Nếu chúng ta sống trên quê hương xứ sở mà không hiểu biết về tổ tiên của mình thì thật đáng buồn thay…

Phần lớn thanh niên Việt Nam khi đến chùa Vĩnh Nghiêm hay chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp…  nhìn lên bảng hiệu, hoành phi, câu đối hoặc bài vị, họ sẽ cảm thấy xa lạ như bất kỳ một ngôi chùa nào ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc v.v. Tại sao vậy? Bởi vì rất nhiều người trong số họ không biết… chữ truyền thống.

Liệu người Việt có đang ‘quên mất gốc’?

Trong bài viết: ‘Khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường – một phương pháp quan trọng để giữ gìn tiếng Việt và văn hoá Việt Nam’ tham dự Hội thảo Khoa học năm 2010, PGS. TS Đoàn Lê Giang đã kể một câu chuyện như sau: 

“Có lần một sinh viên Nhật Bản khoe với tôi: ‘Em đến thăm chùa Vĩnh Nghiêm thấy đề là chùa thuộc phái Lâm Tế, em thấy rất thân thuộc vì giống như ngôi chùa ở gần nhà bà ngoại em’.

Thế nhưng đối với một thanh niên Việt Nam, thì khi họ đến chùa Vĩnh Nghiêm hay chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp…  nhìn lên bảng hiệu, hoành phi, câu đối hay bài vị, họ sẽ cảm thấy xa lạ như bất kỳ một ngôi chùa nào ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc v.v. 

Họ không còn cảm thấy có một mối dây liên hệ nào giữa mình với quá khứ của ông cha, thông qua các di tích di vật lịch sử: đình chùa, miếu mạo, thư tịch.

…Có thể nói thanh niên Việt Nam đang vong bản ngay chính trên đất nước mình”.

Chùa Tây Phương (ảnh từ Internet)

Điều ‘thân thuộc’ với sinh viên Nhật bản nhưng lại ‘xa lạ’ đối với thanh niên Việt Nam theo ý của TS Giang đó chính là: chữ Hán – Hán tự (1).

Sau bài viết của TS Đoàn Lê Giang 10 năm, người nước ngoài cũng đề cập đến chữ Hán ở Việt Nam với nội dung tương tự.

Ngày 13/5/2020, kênh truyền thông uy tín của người Hoa ở hải ngoại là Tân Đường Nhân chi nhánh San Francisco, trong chương trình ‘Hinh hương nhã cú’ (Văn mang hương thơm tao nhã) đã đăng video với nội dung ‘Vì sao Hàn Quốc và Việt Nam phục hưng chữ Hán?‘ như sau:

“Người từng đi du lịch Hàn Quốc và Việt Nam đều biết rằng, rất nhiều danh lam thắng cảnh của quốc gia họ đều được viết bằng Hán ngữ. Người Trung Quốc thì đọc hiểu, nhưng những người dân nước họ lại đọc không hiểu. Rất nhiều thư tịch của họ đều viết bằng Hán ngữ, cho nên nếu không biết Trung Văn sẽ không hiểu lịch sử quốc gia mình.

…Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Trung Hoa truyền thống. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều miếu Khổng Tử, hơn nữa trong lịch sử cũng từng thực thi khảo thí khoa cử. Hán tự – bắt đầu từ thời kỳ Tần Thuỷ Hoàng, đã từng truyền nhập vào Việt Nam, sau đó kéo dài hơn 1000 năm.

Thượng tầng xã hội ở Việt Nam coi Hán ngữ là văn tự và ngôn ngữ cao quý. Thuở trước, chiếu chỉ, công văn, khảo thí khoa cử của cung đình, v.v… rất nhiều đều là viết bằng Hán tự”.

Chiếu chỉ viết bằng chữ Hán của vua Thiệu Trị triều Nguyễn (ảnh: Wikipedia).

Điều mà TS Đoàn Lê Giang nói là “vong bản” (quên mất gốc) gần giống với điều mà kênh Tân Đường Nhân nói là “người Trung Quốc đọc (Hán tự) thì hiểu nhưng người Việt Nam hoặc Hàn Quốc đọc không hiểu”. Cả người Việt Nam và người nước ngoài đều nhắc về cùng một hiện tượng: chữ Hán có ở Việt Nam nhưng người bản địa lại đọc không hiểu. Phải chăng người Việt đang vô tình thờ ơ với chữ viết vốn từng thuộc về văn hoá dân tộc?

Học chữ Hán để làm gì?

Trước tiên về mặt khách quan, chúng ta thừa nhận với nhau một điều rằng, rất nhiều danh thắng ở Việt Nam như chùa chiền, miếu mạo, đình các… đều có chữ Hán được viết lên biển, cột, tường, thậm chí cả chuông đồng… tức là chỗ nào có thể viết được, phần lớn là viết bằng chữ Hán. 

Thêm nữa, các tác phẩm văn học bất hủ như ‘Nam quốc sơn hà’ của Lý Thường Kiệt, ‘Bạch Đằng giang phú’ của Trương Hán Siêu, ‘Hịch tướng sĩ’ của Trần Hưng Đạo, ‘Bình Ngô đại cáo’ của Nguyễn Trãi… đều viết bằng chữ Hán. Vậy thì nếu biết được chữ Hán sẽ đọc được những gì viết ở danh thắng và những tác phẩm bất hủ nêu trên, tức là có mối liên hệ với nguồn gốc tổ tiên.

Nếu chúng ta sống trên quê hương xứ sở mà không hiểu biết về tổ tiên của mình thì thật đáng buồn thay, không chừng có thể tiếp thu những tư tưởng đấu tranh ngoại lai; phỉ báng tổ tiên là mê tín phong kiến; thậm chí còn coi mình là ‘khỉ tiến hoá’, chứ không nhìn nhận mình là ‘con Rồng cháu Tiên’ (2).

Ở đây chúng tôi không có ý muốn khiên cưỡng ai đó phải học chữ Hán, chỉ muốn chia sẻ một điều: nếu không biết chữ Hán thì ít nhất cũng không nên phủ nhận, bởi vì làm thế cũng tương đương phủ nhận lịch sử, văn hoá truyền thống và tổ tiên, phủ nhận điều thực tại ngay trước mắt. 

Chữ Hán và từ ngữ Hán Việt đã tạo nên 60-70% vốn vựng tiếng Việt, cho nên mục đích gần gũi của việc học chữ Hán là để dùng từ chuẩn hơn, tránh sai chính tả.

Sẽ có ý kiến cho rằng: tại sao không học những thứ khác kiếm ra tiền, thì TS Đoàn Lê Giang trong bài viết của mình đã có câu trả lời như sau: 

“Việc giáo dục không phải chỉ học cái hiện đại, dễ kiếm tiền, việc giáo dục con người có sứ mệnh lớn hơn thế nhiều. Lợi ích của việc học chữ Hán như đã nói ở trên là để cứu lấy tiếng Việt, để bảo vệ văn hóa dân tộc, để góp phần xây dựng người Việt Nam trở thành những con người có học vấn, có căn bản, biết tiếp thu cái mới, nhưng cũng biết kế thừa tinh hoa truyền thống”.

TS Đoàn Lê Giang đã có cuộc tranh luận về việc dạy chữ Hán trong nhà trường từ năm 2010, đến năm 2016 thì kết thúc. Kết quả chữ Hán vẫn không được dạy trong trường phổ thông, mà chỉ dạy ở những Viện Hán Nôm hoặc ở một số trường Nhân văn. Nhưng không vì thế mà việc tìm hiểu, chia sẻ và tự học chữ Hán dừng lại trong dân gian.

Trên mạng xã hội đã xuất hiện những fanpage chia sẻ ý nghĩa và phân tích chữ Hán với số lượng người theo dõi gần 100 nghìn người, một số group chia sẻ việc học chữ Hán, giải nghĩa từ ngữ với thành phần là tầng lớp ‘tinh anh’…

Vậy thì chữ Hán có nguồn gốc như thế nào, hay ở đâu và tại sao lại hấp dẫn nhiều người, đặc biết là giới ‘tinh anh’ và những người yêu thích văn hoá truyền thống đến thế? Kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích:

(1) Trong loạt bài này người viết gọi Hán tự là chữ truyền thống. Tại sao lại gọi như vậy thì xin hẹn quý độc giả ở những kỳ sau.

(2) Con Rồng cháu Tiên:

Trong ‘Đại Việt sử ký toàn thư – Kỷ Hồng Bàng thị’ viết rằng: Vua (Lạc Long Quân) lấy Âu Cơ (con gái Đế Lai), sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh ra trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền nam (có bản chép về Nam Hải). Phong con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi vua. 

Lạc Long Quân là con trai của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương lại là con cháu của Thần Nông (Thần Nông thị). 

Ảnh chụp từ ‘Đại Việt sử ký toàn thư – Kỷ Hồng Bàng thị’. https://prnt.sc/1wt6k6v 

Theo ‘Bổ Sử ký – Tam Hoàng bản kỷ’ của Tư Mã Trinh triều Đường, thì Tam Hoàng gồm: Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa.

Nếu theo ‘Đại Việt sử ký toàn thư’ và ‘Bổ Sử ký – Tam Hoàng bản kỷ’ thì tộc Bách Việt (trong đó có Việt Nam) là con cháu của Thần Nông.