Trong rừng thơ Đường muôn màu muôn vẻ, Lý Bạch chính là một đỉnh cao “duy ngã độc tôn”, vươn tận chín tầng trời. Ở thể loại nào, Lý Bạch cũng để lại những tuyệt tác.

  • Xem trọn bộ Thiên cổ anh hùng
  • Tiếp theo Kỳ 1 2 3 4 5 6 7 
  • Ngoài những bài thơ tuyệt tác, rung động lòng người, Lý Bạch còn có một số tác phẩm từ (từ là dạng thơ biến điệu, gieo vần và kết cấu thoải mái hơn thơ luật, mang âm hưởng nhạc). “Tôn tiền tập” có chép 12 bài, “Hoa am tuyệt diệu từ tuyển” có chép 7 bài. Trong đó, các bài “Thanh bình điệu”, “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” lúc đó được nhạc sư Lê Viên phối nhạc diễn xướng.

    Tản văn của Lý Bạch, ngày nay còn lại hơn 60 bài. Đa phần là câu đối ngẫu, nhưng ngôn từ tự nhiên, rất trôi chảy, so với phong cách thơ ca của ông cũng có chỗ tương đồng. Trong đó, hai bài tản văn “Dữ Hàn Kinh Châu thư” (Thư gửi ông Hàn ở Kinh Châu), “Xuân dạ yến tòng đệ đào hoa viên tự” (Lời tựa dạ tiệc đêm xuân theo em đến vườn hoa đào), được người đời sau lựa chọn, truyền tụng rộng rãi.

    Đồng thời, Lý Bạch viết rất nhiều thơ về sơn thủy, ý thơ mĩ diệu, tươi đẹp. Có những câu thơ nổi tiếng như trong bài “Tầm Dương tống đệ Xương Cự Bà Dương Tư Mã tác”:

    Nhân thừa hải thượng nguyệt
    Phàm lạc hồ trung thiên

    Dịch thơ:

    Người cưỡi trăng trên biển
    Giữa trời nước buồm rơi

    Hay bài “Nguyệt dạ giang hành Thôi viên ngoại Tông Chi”:

    Nguyệt tùy bích sơn chuyển
    Thủy hợp thanh sơn lưu
    Yểu như tinh hà thượng
    Đãn giác vân lâm u

    Dịch thơ:

    Trăng theo non xanh chuyển
    Nước cùng núi biếc trôi
    Mênh mông Ngân Hà thẳm
    Vắng lặng rừng mây xa

    Hoặc như bài “Kim Lăng thành tây lâu nguyệt hạ ngâm”:

    Kim Lăng dạ tịch lương phong phát
    Độc thướng tây lâu vọng Ngô Việt
    Bạch vân ánh thủy dao không thành
    Bạch lộ thùy châu trích thu nguyệt

    Dịch thơ:

    Kim Lăng đêm vắng cơn gió lạnh
    Lặng bước lầu tây ngắm Việt Ngô
    Mây soi bóng nước rung thành vắng
    Sương trắng hạt châu ướt trăng thu

    Bức tranh “Dạ tiệc mùa xuân trong vườn đào, mận”, lấy đề tài từ bài “Lời tựa dạ tiệc đêm xuân theo em đến vườn hoa đào” của Lý Bạch (còn có tên khác là “Lời tựa dạ tiệc mùa xuân trong vườn đào mận”), do Lãnh Mai đời Thanh vẽ, lưu giữ ở Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc. Ảnh en.wikipedia.org

    Lý Bạch làm rất nhiều thơ tiễn bạn. Một trong những bài nổi tiếng nhất, được nhiều người biết đến là: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (Ở lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng). Trong đó có những câu như: “Cô phàm viễn ảnh bích không tận. Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu” (Cánh buồm lẻ loi màu xanh xa dần mất hút. Chỉ thấy dòng Trường Giang nước chảy bên trời). Lý Bạch còn viết một bài tiễn bạn khác tên là: “Tống hữu nhân” cũng rất đặc sắc:

    Thanh sơn hoành bắc quách
    Bạch thủy nhiễu đông thành
    Thử địa nhất vi biệt
    Cô bồng vạn lý chinh
    Phù vân du tử ý
    Lạc nhật cố nhân tình
    Huy thủ tự tư khứ
    Tiêu tiêu ban mã minh

    Dịch thơ:

    Núi xanh ngang lũy bắc
    Sông trắng quanh thành đông
    Nơi đây ta tiễn biệt
    Buồm đơn vạn dặm trông
    Lãng tử phù vân ý
    Hoàng hôn tình cố nhân
    Vẫy tay chào li biệt
    Vang rền tiếng ngựa phi

    Lãng tử ra đi, cánh buồm đơn độc vạn dặm trường như đám phù vân phiêu dạt vô định. Cố nhân tiễn biệt như lưu luyến ánh hoàng hôn, tình cảnh giao hòa, đọc thơ như thấy tâm ở trong cảnh vậy.

    Lý Bạch đến thăm Cô Tô, nơi năm xưa Ngô Vương Phù Sai và mỹ nhân Tây Thi ngày đêm vui thú uống rượu hát ca, bỗng chạnh lòng nhớ xưa, viết một bài vịnh sử thi “Ô thê khúc”. “Ô thê khúc” là nhạc phủ, tên cũ là “Thanh thương khúc từ – Tây khúc ca”. “Đường Tống thi thuần” bình luận bài thơ này của Lý Bạch như sau: “Cái ý vui quá hóa buồn được tả khéo léo, chẳng mấy chốc đã hiện ra cảnh Cô Tô thê lương. Tất cả đã nói hết ra, có thể nói là gửi ý tứ sâu xa vào vẻ vui thú. Riêng câu cuối, tuyệt diệu vô cùng”. Hạ Tri Chương ca ngợi, khen rằng “có thể làm quỷ thần khóc”.

    Cô Tô đài thượng ô thê thì
    Ngô Vương cung lý túy Tây Thi
    Ngô ca Sở vũ hoan vị tất
    Thanh sơn dục hàm bán biên nhật
    Ngân tiễn kim hồ lậu thủy đa
    Khởi khán thu nguyệt trụy giang ba
    Đông phương tiệm cao nại lạc hà

    Dịch thơ: 

    Cô Tô quạ đến đậu trên đài
    Vua Ngô ngây ngất Tây Thi say
    Múa ca Ngô Sở vui chửa dứt
    Núi xanh đã khuất nửa mặt trời
    Bình vàng tên bạc nước chơi vơi
    Nhìn vầng trăng rụng sóng xa vời
    Hừng đông trời rạng dở cuộc chơi 

    Giống như Lý Bạch, Hạ Tri Chương cũng là người tu Đạo. “Nguyên hóa ký” viết: Hạ Tri Chương có nhà ở phường Nghi Bình, Tây Kinh. Đối diện có một cánh cổng nhỏ, thường thấy một cụ già cưỡi lừa ra vào cổng đó. Qua 5, 6 năm, thấy nhan sắc, y phục cụ già vẫn như cũ, mà cũng không thấy gia quyến. Hỏi người trong ngõ, đều nói là ông Vương bán tiền ở chợ Tây, không làm nghề gì khác nữa.

    Thấy ông cụ phi phàm, nên thường ngày rảnh rỗi sang thăm. Cụ già tiếp đón rất cung kính, chỉ có một đồng tử sai bảo. Hạ Tri Chương hỏi nghề cụ. Cụ già trả lời tùy ý. Do có qua lại, nên dần dần kính lễ hơn, trò chuyện cũng dần thân mật, bèn nói chuyện về thuật hoàng bạch (thuật luyện đan – ND).

    Hạ Tri Chương rất tin tưởng và coi trọng, mong muốn được chỉ bảo. Sau này cùng với phu nhân cầm viên ngọc minh châu, nói là cất giữ đã nhiều năm, xin dâng tặng cụ già, cầu xin cụ thuyết giảng đạo pháp. Cụ già đưa viên minh châu cho đồng tử, bảo đi chợ mua bánh về. Đồng tử đem viên minh châu đổi được hơn 30 cái bánh, rồi mời Hạ Tri Chương.

    Hạ Tri Chương thầm nghĩ, viên minh châu quý giá mà không biết sử dụng, trong lòng rất không vui. Cụ già nói: “Đạo có thể đắc được bằng tâm, sao có thể dùng sức mà tranh được. Keo kiệt tiếc rẻ chưa dứt, thuật không thể thành được. Nên đến thâm sơn cùng cốc, cần mẫn cầu tìm đến với đạo, nơi phố xá chẳng phải nơi truyền thụ”. Hạ Tri Chương ngộ ra, cảm tạ cáo lui. Mấy ngày sau, không thấy nơi cụ già ở đâu nữa. Hạ Tri Chương vì vậy xin từ quan, theo đạo về quê. 

    Sau khi được thần tiên lão Vương điểm ngộ, năm Thiên Bảo thứ 3 (năm 744), Hạ Tri Chương dâng sớ xin được làm tu sĩ, về quê, lấy nhà làm đạo quán. Huyền Tông đồng ý và bổ nhiệm con trai ông Điển thiết lang Tăng Tử Vi làm Triều tán đại phu, Tư mã quận Cối Kê, rồi lệnh nuôi dưỡng, đồng thời lệnh cho Thái tử trở xuống đến khắp bá quan văn võ trong triều đều tề tựu tiễn biệt, nghi lễ long trọng.

    Trong nghi lễ tiễn biệt, Lý Bạch viết bài thơ “Tống Hạ tân khách quy Việt”, trong thơ ông ví Hạ Tri Chương với Vương Hy Chi:

    Kính Hồ lưu thủy dạng thanh ba
    Cuồng khách quy chu dật hứng đa
    Sơn Âm đạo sỹ như tương kiến
    Ưng tả “Hoàng đình” hoán bạch nga 

    Dịch thơ: 

    Kính Hồ nước chảy gợn sóng xanh
    Cuồng khách dật hứng biệt ly hành
    Sơn Âm đạo sỹ ông về gặp
    “Hoàng đình” đổi ngỗng chữ vang danh

    Đại thư pháp gia đời Tấn Vương Hy Chi ghi chép Lan Đình thịnh hội là ở Sơn Âm, quê hương của Hạ Tri Chương. Mà Hạ Tri Chương bản thân cũng là thư pháp gia nổi tiếng. Theo “Thái bình ngự lãm” quyển 238 có chép, Vương Hy Chi rất yêu thích ngỗng trắng. Sơn Âm có vị đạo sỹ biết vậy, bèn thỉnh ông viết kinh điển Đạo giáo “Hoàng đình kinh”, đồng thời đem đàn ngỗng trắng mà đạo sĩ nuôi để báo đáp. Do đó Thi tiên nói, lần này Hạ Tri Chương hồi hương, e là sẽ có đạo sĩ tìm đến xin chữ. Năm xưa Vương Hy Chi viết “Hoàng đình kinh” đổi ngỗng trắng, cũng chính tại núi Sơn Âm. Do đó, hai câu cuối mượn chuyện Vương Hy Chi xưa để ca ngợi thư pháp Hạ Tri Chương cao siêu tuyệt diệu. 

    Chân dung Hạ Tri Chương, trong “Tập tranh Tam tài”. Ảnh en.wikipedia.org

    Sau khi Lý Bạch viết bài thơ này, Đường Huyền Tông cũng ngự bút viết bài thơ “Tống Hạ Tri Chương quy Tứ Minh” để tiễn biệt ông:

    Bỏ vinh hoa nhập Đạo
    Mượn cáo lão từ quan
    Lòng luyến tiếc hiền năng
    Tài sánh tâm cao thượng
    Trong khắp cõi yếu nhân
    Xa trần thế thanh tâm
    Cửa thành đông đưa tiễn
    Quần thần rầu rĩ trông

    Đồng thời, Huyền Tông tự viết lời tựa rằng: “Năm Thiên Bảo thứ 3, Thái tử tân khách (chức quan – ND) Hạ Tri Chương, thấy rõ tri túc, dâng sớ quy lão, từ bỏ vinh hoa, quyết chí nhập Đạo. Trẫm xét ông ta đã cao tuổi, lấy việc treo mũ từ quan cốt để ngao du cùng tùng hạc. Ngày 5 tháng Giêng sẽ trở về Cối Kê, bèn đưa tiễn ở cửa đông thành và lệnh lục khanh, các quan thứ doãn, đại phu, dựng cổng giăng trướng để tiễn đưa vậy. Đâu chỉ đức cao thượng, còn khích lệ giúp người, chẳng khác Nhị Sơ (Sơ Quảng, Sơ Thụ), rạng ngời sử sách. Bởi vậy làm thơ đưa tiễn”. 

    Sau này, khi Đường Túc Tông kế vị, nghĩ về thầy của mình (Hạ Tri Chương từng là thầy của Thái tử), nên vào năm Càn Nguyên thứ nhất (năm 757) đã xuống chiếu rằng: “Đạo sĩ Hạ Tri Chương ở Thiên Thu Quán, châu Việt xưa, khí chất bình hòa, thanh đạm, tấm lòng hòa nhã, thần thái thanh cao, chí hướng nhã dật, học rộng tài cao, như mũi tên quý của Cối Kê, như ngọc quý của Côn Cương. Do đó vang danh khắp cõi, thuyết giảng ở Long Lâu, thường tĩnh lặng dưỡng nhàn, nói hài hòa mà can gián nhẹ nhàng. Lấy cớ tuổi cao mà từ bỏ quan lộc, thật là thành thực, muốn theo gương hai ông (Nhị Sơ), thỏa cái chí của Tứ Minh. Thỏa chí ban đầu, cởi bỏ triều phục, cưỡi trâu xanh trở về, mặc áo thường dân mà đi thẳng. Cung điện chẳng như xưa, người và đàn đều không còn, chỉ còn lòng nhớ xưa sâu thẳm, nên gia phong nhục lễ, để biểu thị vinh quang. Tặng Lễ bộ thượng thư”.

    Hạ Tri Chương gặp được thần tiên Vương Lão, từ đó thay đổi vận mệnh, cuối cùng bỏ quan tu đạo. Sau khi Hạ Tri Chương hồi hương đã viết chùm thơ 2 bài “Hồi hương ngẫu thư” (Thơ viết ngẫu nhiên lúc về quê) vang danh thiên hạ: 

    Hồi hương ngẫu thư (kỳ 1)

    Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi
    Hương âm vô cải mấn mao thôi
    Nhi đồng tương kiến bất tương thức
    Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai

    Dịch thơ:

    Từ nhỏ ra đi già hồi hương
    Giọng quê không đổi tóc pha sương
    Trẻ con trông thấy mà không biết
    Cười hỏi cụ già khách qua đường?

    Hồi hương ngẫu thư (kỳ 2)

    Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa
    Cận lai nhân sự bán tiêu ma
    Duy hữu môn tiền Kính Hồ thủy
    Xuân phong bất cải cựu thời ba

    Dịch thơ:

    Ly biệt quê hương đã bao năm
    Người xưa việc cũ bán tiêu vong
    Kính Hồ trước ngõ còn như cũ
    Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa 

    Người đời sau đa số đều cho rằng đây là hai bài thơ thương cảm nhưng kỳ thực ngụ ý thực sự của nó là để ngộ ra ý nghĩa nhân sinh, tích cực hướng lên. Bởi vì lúc đó Hạ Tri Chương đã được thần tiên điểm ngộ. Tuy cảm khái rằng cái duyên tìm đến với đạo của mình muộn quá nhưng rốt cuộc Hạ Tri Chương cũng đã tìm được nơi quy về của sinh mệnh. “Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai”, một chữ “tiếu” (cười) đã biểu lộ ra niềm vui của Hạ Tri Chương sau khi đắc đạo. 

    Năm Thiên Bảo thứ 6 (năm 747), Lý Bạch về thăm ông già Hạ Tri Chương, nhưng ông đã rời thế gian. Thi tiên để lại 2 bài thơ, thấy rõ tình nhớ thương của bạn thơ cũng là bạn đạo.

    Đối tửu ức Hạ giám nhị thủ bính tự (Hai bài thơ uống rượu nhớ Hạ giám và lời tựa)

    Thái tử Tân khách Hạ Công, đã gặp tôi ở Tử Cực Cung ở Trường An, gọi tôi là “Trích tiên nhân” (Ông tiên bị giáng đày), rồi cởi Kim quy đổi rượu uống vui say. Ông mất rồi, tôi ngồi trước chén rượu, rầu rĩ dâng đầy trong tim, rồi làm thơ này.

    Kỳ 1 (phần 1)

    Tứ Minh hữu cuồng khách
    Phong lưu Hạ Quý Chân
    Trường An nhất tương kiến
    Hô ngã Trích tiên nhân
    Tích hiếu bôi trung vật
    Phiên vi tùng hạ trần
    Kim quy hoán tửu xứ
    Khước ức lệ chiêm cân

    Dịch thơ:

    Tứ Minh có cuồng khách
    Hạ Quý Chân phong lưu
    Trường An ta tương kiến
    Gọi tôi Trích tiên nhân
    Xưa yêu chén rượu ngọt
    Gốc thông chuyển bụi hồng
    Nơi Kim quy đổi rượu
    Nhớ ông lệ ướt khăn

    Kỳ 2 (phần 2)

    Cuồng khách quy Tứ Minh
    Sơn Âm đạo sĩ nghênh
    Sắc tứ Kính Hồ thủy
    Vị quân đài chiểu vinh
    Nhân vong dư cố trạch
    Không hữu hà hoa sinh
    Niệm thử yểu như mộng
    Thê nhiên thương ngã tình 

    Dịch thơ:

    Cuồng khách về Tứ Minh
    Sơn Âm đạo sĩ nghênh
    Vua ban nước Kính Hồ
    Ao đài được cùng vinh
    Nhà xưa người đã mất
    Sen nở tràn tự sinh
    Nỗi nhớ mờ như mộng
    Thê lương thương xót tình 

    Thơ ca Lý Bạch, “mở miệng thành chương, có thể nói, không có ý rèn giũa tinh tế mà không câu chữ nào không tinh tế tuyệt diệu” (Hồ Ứng Lân – đời Minh). Đúng như Đỗ Phủ viết: “Lý Bạch thơ vô địch, bay bổng ý phi phàm”. Lý Bạch chính là một mình trên thi đàn, không ai so sánh nổi, tươi mới xuất chúng, ý tứ mẫn tiệp.

    Bì Nhật Hưu thời Vãn Đường nói về phong cách nghệ thuật thơ ca của Lý Bạch như sau: “Ngôn từ vượt ra khỏi trời đất, ý tứ vượt quá quỷ thần. Đọc thơ ca ông thì thần hồn ngao du bát cực, dò xem thơ ca ông thì tâm hồn ôm cả thiên hạ”. Lại có Trần Sư Đạo đời Bắc Tống bình luận về phong cách thơ ca của Lý Bạch rằng: “Như tấu nhạc giữa hồ Động Đình mênh mông, không thấy đầu cũng chẳng thấy cuối, không theo đường xưa lối cũ, chẳng kẻ bút nghiên nào có thể mô phỏng được”. 

    Bạch Cư Dị viết trong bài thơ “Lý Bạch mộ” rằng:

    Bên sông Thái Thạch mộ ông đây
    Bao quanh vô hạn cỏ liền mây
    Mồ hoang chín suối thương xương cốt
    Kinh thiên động địa áng thơ bay
    Thi nhân mấy kẻ không bạc mệnh
    Chìm nổi như ông chẳng có người

    Đỗ Phủ trong “Ký Lý Thập Nhị Bạch nhị thập vận” viết rằng:

    Năm xưa có cuồng khách
    Gọi ông Trích tiên nhân
    Vung bút kinh mưa gió
    Thơ xong khiếp quỷ thần
    Thanh danh vang khắp cõi
    Một sớm bỗng trầm luân
    Văn phong riêng khác lạ
    Lưu truyền mãi tuyệt luân

    Chỉ mấy câu thơ trên đã cho thấy danh vọng của Lý Bạch trong lòng các độc giả, nhà phê bình, bạn thơ và bạn văn lớn đến thế nào. Trong rừng thơ Đường muôn màu muôn vẻ, Lý Bạch chính là một đỉnh cao “duy ngã độc tôn”, vươn tận chín tầng trời. Ở thể loại nào, Lý Bạch cũng để lại những tuyệt tác. Nhiều câu thơ của ông được hậu thế nằm lòng, rồi trở thành châm ngôn, cách ngôn, ví như: “Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu. Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu” (Rút dao chặt nước nước càng chảy, nâng chén tiêu sầu sầu thêm vương) hay như: “Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng. Thiên kim tán tận hoàn phục lai” (Trời sinh ta có tài ắt là hữu dụng, ngàn vàng tiêu sạch rồi lại có)… 

    Theo Epoch Times
    Nam Phương biên dịch