Ai đã từng nghiên cứu ngôn ngữ sẽ biết rằng, lượng thông tin của Hán ngữ Trung Quốc là phong phú nhất, còn hiệu quả tạo mã là tối cao. Trong một đoạn thời gian như nhau thì lượng thông tin tích luỹ được khi dùng Hán ngữ vượt xa các ngôn ngữ khác…

Câu chuyện về giới ‘tinh anh’ tôn trọng ‘ngôn ngữ cao quý’

Cuộc tranh luận về dạy chữ Hán trong nhà trường từ năm 2010 của TS Đoàn Lê Giang đã kết thúc vào năm 2016, kết quả chữ Hán vẫn không được dạy trong trường phổ thông, mà chỉ dạy ở những Viện Hán Nôm hoặc ở một số trường Nhân văn. Nhưng không vì thế mà việc tìm hiểu, chia sẻ và tự học chữ Hán dừng lại trong dân gian.

Trên mạng xã hội đã xuất hiện những fanpage chia sẻ ý nghĩa và phân tích chữ Hán với số lượng người theo dõi gần 100 nghìn người. Còn trên group (nhóm) vẫn có những nhóm tự học chữ Hán công khai. 

Ở đây, tôi muốn giới thiệu về một nhóm mà tôi cho là khá đặc biệt, với thành viên phần đông là ‘tinh anh’ của người Việt. Đó là nhóm ‘Đại Việt Hán văn hội’ được thành lập vào ngày 2/2 năm nay.

Nhóm Đại Việt Hán văn hội, với ảnh bìa lấy từ một phần bức ‘Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ’ có nghĩa: bức tranh vẽ người có trí tuệ và chí khí lớn ở Trúc Lâm đang xuống núi. Người có trí tuệ và ý chí to lớn đó chính là Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Bức tranh vẽ cảnh ông rời khỏi núi Trúc Lâm sau thời gian tu tập và sáng lập thiền phái Trúc Lâm. (Ảnh chụp màn hình Facebook).

Nhóm bắt đầu từ ý tưởng muốn giúp nhau học tiếng Trung và tìm hiểu Hán tự của một nhóm du học sinh tốt nghiệp và định cư ở Pháp. Do đó 60-70% thành viên là du học sinh Pháp (vì có thêm bạn bè nên tỉ lệ không đạt được 100%).

Tại sao tôi lại gọi những người trong nhóm này là ‘tinh anh’ của người Việt? Bởi vì chúng ta biết rằng, muốn định cư ở nước ngoài (tiên tiến hơn Việt Nam) có nhiều cách như là: thông qua hôn nhân, mai mối, người thân bảo lãnh, lao động, tị nạn v.v.. nhưng có một cách khó hơn chính là du học rồi định cư. 

Để được đi du học thì phần lớn những học sinh đó là những người có tư duy và thành tích học tập tốt ở quốc nội. Sau khi tốt nghiệp ở nước sở tại thì làm việc và định cư nơi ấy. Ta thấy rằng, họ vừa biết ngôn ngữ mẹ đẻ, tiếng sở tại (phần lớn biết tiếng Anh nữa) và có năng lực để ở lại làm việc rồi định cư, do đó nói những du học sinh này là ‘tinh anh’ của người Việt cũng không quá. 

Họ không vì đi tây học mà sính ngoại để rồi ‘vong bản’, trái lại họ có tư tưởng cởi mở: hoà nhập với người bản địa, nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc Việt. Bằng chứng là trong đợt Tết, các bạn trẻ ấy (tầm cuối 8x đầu 9x) vẫn cúng mâm cơm, mâm ngũ quả truyền thống rất chỉn chu, chỉ có điều con gà… không được nguyên vẹn vì ở Pháp/châu Âu họ chỉ ăn mình gà, các phần còn lại thì bỏ.

Vì họ có tư duy cởi mở nên khi admin đăng bài viết với tiêu đề ‘So sánh từ vựng Việt – Trung’, ta thấy sự khách quan trong đó. Bài viết có nội dung như sau:

Chúng ta đều biết tiếng Việt có khoảng 80% từ vựng là từ gốc Hán, điều này là một lợi thế lớn đối với người Việt khi học tiếng Trung, vì vô hình trung ta đã biết một số lượng kha khá từ vựng, ngay cả khi chưa bao giờ dùng đến. Tuy nhiên, cũng như đối với bất kỳ một ngôn ngữ nào trên thế giới, từ mượn từ tiếng Trung sang tiếng Việt sẽ có những biến đổi về nghĩa.

Dưới đây xin đưa ra 5 ví dụ về những từ Hán Việt mà nghĩa trong tiếng Trung và tiếng Việt là khác nhau.

+ Khốn nạn – 困難 (kùnnán): từ này trong tiếng Trung có nghĩa là ‘khó khăn’ chứ không có nghĩa như từ ‘khốn nạn’ trong tiếng Việt.

Đầu thế kỉ 20, người ta còn dịch ‘Les misérables’ là ‘Những người khốn nạn’, sau này từ ‘khốn nạn’ mới bị biến đổi nghĩa, nên được dịch thành ‘Những người khốn khổ’. Từ có nghĩa tương đương với ‘khốn nạn’ trong tiếng Việt là ‘hỗn đản’ – 混蛋 (húndàn).

+ Khẩn trương – 緊張 (jǐnzhāng): từ này trong tiếng Trung có nghĩa là ‘lo lắng’, ‘hồi hộp’ chứ không có nghĩa là nhanh nhẹn như trong tiếng Việt.

Nếu muốn nói ‘Khẩn trương lên’ thì trong tiếng Trung ta dùng từ ‘Cản khoái’ – 赶快 (gǎnkuài).

+ Thư viện – 書院 (shūyuàn): từ này là một từ cũ trong tiếng Trung dùng để chỉ nơi học tập Nho giáo thời xưa. 

Ngày nay, để nói ‘thư viện’ thì tiếng Trung dùng từ ‘đồ thư quán’ – 圖書館 (túshū guǎn). Điều thú vị là ngày nay, cả Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên đều dùng từ ‘đồ thư quán’, chỉ có Việt Nam dùng từ cũ.

+ Thời tiết – 時節 (shíjié): từ này trong tiếng Trung mang nghĩa ‘thời vụ’, ‘mùa vụ’, chứ không hoàn toàn giống nghĩa với từ ‘thời tiết’ của tiếng Việt.

Nếu muốn hỏi ‘Thời tiết hôm nay thế nào?’, thì bạn không thể dùng từ này mà phải dùng ‘thiên khí’ – 天氣 (tiānqì).

+ Đáo để – 到底 (dàodǐ): từ này trong tiếng Trung là một trạng từ, có nghĩa là ‘cuối cùng’, ‘rốt cuộc’. ‘Đáo’ là ‘đến’, ‘để’ là ‘đáy’; ‘đáo để’ dịch thô là ‘đến tận đáy’, còn dịch thoát ý là ‘rốt cuộc’.

Nếu muốn nói ý ‘đáo để’ như trong tiếng Việt (ví như: Bạn ấy là một người rất đáo để) thì bạn có thể dùng từ ‘linh lị’ – 伶俐 (línglì) (đọc trại âm thành ‘lanh lợi’).

Đây là một bài viết rất công phu và đặt tâm của người viết, không những đưa ra sự khác nhau về nghĩa, mà còn tìm được từ thay thế (ví như ‘linh lợi’ đọc trại âm thành ‘lanh lợi’). Đồng thời họ cũng mong muốn các thành viên sử dụng từ ngữ tiếng Việt một cách chuẩn xác, chính là trân trọng từng con chữ của dân tộc.

Lời giới thiệu của Nhóm Đại Việt Hán văn hội. Ảnh chụp màn hình Facebook.

Ở phần trước tôi có đề cập đến việc đài truyền hình Tân Đường Nhân có đề cập đến câu chuyện “Thượng tầng xã hội ở Việt Nam coi Hán ngữ là văn tự và ngôn ngữ cao quý. Thuở trước, chiếu chỉ, công văn, khảo thí khoa cử của cung đình v.v.. rất nhiều đều là viết bằng Hán tự”, hôm nay kể thêm câu chuyện về nhóm ‘Đại Việt Hán văn hội’ này là muốn nói rằng, nếu giới ‘tinh anh’ thích ‘ngôn ngữ cao quý’, thì chữ Hán phải có gì đó hấp dẫn họ.

Vậy thì chữ Hán có nguồn gốc như thế nào, đặc điểm ra sao và tại sao lại hấp dẫn giới ‘tinh anh’ đến như vậy?

Nói về việc học và nghiên cứu ngôn ngữ, trong Chính luận thiên hạ đăng ngày 21/3, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã chia sẻ như sau: 

“Ai đã từng nghiên cứu ngôn ngữ sẽ biết rằng, lượng thông tin của Hán ngữ Trung Quốc là phong phú nhất, còn hiệu quả tạo mã là tối cao. Trong một đoạn thời gian như nhau thì lượng thông tin tích luỹ được khi dùng Hán ngữ vượt xa các ngôn ngữ khác”.

Ngoài 2 ý mà Giáo sư Chương nêu ra là: ‘lượng thông tin phong phú nhất’ và ‘hiệu quả tạo mã là tối cao’, người viết còn bổ sung thêm 1 ý nữa đó là: chữ Hán còn có ‘tự hình vượt biên giới’. 

Trung Quốc có lịch sử 5000 năm không bị gián đoạn và có hệ thống ghi chép lịch sử hoàn bị

Trong ‘Xuân Thu nguyên mệnh bao’ viết rằng: “Thương Hiệt nghiên cứu biến hoá của thiên địa, ngẩng đầu quan sát hình thế viên tròn hay gấp khúc của sao Khuê, cúi đầu quan sát hoa văn mai rùa, chim muông, sông núi, nắm rõ như lòng bàn tay mà sáng tạo ra văn tự”.

Thương Hiệt sáng tạo ra chữ Hán, đồng thời ông còn là Sử quan của Hiên Viên Hoàng Đế – nhân văn sơ tổ của dân tộc Trung Hoa, từ góc độ này có thể thấy rằng, việc sáng tạo ra chữ Hán và ghi chép lịch sử là có liên quan mật thiết với nhau.

Mà Trung Hoa là dân tộc có ghi chép về lịch sử lâu dài nhất trên thế giới, với khoảng thời gian trên dưới 5000 năm. Điều đặc biệt là, những gì ghi chép trong suốt 5000 năm đều không hề bị gián đoạn.

Lịch sử các dân tộc khác bị gián đoạn, bởi vì các dân tộc khác không đọc hiểu văn tự cổ của những nền văn minh cổ xưa của họ như Babylon, Ai Cập cổ, Maya cổ… họ không hiểu văn tự nên cũng không biết lịch sử của nền văn minh ấy như thế nào. Còn chữ Hán không thay đổi hình dạng nhiều nên người ngày nay chỉ cần học thêm ngữ pháp Hán cổ là có thể đọc được văn tự cách đây hàng mấy nghìn năm.

Thêm vào đó, sau Đại hồng thủy thì di sản văn vật của các dân tộc khác đều bị Đại hồng thủy nhấn chìm, chỉ có di sản của dân tộc Trung Hoa là được lưu lại, bằng chứng là trong lịch sử có ghi chép về ‘Đại Vũ trị thủy’, hơn nữa trước Đại Vũ còn có Tam Hoàng – Ngũ Đế, lịch sử về họ vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Ở Trung Quốc từ sau triều đại nhà Hán đã lưu lại một truyền thống gọi là ‘cách đại tu sử’ (biên soạn lịch sử triều đại trước). Nghĩa là, Hoàng đế sẽ chỉ định sử quan ghi chép lại mọi sự kiện lớn phát sinh trong triều đại của mình một cách tường tận, trong đó bao gồm cả tình hình thiên tai, kinh tế, chính trị, quân sự, chế độ quan lại, thậm chí cả đoạn lời đối đáp giữa Hoàng đế và đại thần v.v.. hết thảy đều được ghi chép lại. Những tư liệu ban sơ nhất này được cất giữ và bảo quản trong sử quán. Đợi đến sau khi vương triều này diệt vong, Hoàng đế của vương triều kế tiếp sẽ chỉ định những Nho sinh kiệt xuất chỉnh lý những tư liệu ban sơ này để viết thành chính sử của triều đại trước.

Từ đó thấy rằng: Trung Quốc có một chế độ ghi chép lịch sử hoàn bị (hoàn chỉnh) và lịch sử ghi chép không hề bị gián đoạn. Cũng vì lẽ đó nên lịch sử Trung Hoa có thể xem là dài và phong phú vượt trội hẳn so với các dân tộc khác. 

Ví như Tư Mã Thiên ghi chép lịch sử 3000 năm từ thời Hiên Viên Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế. Trong khi đó, bộ sử sách đầu tiên ở phương tây là của Herodotos – người được hậu thế tôn vinh là ‘cha đẻ của môn sử học’, thì tác phẩm của ông mang tên ‘Historiai’ ghi chép về cuộc chiến tranh giữa Ba Tư và Hy Lạp cổ đại với khoảng cách thời gian… không vượt quá 50 năm. Về sau còn có Thucydides viết quyển ‘Lịch sử chiến tranh Peloponnesus’, khoảng cách thời gian cũng chỉ là hai mươi mấy năm. Còn ‘Sử ký’ của Văn hóa truyền thống Trung Hoa với khoảng cách lịch sử 3000 năm, đã vượt xa bộ sách ‘Historiai’ và ‘Lịch sử chiến tranh Peloponnesu’ từ 60 đến 100 lần.

Còn trong loạt bài ‘Trung Hoa văn minh sử’ tập 1, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã chia sẻ về việc dạy môn lịch sử ở Mỹ như sau: “Khi tôi lên lớp lịch sử dạy cho học sinh ở Mỹ quốc, tôi nói đùa với các em rằng: ‘Các em lên Trung học phổ thông phải học một năm về lịch sử nước Mỹ – US history. Lịch sử nước Mỹ mới được 200 năm từ khi khai quốc, các em phải học trong thời gian một năm; còn lịch sử Trung Quốc trên dưới 5000 năm, nếu theo tỷ lệ đó, các em phải học 25 năm mới xong’. Học sinh liền cười”.

Hai ví dụ trên chỉ để nói rằng, việc ghi chép và độ dài của lịch sử Trung Hoa vượt trội hơn hẳn so với các dân tộc khác. 

Lượng thông tin phong phú nhất

Một trong những vai trò của chữ Hán là ghi chép lịch sử, mà lịch sử Trung Hoa 5000 năm không gián đoạn đã diễn dịch không biết bao nhiêu câu chuyện, cho nên chữ Hán chứa đựng lịch sử, nói cách khác nó chứa đựng một lượng thông tin rất lớn. Điểm này chúng ta thấy đặc biệt rõ trong thành ngữ tiếng Hán. 

Lịch sử diễn dịch một câu chuyện hay một nhân vật thường sẽ có đúc kết về sự kiện hoặc nhân vật ấy bằng một thành ngữ ngắn gọn.

Ví khi nói một vị quân vương tướng lĩnh nào đó có tài thao lược, an bang tế thế thì có một câu thành ngữ: ‘Hùng tài đại lược’. Mà thành ngữ này là lịch sử đánh giá về Hán Vũ Đế – một trong bốn ‘Thiên cổ nhất đế’ (1). Nếu tra tìm hiểu thêm nữa thì Hán Vũ Đế là vị Hoàng đế có công mở rộng biên cương, khuếch trương lãnh thổ từ 3 triệu km2 từ thời Tần Thuỷ Hoàng lên đến 6 triệu km2 (gấp 20 lần diện tích nước Việt Nam); mở ra con đường tơ lụa từ Trung Quốc qua Tây Á đến cả vùng Địa Trung Hải ở châu Âu; phế truất bách gia, độc tôn Nho thuật; thống nhất đơn vị đo lường v.v. 

Khi nói về một vị tướng dụng binh như Thần, một nhân tài hàng đầu có một không hai của quốc gia, thì người ta hay dùng thành ngữ: ‘Quốc sĩ vô song’. Thành ngữ này là Tiêu Hà đánh giá về ‘Binh Tiên’ Hàn Tín. Hàn Tín một tay lấy thiên hạ nhà Hán cho Lưu Bang, nổi tiếng với các trận đánh đã đi vào lịch sử quân sự như: ‘minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương’, thùng gỗ vượt sông, thuỷ công bình định đất Tề, tứ diện Sở ca… nhưng sau lại bị chết oan dưới tay của Lã Hậu. 

Hàn Tín – quốc sĩ vô song. (Ảnh ghép minh hoạ)

Nói về chữ ‘trung’ thì có thành ngữ về Nhạc Phi: ‘Tinh trung báo quốc’. Về chữ ‘nghĩa’ thì có: ‘Nghĩa tận Trời xanh’ dành cho Quan Vân Trường, ‘Cúc cung tận tuỵ đến chết mới thôi’ dành cho Gia Cát Lượng…

Không chỉ các thành ngữ tổng kết về nhân vật lịch sử mới hàm chứa câu chuyện lịch sử, mà những câu nói nổi tiếng của họ cũng được lưu truyền và sử dụng rộng rãi trong dân gian. Ví như câu “Đời người xưa nay ai chẳng chết / Lưu lại lòng son chiếu sử xanh – Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử / Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” thể hiện ‘nghĩa’ của văn tướng Văn Thiên Tường thời nhà Tống, mặc dù không phải tướng võ nhưng vẫn đứng ra chống lại quân Mông Cổ. Hay như câu “Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, phụ nữ trang điểm vì người mình yêu” của Dự Nhượng, đây là cái ‘nghĩa’ của thích khách để báo đáp ân tình cho chủ của mình là Trí Bá Dao.

Còn những thành ngữ thường sử dụng trong cuộc sống đời thường thì nhiều vô số kể, ở đây người viết chỉ thuận tiện đưa ra một vài ví dụ tiêu biểu mà chúng ta thường gặp.

Ví như nói về tình bạn ‘tri âm, tri kỷ’, thì đây xuất phát từ 2 điển cố. ‘Tri âm’ là câu chuyện về Bá Nha đánh đàn, Tử Kỳ có thể nghe và hiểu được Bá Nha đang nghĩ về ‘cao sơn’ hay ‘lưu thuỷ’. Còn ‘tri kỷ’ lại là câu chuyện về Bão Thúc Nha và Quản Trọng. Khi kinh doanh hay làm gì, Bão Thúc Nha (2) luôn dành những điều tốt hơn của mình cho Quản Trọng vì Bão Thúc Nha biết Quản Trọng còn có mẹ già cần phụng dưỡng, cho nên Quản Trọng mới cảm động mà thốt lên rằng: “Người sinh ra ta là cha mẹ, nhưng người hiểu ta (tri kỷ) chỉ có Bão Thúc Nha”. 

Điển cố Tử Kỳ – Bá Nha. (Ảnh sưu tầm)

Thành ngữ ‘Cốt nhục tương tàn’ (chỉ anh em tàn hại lẫn nhau) xuất phát từ câu chuyện Tào Phi và Tào Thực. Tào Phi muốn hại chết em trai là Tào Thực nên ra lệnh cho em phải làm bài thơ trong 7 bước, nếu không sẽ bị xử tội nặng. Tào Thực mới làm ‘Thất bộ thi’ (bài thơ 7 bước) với nội dung như sau: 

Nấu đậu để làm canh,
Lọc đậu để lấy nước.
Cành đậu đốt đáy nồi,
Ở trong nồi đậu khóc.
Vốn một gốc sinh ra,
Đốt nhau sao quá ác?

Nếu chúng ta tiến thêm bước nữa trong việc tìm hiểu những thành ngữ trên, ví như tìm hiểu thêm về Hán Vũ Đế, ta sẽ phát hiện thời đại của ông chính là ‘anh hùng truyền kỳ’ với văn thần võ tướng như: Tư Mã Thiên, Giả Nghị, Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, Lý Quảng v.v. Do đó thấy rằng đằng sau mỗi thành ngữ có từng lớp từng lớp những câu chuyện lịch sử với lượng thông tin được truyền tải rất lớn, mà những ngôn ngữ khác lại không có được điều này. Vậy nên mới nói rằng: Trong một đoạn thời gian dài như nhau dùng Hán ngữ, thì lượng thông tin tích luỹ được vượt xa các ngôn ngữ khác.

Phần này đã phân tích rằng Hán ngữ có ‘lượng thông tin phong phú nhất’, trong phần sau sẽ giới thiệu những câu đố ghép chữ thú vị để chứng minh ‘hiệu quả tạo mã tối cao’, đồng thời cũng đưa ra những nhìn nhận tại sao chữ Hán có ‘tự hình vượt biên giới’, kính mời quý độc giả đón xem.

Mạn Vũ

Chú thích: 

(1) Thiên cổ nhất đế: chỉ 4 vị Hoàng đế tài ba nhất trong lịch sử Trung Hoa gồm: Tần Thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông và Khang Hy.

(2) Bão Thúc Nha: có bản dịch là Bào Thúc Nha.