Đôi khi, độ dài của cuộc đời không thể quyết định được ‘độ dày’ của cuộc đời, thường nghe người ta nói hai mươi tuổi là gần một phần ba đời người, nhưng đối với nhà thơ Lý Hạ của nhà Đường mà nói, hai mươi tuổi gần như là toàn bộ cuộc đời của ông rồi!…

“Nam nhi hà bất đới Ngô câu
Thu thủ quan sơn ngũ thập châu
Thỉnh quân tạm thưởng Lăng Yên các
Nhược cá thư sinh vạn hộ hầu?”

(Nam Viên thập tam thủ số 5 của Lý Hạ)

Dịch nghĩa:
Thân trai sao lại không đeo loan đao nước Ngô, đi giành lại giang sơn năm mươi châu đã bị chiếm cứ. Mời chàng trai thử bước lên trên Lăng Yên các, nhìn xem có thư sinh nào từng được phong hầu với thực ấp một ngàn hộ không?

Dịch thơ:
Làm trai sao chẳng có Ngô câu
Thu lại giang sơn năm chục châu?
Mời người tạm đến Lăng Yên các
Liệu có thư sinh vạn hộ hầu?

[Tham khảo bản dịch của Nam Long/ thivien.net].

Mọi người thường nói cuộc đời như giấc mơ, một kiếp người bỗng chốc trôi qua, thực sự là quá vội vàng. Độ dài của cuộc đời không thể quyết định được ‘độ dày’ của cuộc đời, thường nghe người ta nói hai mươi tuổi là gần một phần ba đời người, nhưng đối với nhà thơ Lý Hạ của nhà Đường được mệnh danh “Thi Quỷ” mà nói, hai mươi tuổi gần như là toàn bộ cuộc đời của ông rồi.

Cuộc đời của Lý Hạ tuy ngắn ngủi, nhưng lại có quá nhiều nhãn mác và ký hiệu. “Thi Quỷ” là sự khẳng định đối với thành tựu văn học của ông, cũng là sự nuối tiếc cho sự ra đi quá sớm của ông, phong cách thơ ‘quỷ quyệt’ và diễm lệ của Lý Hạ đã khơi dậy những cuộc thảo luận sôi nổi và sự học tập phong cách trong giới Đường thi.

Phong cách thơ của Lý Hạ không giống với Thái Bạch, Ma Cật, ngoài ra còn sáng tạo ra phong cách độc đáo, sở trường của ông là dùng giọng điệu cực kỳ lạnh để miêu tả sự vật, cộng thêm điêu khắc, rồi dùng những màu sắc rất lạnh để trau chuốt kỹ lưỡng, thơ của  Lý Hạ trước sau đều ngập tràn phong cách riêng biệt vô cùng khéo léo và ‘quỷ quyệt’.

Thơ của Lý Hạ thật sự là rất khó để bắt chước bởi sự siêu việt của thi phẩm, đây cũng là lý do vì sao Lý Hạ chỉ sống được 27 năm, trong tình trạng sáng tác không nhiều tác phẩm để đời mà vẫn nhận được sự khẳng định và theo đuổi của mọi người. Lý Hạ là thiên tài trăm năm khó gặp, sự thay đổi của thời đại và sự ảnh hưởng của môi trường sống cá nhân đã tạo ra phong cách thơ độc nhất vô nhị của thi nhân.

Mặc dù Lý Hạ không có nhiều tác phẩm để đời, nhưng đặc điểm trong phong cách thơ của ông lại rất rõ ràng, mà thơ của ông cũng không hoàn toàn là phong cách ‘quỷ quyệt’ khó hiểu, trong đó có một số bài thơ được lưu truyền ngàn năm mà vẫn luôn được mọi người yêu thích, cũng thể hiện hoài bão và lý tưởng của Lý Hạ về mặt quân sự và chính trị.

Thiếu niên cô độc nhìn có vẻ như không tranh giành với thế gian, nhưng thật ra trong lòng ẩn chứa nhiệt huyết sôi sục, tất cả những điều này, chi bằng bắt đầu nói từ một bài thơ và một cuộc đời.

‘Làm trai sao chẳng có Ngô câu’?

Lý Hạ sinh vào khoảng năm 791, tự Trưởng Cát, bởi vì gia đình sống ở Xương Cốc, người đời sau còn gọi ông là Lý Xương Cốc, gia tộc Lý Hạ là hậu duệ của Trịnh Vương Lý Lượng thuộc tông thất nhà Đường. Trên người Lý Hạ có dòng máu của gia tộc hoàng thất, theo lý mà nói ông phải có thân phận tôn quý, nhưng sinh ra trong thời Trung Đường, sức ảnh hưởng của gia tộc Lý Đường sau khi trải qua loạn An Sử đã không còn được như trước nữa. Hơn nữa Lý Hạ chỉ là con cháu của một phiên vương, gia tộc đã suy yếu từ lâu, cho dù là dòng máu quý tộc nhưng đã mất đi những đãi ngộ của quý tộc từ lâu rồi…

Hình minh họa Lý Hạ trong cuốn sách Vãn tiếu Đường trúc trang hoạch truyện năm 1743 (Nguồn: Wikipedia)

Tuy nhiên, Lý Hạ tin chắc rằng có thể dựa vào chính mình để tạo dựng được một sự nghiệp riêng. Lý Hạ thông minh lanh lợi, bảy tuổi đã có thể làm thơ đối câu, từ lâu đã nổi tiếng xa gần trong phạm vi mấy dặm, cũng từng được các nhân vật lớn như Hàn Dũ tán dương, rất nhiều người đều cho rằng Lý Hạ chắc chắn có thể tạo dựng được thành tựu trong giới văn học và trong chính trị. Bản thân Lý Hạ cũng nghĩ như vậy, cuộc đời một người là nên dùng để phục vụ đất nước.

Lý Hạ viết ra câu “Nam nhi hà bất đới Ngô câu” – Làm trai sao chẳng có Ngô câu
trong “Nam Viên thập tam thủ số 5” (Nam Viên thập tam thủ tức là 13 bài thơ Nam Viên), trực tiếp diễn đạt rõ ràng là dũng sĩ nên bước lên chiến trường để lập chí báo quốc, phải làm một người có thể phó xuất hết mình vì tổ quốc và niềm tin, cho dù trong văn học đạt được thành tựu và vị địa cao đến đâu cũng không bằng một dũng sĩ giết địch.

Đeo Ngô câu lên trên người – đeo vũ khí lên trên người chính là mơ ước cả đời của Lý Hạ. Đáng tiếc, thật sự chỉ là mơ ước mà thôi (Ngô câu là một loại loan đao của nước Ngô).

Cuộc đời Lý Hạ đi ngược lại với lý tưởng được viết trong “Nam Viên thập tam thủ số 5” – bài thơ này không giống với những bài thơ khác của Lý Hạ, Lý Hạ viết những bài thơ khác hoặc ít hoặc nhiều vẫn có văn phong ẩn giấu, cố ý lấy đó làm đặc điểm, nhưng trong bài “Nam Viên thập tam thủ số 5” này thì rất trực tiếp và rõ nghĩa, không có quá nhiều sự uyển chuyển về mặt vận dụng từ ngữ, mà trực tiếp diễn đạt tâm trạng chân thật nhất cũng như bày tỏ tâm trạng bất đắc chí của thi nhân.

‘Liệu có thư sinh vạn hộ hầu’?

Trong cuộc đời ngắn ngủi của Lý Hạ, những đau khổ và những lời giễu cợt mà ông từng nếm trải nhiều hơn những người cùng lứa tuổi, những trải nghiệm trong cuộc đời ông không bao giờ thiếu kịch tính cả.

Cha của Lý Hạ tên Lý Tấn Túc – đây vốn dĩ là một cái tên rất bình thường, nào ngờ lại có thể trở thành một mầm mống gây ra bi kịch một đời cho con trai mình.

Năm Nguyên Hòa thứ hai (năm 807), Lý Hạ khi đó mới 18 tuổi, đang chuẩn bị tham gia kỳ thi tiến sĩ. Trong vòng thi tiến sĩ, bài “Nhạn Môn thái thú hành” do Lý Hạ sáng tác nhận được rất nhiều lời khen của giám khảo, đồng thời cũng thu hút được sự chú ý của đại văn hào Hàn Dũ và một số người khác.

Như vậy xem ra con đường làm quan trong tương lai của Lý Hạ dường như là thuận buồm xuôi gió, tiền độ rộng mở, nhưng biết người biết mặt không biết lòng, không ngờ những kẻ đố kỵ Lý Hạ lại lợi dụng tên của cha Lý Hạ để cố tình làm lớn chuyện, bọn họ viết tấu thư lên triều đình, nói cha của Lý Hạ tên là Lý Tấn Túc, bởi vì “tấn” (Jìn) cùng âm với “tiến” (Jìn), vì để kỵ húy, Lý Hạ không được thi tiến sĩ (Kỵ húy là một yêu cầu cần phải tránh trùng tên với vua hoặc bậc tôn quý trong lịch sử Trung Quốc).

Hoàng đế tất nhiên biết rằng làm như vậy là rất không công bằng với Lý Hạ, nhưng vì muốn duy trì sự thống trị được ổn định, và xoa dịu tâm trạng của một số đại thần, cuối cùng vẫn tước quyền dự thi kỳ thi tiến sĩ của Lý Hạ.

Tài liệu lịch sử ghi chép, khi đó Hàn Dũ nghe được chuyện này, có lẽ là xuất phát từ tâm lý yêu thương đối với hậu bối, hoặc là về mặt đạo đức và tình cảm cá nhân không cho phép, ông đích thân cầm bút lên viết một bài biện luận ngắn với tiêu đề là “húy biện”, để tranh biện lý lẽ cho kỳ tài văn học này, trong bài biện luận viết là: Cha tên “Tấn Túc”, con không được thi “tiến sĩ”; nếu cha tên “nhân”, con không được làm “người” hay sao?

Hàn Dũ đã viết một bài biện luận ngắn để tranh biện lý lẽ cho Lý Hạ (Ảnh minh hoạ: Shutterstock)

Bài văn này của Hàn Dũ viết rất có lý lẽ và luận cứ, là một bài biện luận ngắn cực hay, nhưng văn chương có hay đến mấy cũng phải khuất phục trước hiện thực quyền uy – sự im lặng của kẻ thống trị đã gián tiếp tạo nên bi kịch của Lý Hạ. Lý tưởng chính trị của Lý Hạ đã bị vụt mất, số phận định sẵn phải trở thành một người tầm thường không ai biết đến, âm thầm sống qua ngày, đảm nhận một chức quan nhỏ ở địa phương, tầm thường đến hết đời.

Lý Hạ là một người có lý tưởng lớn trong lòng, làm sao có thể chấp nhận kết cục như vậy chứ? Đối với Lý Hạ mà nói, nếu như đời này phải sống tạm bợ qua ngày, không làm được chuyện lớn gì cho đất nước, thì còn khó chịu hơn là cái chết.

Giống như Lý Hạ viết trong “Nam Viên thập tam thủ số 5” là: “Thỉnh quân tạm thượng Lăng Yên các; Nhược cá thư sinh vạn hộ hầu?”Mời người tạm đến Lăng Yên các; Liệu có thư sinh vạn hộ hầu?

Bên trong Lăng Yên các treo toàn những bức tranh chân dung của những nhân vật lừng lẫy có danh tính đàng hoàng, họ đều là những người lập được công lao hiển hách, một thư sinh giống như Lý Hạ làm sao có thể có cơ hội được tôn vinh trong trong Lăng Yên các, chứ đừng nói đến được liệt vào hàng vương hầu có trong tay mấy vạn hộ thực ấp, bởi từ xưa đến nay chưa từng có một thư sinh nào được phong hầu cả.

Chí lớn của Lý Hạ chỉ có thể bị mắc kẹt trong hiện thực mà thôi, Lý Hạ vô cùng buồn bã, cuối cùng từ quan quay trở về Nam Viên, ba năm sau, bệnh chết trong nhà.

Bi kịch của Lý Hạ chính là sự vỡ mộng sau khi hiện thực và lý tưởng mâu thuẫn với nhau, tuy rằng dưới cách nhìn của người đời sau, Lý Hạ đã để lại cho hậu thế rất nhiều sáng tác tuyệt vời, thành tựu của Lý Hạ đã vượt xa những vị tướng quân lập được chiến công hiển hách, đây chính là thành công theo một ý nghĩa khác. Tuy nhiên chúng ta không thể nào hiểu được những đau khổ mà Lý Hạ đã đối mặt khi đó, Lý Hạ cả đời đều sống với tính cách nhạy cảm và hướng nội, vì vậy ông hiếm có tác phẩm nào mang tính biểu lộ cảm xúc mãnh liệt.

Sở dĩ bốn câu thơ ngắn ngủi trong bài “Nam Viên thập tam thủ số 5” lưu truyền ngàn năm mà vẫn được mọi người ca tụng và ngưỡng mộ, không chỉ vì ý nghĩa nghệ thuật của nó, mà còn là vì tác giả của bài thơ này phải hao tốn toàn bộ công sức và tinh thần mới có thể nói ra được tuyên ngôn cuộc đời của mình.

Bài thơ này của Lý Hạ đã viết ra lý tưởng và chí hướng của ông, và cũng ám chỉ bi kịch cuộc đời ông ở một góc độ khác.

Trong thời thanh xuân niên thiếu dám nhìn thẳng vào lý tưởng của chính mình, khi lý tưởng và hiện thực hoàn toàn trái ngược nhau thì cần phải tự mình đưa ra lựa chọn, đây có lẽ cũng là lý do mà “Nam Viên thập tam thủ số 5” trở thành một thi phẩm bất hủ hơn một ngàn năm nay vậy.

Theo Secret China
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.news||c00e1f007__

Ad will display in 09 seconds

Từ Khóa: