Nho gia nhìn nhận con người có đồng thời hai mặt thiện – ác và để giáo hoá con người thì dùng ‘Lễ’ để ước thúc. Còn Pháp gia cho rằng nhân tính bản ác và phải dùng ‘Hình’ (hình phạt hà khắc) để trừng trị, cho nên học thuyết của Pháp gia có thể được gói gọn trong 3 chữ: ‘tính ác luận’ và biện pháp thực hiện là ‘lấy ác trị ác’.

Pháp gia có 3 nhân vật đại biểu là: Thương Ưởng, Lý Tư và Hàn Phi Tử. Trong đó Thương Ưởng là người đặt nền móng với ‘Thương Ưởng biến pháp’ (cải cách Thương Ưởng), Hàn Phi Tử là người hệ thống hoá tư tưởng Pháp gia, còn Lý Tư dùng âm mưu giúp Tần Thuỷ Hoàng tiêu diệt 6 nước chư hầu và thực hiện ‘phế phân phong, trí quận huyện’.

Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu một chút về cuộc đời Thương Ưởng.

Vệ Ưởng ở nước Nguỵ

Tên ban đầu của Thương Ưởng không phải là Thương Ưởng mà là Vệ Ưởng hoặc Công Tôn Ưởng, sau này ông được Tần Hiếu Công phong cho đất Thương, thế là lấy đất làm họ, nên mới trở thành Thương Ưởng. 

Vệ Ưởng là con trai của người vợ thứ của nước Vệ. Ông cảm thấy nước Vệ quá nhỏ để khai triển tài năng, nên ông đến nước Ngụy nương nhờ chỗ Công Thúc Tọa – Tướng quốc của Ngụy Huệ Văn vương. Công Thúc Tọa cho Vệ Ưởng làm ‘trung thứ tử’ (中庶子), tức quan phụ trách việc giáo dục con cái.

Khi đó Vệ Ưởng rất trẻ. Công Thúc Toạ rất thích Vệ Ưởng, thường cùng anh ta đàm luận, cảm thấy đây là chàng trai rất có tài năng.

Sau này Công Thúc Tọa mắc trọng bệnh, Nguỵ Huệ Văn vương đích thân đến thăm. Nguỵ vương rất buồn hỏi Công Thúc Tọa: ‘Nếu ngày kia ông mất, chính trị quốc gia nước Ngụy nên ủy thác cho ai đây?’. Công Thúc Tọa nói: ‘Trong nhà thần có một người dạy học cho các con tên là Vệ Ưởng, tuy người ấy trẻ tuổi nhưng rất có thực tài, thỉnh đại vương dùng người ấy làm Tướng quốc’. Nguỵ vương không nói gì bởi vì hoàn toàn không biết người này. Công Thúc Tọa lại nói thêm: ‘Nếu ngài không dùng cậu ta, nhất định phải giết cậu ta’.

Nguỵ vương đứng dậy đi về, vừa đi vừa nói: ‘Công Thúc Toạ xem ra không được rồi, thần trí không thanh tỉnh, lúc thì nói ta dùng Vệ Ưởng, lúc thì bảo ta phải giết cậu ấy’.

Sau khi Nguỵ vương đi, Công Thúc Tọa bảo Vệ Ưởng đến đầu giường rồi nói: ‘Vừa rồi ta tiến cử cậu với quốc vương, còn nói với ngài ấy: nếu không dùng cậu thì phải giết cậu đi. Ta cảm thấy không thể dùng cậu, thì ngài ấy sẽ giết cậu, nên cậu hãy rời khỏi đây đi’. 

Vệ Ưởng bình tĩnh nói: ‘Không cần, nếu quốc vương không nghe lời của ngài mà dùng tôi, thì ông ấy cũng sẽ không nghe lời ngài mà giết tôi’. 

Câu trả lời này cho thấy Vệ Ưởng là người có tư duy chặt chẽ vì ông biết Nguỵ vương sẽ không dùng người không có tiếng tăm như ông, với tiền đề như vậy Vệ Ưởng đoán rằng Nguỵ vương sẽ không giết mình.

Nguỵ vương cuối cùng cũng không để ý đến Vệ Ưởng. Vệ Ưởng cảm thấy nếu tiếp tục ở nước Nguỵ sẽ không có ngày cất đầu lên được, bèn rời khỏi nơi này. Lúc ấy đúng vào thời điểm Tần Hiếu Công hạ chiếu chiêu hiền, thế là Vệ Ưởng vượt Hoàng Hà về phía tây để đến nước Tần.

Vệ Ưởng 3 lần diện kiến Tần Hiếu Công, đưa ra ‘đạo xưng bá’ gói gọn trong 2 chữ

Sau khi đến nước Tần, Vệ Ưởng không trực tiếp lộ mặt ở trước bảng chiêu hiền, mà nương nhờ một Thái giám được Tần vương sủng ái tên là Cảnh Giám. Vệ Ưởng thỉnh cầu Cảnh Giám tiến cử mình, Cảnh Giám bèn 3 lần tiến cử Vệ Ưởng lên Tần Hiếu Công.

Lần gặp mặt thứ nhất giữa Tần Hiếu Công với Vệ Ưởng không được vui vẻ lắm, bởi vì Vệ Ưởng giảng thao thao bất tuyệt sự tích về Ngũ Đế, giảng rất nhàm chán, Tần Hiếu Công cứ nghe rồi ngủ. Sau khi ngủ dậy lại thấy Vệ Ưởng vẫn còn giảng, Tần Hiếu Công lại ngủ tiếp, cứ lặp lại như thế, trong ‘Sử ký’ viết rằng “thời thời thuỵ” (時時睡: lúc nào cũng ngủ).

Tần Hiếu Công có tính khí rất tốt, nhẫn nại nghe xong cũng không trừng phạt Vệ Ưởng, chỉ bảo anh ta lui.

Sau khi Vệ Ưởng lui, Tần Hiếu Công nói với Cảnh Giám: ‘Sao ngươi có thể tiến cử một người như vậy cho ta, khẩu tài xác thực rất tốt nhưng quá khoa trương, hoàn toàn không đề cập đến vấn đề cần giải quyết’. Cảnh Giám đi nói với Vệ Ưởng: ‘Quốc vương rất bất mãn với ông, không muốn trọng dụng ông’. Vệ Ưởng nói: ‘Vậy do tôi giảng rất cao, ngài ấy nghe không hiểu, hãy cho tôi một cơ hội nữa’. 

Dưới sự tiến cử của Cảnh Giám, Vệ Ưởng lại gặp Tần Hiếu Công lần thứ hai. Hiệu quả lần này cũng không tốt lắm, Cảnh Giám bị Tần Hiếu Công mắng cho một trận, ông lại đến mắng Vệ Ưởng. Vệ Ưởng nói: ‘Kỳ thực tôi có 3 bộ phương án. Bộ thứ nhất là dạy ngài ấy làm Đế như thế nào, giống như Nghiêu Thuấn. Tôi cũng đưa ra bộ phương án thứ hai, dạy ngài ấy làm Vương như Thành Thang, Chu Vũ, ngài ấy cũng không nghe. Tôi lại có bộ phương án thứ ba, chính là làm thế nào xưng bá giống như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công’.

Tần Hiếu Công nghe nói Vệ Ưởng còn có một bộ ‘Bá thuật’ (thuật xưng Bá), mắt bỗng sáng ra, sau đó gặp Vệ Ưởng lần thứ ba.

Lần đàm luận thứ ba này khá vui vẻ, trong Sử ký viết rằng: “Nghe Vệ Ưởng nói, bất tri bất giác kéo chiếu đến. Nghe mấy ngày vẫn không thấy chán”, chính là Tần Hiếu Công nghe quá đỗi nhập tâm mà quên mất hoàn cảnh xung quanh, vô thức dùng gối đồng thời kéo chiếu toạ đến trước mặt Vệ Ưởng. Vệ Ưởng nói mấy ngày, Tần Hiếu Công còn cảm thấy nghe chưa chán.

Vệ Ưởng nói với Cảnh Giám rằng: “Ta lấy thuật cường quốc nói với quốc vương, quốc vương chăm chú lắng nghe, cho nên khó mà lấy đức so sánh với Ân Chu”, ý tứ là: điều Tần Hiếu Công cần không phải vương đạo vốn phải tích luỹ đạo đức mấy chục năm mấy trăm năm mới đạt được, mà là cần ‘bá đạo’ thấy được ngay lập tức; như thế đạo hạnh và phong công vĩ nghiệp của Tần Hiếu Công không cách nào sánh ngang với Thành Thang, Chu Vũ khi cải triều hoán đại lập ra nhà Thương, nhà Chu.

Rốt cuộc Vệ Ưởng đã nói với Tần Hiếu Công điều gì? Nói một cách đơn giản đó là: ‘Canh chiến chi thuật’ (耕戰之術). ‘Canh’ (耕) tức nông canh, làm ruộng; còn ‘Chiến’ (戰) là chiến đấu. Đây là lý luận cơ sở của ‘Thương Ưởng biến pháp’ (cải cách Thương Ưởng). Dù lúc này ông ta chưa được gọi là Thương Ưởng, nhưng khi xem lịch sử, người ta quen dùng Thương Ưởng – tên sau này của ông.

Trong ‘Đông Chu liệt quốc chí’ có đề cập đến điều Thương Ưởng nói với Tần Hiếu Công như sau: “Nước không giàu, không thể dùng binh, binh không mạnh, không thể đánh địch. Muốn nước giàu, chi bằng ra sức làm ruộng, muốn binh mạnh, chi bằng khuyến khích chiến đấu. Trọng thưởng để dụ dỗ, sau đó dân biết sẽ ra sức làm. Dùng trọng hình để uy hiếp, sau đó dân biết sẽ sợ. Thưởng phạt khi dân đã tin, thì chính lệnh ắt phải làm. Làm vậy mà quốc gia không giàu mạnh, thì xưa nay chưa từng có”.

Để cho dễ hiểu, Giáo sư Chương giải thích điều của Thương Ưởng nói bằng ngôn ngữ hiện đại: Nếu muốn giành thắng lợi trong chiến tranh thì phải có tiền. Để có tiền phải khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Muốn quân đội đánh thắng, phải cổ vũ binh sĩ giết người lập công trên chiến trường. Phải cổ vũ như thế nào? Chính là dùng trọng thưởng để dẫn dụ họ, giết một quân địch sẽ được thưởng một tước; dùng hình phạt nặng để doạ sợ họ, buộc họ phải nghe lời. Khi thưởng phạt thì phải được thi hành, thì ‘người ban hành luật’ lập được quyền uy trong tâm mắt của lão bách tính. Chỉ cần một lời nói mọi người đều sẽ nghe, lực lượng của toàn quốc đều nằm trong tay để sử dụng; quốc gia này không mạnh cũng không được (phải mạnh).

Những điều trên là phương pháp xưng bá mà Thương Ưởng giảng cho Tần Hiếu Công.

Sau khi giảng xong những kiến nghị này, Tần Hiếu Công không lập tức thực thi chủ trương của Thương Ưởng, còn có một vài vấn đề cần giải quyết. Rốt cuộc đó là vấn đề gì, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích: Link Trung Hoa văn minh sử tập 36.