ngon, sơn hào hải vị diễn bày la liệt. Trời đã tối mà mọi người vẫn rất hứng khởi, Sở Trang Vương còn hạ lệnh đốt đèn tiếp tục yến tiệc. Ông còn gọi Hứa Cơ, người đẹp được sủng ái tới mời rượu các tướng lĩnh và văn võ quần thần. Lúc đó, bỗng nhiên gió thổi mạnh, các cây nến đều bị dập tắt. Lúc này có một vị quan viên cả gan nắm tay Hứa Cơ kéo vào lòng. Hứa Cơ giãy giụa thoát ra đã xé tay áo của quan viên này và giật dải lụa trên mũ xuống. Hứa Cơ đến trước mặt Sở Trang Vương để cáo trạng, muốn Sở Vương cho thắp nến lên xem ai có bị mất dải lụa trên mũ, để tìm ra kẻ vô lễ. 

Sở Trang Vương nghe xong liền bảo chưa vội thắp nến, thay vào đó ông còn nói lớn: “Hôm nay quả nhân mở yến tiệc, muốn cùng các khanh vui hết mình. Mời các khanh hãy giật bỏ dải lụa trên mũ của mình để uống cho thoải mái”. Nghe Sở Trang Vương nói vậy, tất cả mọi người đều làm theo. Lúc này nến mới được thắp lên, quân thần lại tiếp tục vui vẻ huyên náo. Sau khi tiệc tan, Sở Trang Vương trở lại cung, Hứa Cơ liền trách ông sao không để cô hả giận. Trang Vương nói: “Lần này vua quan yến tiệc, chỉ tại quá chén, tạo dựng quan hệ hòa hợp quân thần. Khi say rồi thực hiện hành động thất thố cũng là chuyện thường tình của con người. Nếu truy cứu trách nhiệm, tiến hành trách phạt, để lộ ra điểm xấu, tổn thương nho sĩ, quần thần không vui, quả nhân không muốn điều này”. Lúc này Hứa Cơ mới hiểu dụng ý của Sở Trang Vương. Đây cũng là câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử mang tên “Tuyệt anh chi yến”. 

Ba năm sau, nước Tần và nước Sở giao chiến, có một vị tướng luôn anh dũng tiên phong phía trước, 5 lần giao tranh 5 lần anh dũng tác chiến, dẫn đầu đẩy lui quân địch, cuối cùng đạt được thắng lợi. Sở Trang Vương kinh ngạc hỏi: “Tài đức của ta nông cạn, chưa từng ưu ái ngươi, tại sao ngươi lại không ngại vào sinh ra tử đối với ta đến như vậy?” Người ấy bèn thưa: “Lẽ ra trước đây hạ thần đã mất mạng rồi! Còn nhớ khi xưa trong đại yến triều đình, thần đã uống say đánh mất phép tắc, quân vương từng che giấu giúp mà không truy sát. Thần chịu nghĩa xưa, đội ơn dày của bệ hạ đã tha cho tội khi quân. Vốn mong muốn liều chết để báo đền ân đức bệ hạ, đến nay thần mới có dịp. Thần là người năm xưa bị cung nữ giật mất dải lụa trên mũ trong đêm yến tiệc”. Vì thế mà người này đã quả cảm giúp Sở Trang Vương đánh bại quân Tần, nước Sở nhờ thế mà trở nên hùng mạnh. Trong “Thuyết Uyển” có viết: “Có tích âm đức thì mới có dương báo”. 

Sở Trang Vương là bậc quân chủ tài giỏi thao lược và đầy tham vọng, cuối cùng ông cũng hoàn thành đại sự thống trị và là một trong 5 bá chủ thời Xuân Thu. 

Theo Vision Times
San San biên dịch