Đôi lời về tác giả: GS.TS. Nguyễn Khắc Nhẫn nguyên là giáo sư Đại học Bách Khoa Grenoble, Cộng hoà Pháp; Cố vấn chiến lược Tập đoàn Điện lực Quốc gia Pháp, và là giám đốc đầu tiên của Trung tâm quốc gia kỹ thuật Phú Thọ ở Sài Gòn (nay là Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh). Hơn nửa thế kỷ xa quê hương, ông vẫn luôn hướng về Việt Nam thông qua những đóng góp về khoa học, giáo dục, đặc biệt dành cho miền Trung những tình cảm vô vàn yêu dấu. 

*** 

Tôi rất vinh dự được anh Trần Văn Trà đề nghị nhắc lại trên vài trang của Tập kỷ yếu và hồi ký đặc biệt này, một số công việc đóng góp, hợp tác Pháp – Việt và kỷ niệm của tôi, trong quá trình học tập, nghề nghiệp, với đôi lời nhắn nhủ, về Trường Quốc học Huế, nhân lễ trọng đại 110 năm thành lập trường.

Lời nói đầu của tôi, nặng tình lưu luyến, là không gian không chia cách, thời gian chẳng xoá nhoà! Gần 6 thập niên xa sông Hương núi Ngự, lòng tôi vẫn trọn vẹn với mái trường xưa.

Tôi chào đời ở cạnh Trường Quốc học Quy Nhơn. Tôi rời trường này một hai năm trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai chấm dứt, để ra Huế, cùng với Cha Mẹ và 5 anh chị em, tiếp tục vài niên khoá ở trường Khải Định mến yêu (3 anh em học Khải Định, 3 chị em Đồng Khánh).

Ở xóm An Cựu, rồi Kho Rèn, cạnh bờ sông Hương thơ mộng, tôi bắt đầu chăm học một cách say mê vào năm 15 tuổi thanh xuân. Tôi quyết tâm học giỏi, với hy vọng được cấp học bổng, để làm nhẹ phần nào gánh nặng cho Cha Mẹ. Mùa ve kêu phượng nở năm ấy, tôi triệt để tiết kiệm thì giờ vàng ngọc, tập trung tâm trí, đóng cửa học ráo riết một mình. Cũng may mà lúc bấy giờ tôi không bị máy truyền hình hay vi tính quấy rầy! Nhờ vậy, kỳ thi tuyển (concours) vào đệ nhất ban A – toán lý – tôi may mắn được chấm đậu hạng nhất (Bạn Võ Quang Yến, nguyên Chủ tịch Hội người yêu Huế ở Pháp, đậu đầu ban B). Trong năm học tôi không muốn để ai qua mặt, nên thầy Nguyễn Duy Thu Lương có thưởng cho tôi một cuốn truyện với lời ghi trách móc sau đây : «Học không phải để đứng đầu trong lớp» !

Vì nghe lời cảnh cáo của thầy Thu Lương, hay bắt đầu lãng mạn thì đúng hơn, một hôm tôi nhảy dù, bỏ trường, trốn cả ngày, đi lang thang trên đường quê, về tận Hương Trà hái quýt, cùng với một bạn trai và một nữ học sinh Đồng Khánh, xinh tươi và thuỳ mị! Về đến nhà trễ cơm tối, tôi bị Ba tôi và ông anh cả la cho một trận hết hồn hết vía! Tà áo trắng năm xưa, đến nay vẫn chưa phai mờ trong ký ức!

Vốn say mê đá banh từ lúc còn thơ ấu, nhưng ở trường Khải Định tôi lại không dám chơi, vì đã 2 lần gãy 2 tay ở Quy Nhơn với môn thể thao này. Lần thứ hai, gãy tay trái, khá nặng, trước mặt em trai tôi, làm em tôi lo sợ, khóc nức nở từ ga xe lửa về đến nhà.

Ở miền Trung, cùng với vài bạn khác (trong đó có các anh Nguyễn Khoa Bồng, Châu Trọng Ngô, Võ Quang Yến …), tôi may mắn được chấm đậu, qua kỳ thi tuyển (20 sinh viên) toàn quốc, vào trường Vô tuyến điện Sài Gòn. Lúc học ở đây, tôi lại bị gãy tay lần thứ 3.

Vừa thi đậu lên năm thứ hai trường Vô tuyến điện, tôi được phép Cha Mẹ cho từ giã Sài Gòn đi Pháp, học lớp dự bị ở Chambéry, để soạn thi vào năm thứ nhất Đại học Bách khoa Grenoble. Trong suốt 7 năm đèn sách, tuy lòng dạ lo sợ, luôn hướng về Tổ quốc đang chìm trong khói lửa, tôi vẫn say mê đắm đuối học tập, không hề nhảy dù một lần nào khác nữa, không chơi bời lêu lổng! Sợ đá banh, tôi bắt đầu học đánh tennis và từ đó mê tennis đến nay. Tôi không dám đi trượt tuyết, sợ gãy chân mất năm học!

Đại học Bách Khoa Grenoble, nơi Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn từng giảng dạy. (Ảnh: i2en.fr)

Sau khi tốt nghiệp 2 bằng kỹ sư Điện và Thuỷ Điện ở Đại học Bách khoa Grenoble, tôi trở về nước cuối năm 1956, đành tạm gác một bên luận án Tiến sĩ ở Đại học Khoa học Grenoble. Xa quê hương, gia đình đã quá lâu, không tài nào chờ đợi mãi.

Tháng 7 năm 1957, sau một cuộc chọn lọc, dự án của tôi được chấp nhận và tôi vinh dự được ông Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Dương Đôn giao phó trọng trách tổ chức và điều khiển Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ ở Sài Gòn (nay là Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh) và Trường Cao đẳng Điện học. Mới 26 tuổi đầu, thiếu kinh nghiệm, tôi chỉ nhận chức giám đốc Trường Cao đẳng Điện học và từ chối chức giám đốc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật. Để dung hòa quan điểm, ông Bộ trưởng yêu cầu tôi nhận thêm chức Phó giám đốc Trung tâm và ủy thác ngay cho tôi việc tổ chức, phối hợp cơ cấu các Trường Cao đẳng Công chánh (đã có tiếng từ lâu), Trường Kỹ sư Công nghệ, Trường Cao đẳng Điện học và Trường Hàng hải. Qua năm sau, kỹ sư kiều lộ Lê Sĩ Ngạc mới được bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm, nhẹ bớt gánh nặng cho tôi. Lu bu công việc, vì tôi còn phải phục vụ ở Bộ Công chánh với tư cách Cố vấn kỹ thuật ông Bộ trưởng, về điện lực, và sau đó còn phải giữ chức Phó Tổng giám đốc Điện lực.

Năm 1964, tôi được đề cử đi dự Hội nghị Quốc tế về Hệ thống Điện cao thế ở Paris. Cũng vào thời điểm này, chiến tranh bắt đầu lan rộng trên toàn lãnh thổ. Để tránh nhìn thảm cảnh bom đạn giày xéo non sông, tôi đau lòng quyết định không trở về nước, để lại bao tình thương nhớ! Tôi hết sức quý sinh mạng con người (dù là kẻ thù đi nữa), thú vật (dù nhỏ như một con kiến), nên tôi không thể chấp nhận việc chém giết sát sinh.

Cuối năm 1980, Bộ Ngoại giao Pháp đề cử tôi về công tác ở quê hương. Nhân dịp này, tôi đề nghị với Bộ Giáo dục Việt Nam, nên tổ chức việc hợp tác giữa 3 Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, với Đại học Bách khoa Grenoble, nơi tôi đang giảng dạy. Đồng thời, tôi cũng đề nghị Bộ Điện lực hợp tác với Công ty Điện lực Pháp (EDF), nơi tôi đang phục vụ. Từ đó trở đi, thú thật, tôi ít có rảnh giờ phút nào!

Như suốt thời gian hành nghề trong nước, ở Pháp tôi cũng được Phật Thánh ban duyên lành, nên được tiếp tục đi dạy buổi sáng, đi làm ở xí nghiệp buổi chiều. Vừa trau dồi lý thuyết, vừa thực hành là điều mà sinh viên rất hưởng ứng.

Trong khuôn khổ hợp tác Pháp – Việt này, trên 300 kỹ sư và giảng viên sang tu nghiệp ở Grenoble từ 1 đến 4 năm đã trở về nước, trong số ấy có khoảng 80 người đỗ bằng tiến sĩ. Ngoài các thực tập sinh và sinh viên, tôi cũng có dịp đón tiếp, giúp đỡ, và hướng dẫn hàng loạt những đoàn kỹ sư các Công ty Điện lực Việt Nam sang thăm viếng hoặc tập sự ở EDF.

Hiện nay Đại học Bách khoa Grenoble tiếp tục đóng vai trò quan trọng, trong số 6 trường lớn của Pháp hợp tác với ta, trong chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

Cũng vì «Thương về miền Trung», tôi đã khởi xướng và thúc đẩy EDF Grenoble, cố vấn và hợp tác chặt chẽ với Công ty Điện lực 3 Đà Nẵng, trong công trình chi tạo và nâng cấp lưới điện thành phố Huế, và EDF Chambéry, giúp ta trong dự án thuỷ điện Vinh Sơn (2 x 33 MW).

EDF cũng có nhiều chương trình hợp tác khác với Công ty Điện lực 1 Hà Nội, Công ty Điện lực 2 Thành phố Hồ Chí Minh và trong những năm gần đây, với Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, đặc biệt là nhà máy Phủ Mỹ chạy bằng khí (700 MW).

Sau năm 1980, theo lời yêu cầu của tôi, EDF đã gửi tặng cho Công ty Điện lực 2 hàng chục ngàn đồng hồ đo điện, hàng trăm máy biến thế và máy cắt điện cao thế. Trung tâm phân tích hoá học Thành phố Hồ Chí Minh cũng được tặng 2 máy biến thế 250 kVA. Những dụng cụ này, tuy đã được sử dụng, nhưng còn chạy rất tốt và có giá trị cao. Tôi cũng đã đề nghị với tổ chức «Năng lượng không biên giới» của EDF gửi nhiều phái đoàn đem máy móc biểu và thiết kế các lưới điện hạ thế ở một số địa phương và bệnh viện, như ở Điện Biên Phủ.

Từ cuối năm 2001, nhân cuộc viếng thăm của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm ở Grenoble, với tư cách Uỷ viên Cố vấn Đoàn Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp, tôi đã làm cầu nối và đẩy mạnh sự hợp tác giữa nước ta và CEA (Commissariat à l’Energie Atomique) Grenoble, trong lĩnh vực công nghệ nano.

Suốt 3 năm nay, tôi đã say mê đầu tư trí não vào vấn đề Năng lượng (Thuỷ điện, Năng lượng tái tạo và nhất là Điện hạt nhân) ở Việt Nam. Tôi đã viết trên 15 bài, với tất cả nhiệt tình dành cho Tổ quốc, và trả lời phỏng vấn của các đài BBC và RFI (Radio France Internationale) về lĩnh vực tối quan trọng này. Xin mời các bạn độc giả xem trên mạng: www.tailieu.thoidai.org.

Vì quan niệm đó là bổn phận của một kỹ thuật gia, tôi luôn luôn thẳng thắng nói lên sự thật, trình bày những kinh nghiệm đã thu thập ở xứ người, góp ý kiến, phê bình xây dựng. Tôi nghĩ rằng thực hiện những công trình không kinh tế và nguy hiểm là phung phí công lao sức lực cũng như tiền bạc của Dân của Nước!

Bên lề đóng góp kỹ thuật của tôi, con cháu tôi cũng phụ lực, hướng về Quê hương. Tháng 5 vừa qua ở Paris, con gái tôi và 4 cháu ngoại, với sự khuyến khích và giúp đỡ của anh Nguyễn Thanh Tòng, anh chị Nguyễn Đắc Lộc, chị T.Nguyễn Văn Ký, đã tổ chức thành công một buổi hoà nhạc cổ điển, để góp tiền trùng tu một trường tiểu học ở Quy Hoà – Quy Nhơn. Với tư cách Chủ tịch Chi hội Grenoble Hội người Việt Nam tại Pháp, tôi vui mừng huy động được sự hảo tâm của một số bạn bè thân hữu xa gần cho dự án này.

Sau phần trình bày tóm tắt những nét chính của sự hợp tác và đóng góp cá nhân với Đất nước, cho phép tôi tâm sự đôi lời với các học sinh và sinh viên trẻ: nếu có công tâm, làm việc lương thiện, say mê đảm nhận trách nhiệm, với một ý chí vững chắc, thì các cháu không phải sợ chướng ngại vật nào và chẳng ai có thể ngăn cản mình được! «Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông !» 

Các cháu cũng đừng nên đề cao quá mức bằng cấp! Giá trị mỗi cá nhân không chỉ ở trong những mảnh giấy này. Theo tôi, tiềm năng trí tuệ của mỗi con người rất lớn. Điều khó cho cha mẹ và thầy cô, giáo sư, là làm sao triệt để khai thác có hiệu quả tiềm năng ấy?

Vì môi trường xã hội, hoàn cảnh gia đình, không đủ tiền hay sức khoẻ, mất thăng bằng… nên nhiều cháu không đỗ đạt, không thành công, tự xem như bị bỏ rơi ở dọc đường. Các cháu đừng chán nản, đừng bỏ cuộc. Các cháu phải kiên nhẫn, tự tin, giữ vững ý chí đèn sách, đem hết nghị lực phấn đấu. Rồi thể nào cũng có lối thoát vì mỗi bài toán đều có lời giải. Ở hiền các cháu sẽ gặp lành. Thua keo này bày keo khác! Buồn hay chán nản là kẻ thù số 1 của sức khỏe.

Các cháu nên trọng Đức hơn tài. Cao thượng, từ bi bác ái (không phân biệt màu da, xu hướng chính trị), đoàn kết, hiếu thảo, lễ độ, lương thiện, công bằng… là những đức tính quý báu mà quý vị tiền bối mong muốn được con cháu ghi nhớ và thực hành. Tôi muốn đặc biệt quan tâm đến các cháu có số phận hẩm hiu trước tiên. Tuy không biết các cháu, nhưng hằng ngày tôi vẫn niệm Phật phù hộ cho bất cứ ai không gặp may mắn, không có hạnh phúc trên đời.

Đối với những học sinh và sinh viên đã tốt nghiệp, tôi chỉ xin phép nhắn một điều: ra đời các cháu nên khiêm tốn và thận trọng. Chớ quên lời dạy của Rabelais: «Khoa học vô lương tâm là sự băng hoại của linh hồn». Nếu may mắn, có thể tìm cách say mê công việc, với lương tâm nghề nghiệp. Các cháu nên cố gắng tiếp tục trau dồi kiến thức, tìm lý tưởng cao đẹp, giúp ích xã hội với khả năng chuyên môn của minh.

Từ ngày hưu trí đến nay, tôi có cảm tưởng như thiếu thì giờ vì bể học mênh mông. Khoa học, mỗi ngày, vạch rõ thêm sự dốt nát của chúng ta!

Trọn đời, tôi say mê làm việc trong hai lĩnh vực Năng lượng và Giáo dục, với mơ ước có ngày góp được viên gạch bé nhỏ trong việc xây dựng Quốc gia.

Mỗi lần trở lại công tác ở Quê nhà, lẽ cố nhiên tôi không quên về miền Trung.

Qua cầu Trường Tiền, trên sông Hương, còn vương bao niềm thương… (Ảnh sưu tầm)

Qua cầu Trường Tiền, trên sông Hương, còn vương bao niềm thương, tôi ngậm ngùi nhớ đến câu thơ của Hàn Mặc Tử:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên…”

Tôi thành kính cảm tạ toàn thể những Thầy Cô cũ của tôi ở Trưởng Khải Định đã có công rèn luyện và gieo trong tâm trí tôi những mầm mống tươi tốt.

Tôi xin lỗi, chỉ nhắc lại đây vài tên: cô Trương Thị Hoa Diên, các thầy Nguyễn Duy Thu Lương, Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Khắc Trung… với tất cả tấm lòng quý mến.

Tôi không quên, với bao niềm nhớ nhung, thân gửi lời ân cần thăm hỏi sức khoẻ gia đình các bạn: Lê Đình Cát, Tôn Thất Đổng, Vô Hạnh Hồng, Tôn Thất Hưng, Đặng Như Mai, Nguyễn Khoa Mãn, Trần Đăng Nghi, Hồ Đắc Tâm, Bửu Tập, Phạm Thị Mộng Thu, Đoàn Trình, Võ Quang Yến… Làm sao chúng ta quên được những kỷ niệm êm đẹp của thời niên thiếu, mà muôn sợi ngàn dây đã thắt chặt, dưới mái Trường xưa? Tôi thành tâm lạy Phật Thánh phù hộ cho Trường Quốc học Huế mến yêu, toàn thể đội ngũ Thầy Cô, Nhân viên và Học sinh, cùng thân quyến, mọi sự an lành và mãi gặt hái được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Grenoble 20-10-2006
Nguyễn Khắc Nhẫn

Video: Câu chuyện nhà tâm linh phương Đông và cuộc hành trình tìm kiếm kì lạ

videoinfo__video3.dkn.news||2fc53753a__

Ad will display in 09 seconds