Nói về Khoái Thông, ông là một thuyết khách rất nổi tiếng vào cuối thời nhà Tần đầu nhà Hán, có thể nói ông là người chí dũng song toàn, từ sớm đã nhìn ra thế cục trong thiên hạ, nếu Hàn Tín lúc đầu chịu nghe lời ông thì lịch sử nhà Hán có thể sẽ phải viết lại, phần vĩ thanh trong cuộc chiến Hán-Sở có thể sẽ hoàn toàn đổi khác. Nhưng, suy cho cùng dòng chảy lịch sử cũng đã không thể đổi khác, hôm nay khi quay đầu nhìn lại dường như chúng ta vẫn còn cảm nhận được cái chấn động lòng người của giai đoạn lịch sử ấy.

Khoái Thông, tên thật là biện sĩ du thuyết cuối thời nhà Tần, đầu thời Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên vì kiêng tên húy của Hán Vũ Đế là Lưu Triệt nên viết tên ông là Khoái Thông. Cũng vì vậy nhiều tài liệu đời sau quen chép theo Sử ký và gọi ông là Thông. Ông quê ở vùng Phạm Dương, U Châu (huyện Định Hưng, Hà Bắc ngày nay), tài hùng biện có một không hai, giỏi phân tích lợi hại thiệt hơn. 

Giúp Vũ Thần hàng phục nước Triệu, cứu muôn dân khỏi cảnh binh đao

Tháng 8 năm thứ nhất thời vua Tần Nhị Thế (năm 209 TCN), Trần Thắng lệnh cho Vũ Thần dẫn theo 3000 quân tấn công nước Triệu. Vũ Thần cùng các tướng đi từ bến Bạch Mã, vượt qua sông Hoàng Hà, đến các huyện thuyết phục những người hào kiệt ở đấy, lấy được hơn 10 thành của đất Triệu, Vũ Thần được người đời gọi là Vũ Tín Quân.

Những thành còn lại ở nước Triệu đều cố giữ không chịu đầu hàng. Vũ Thần bèn đem quân đi về phía đông bắc đánh Phạm Dương.

Trong lúc sắp đánh thành thì có biện sĩ Khoái Triệt người đất Phạm Dương đến du thuyết viên lệnh ở Phạm Dương, khuyên nên hàng Vũ Thần. Viên lệnh đồng ý, lại nhờ Khoái Triệt đi nói hộ với Vũ Thần. Khoái Triệt khuyên Vũ Thần trọng đãi viên lệnh Phạm Dương để làm gương cho các thành khác. Vũ Tín Quân Vũ Thần nghe theo kế của Khoái Triệt, bèn sai Triệt đưa cho viên lệnh ở Phạm Dương ấn tước hầu. Đất Triệu nghe vậy có hơn 30 thành không đánh mà đầu hàng.

Chỉ dựa vào tài ăn nói, Khoái Thông đã cứu được vô số tướng sĩ thoát khỏi thảm cảnh tử chiến chốn sa trường, người dân nhờ vậy mà tránh được tai kiếp sinh linh đồ thán do chiến tranh mang lại, và lần du thuyết này cũng đã giúp ông vang danh thiên hạ. Về sau, ông trở thành môn hạ của Hàn Tín.

Wuchen dẫn một đội quân 3.000 người tấn công Zhao, vượt sông Hoàng Hà từ Baimajin và giành được hơn mười thành phố ở Zhaodi.

Khuyên Hàn Tín đánh úp nước Tề

Năm thứ 4 triều đại nhà Hán (năm 203 TCN), khi đó Hàn Tín nhận được lệnh của Lưu Bang, dẫn theo đại quân tấn công nước Tề. Cùng lúc đó, Lưu Bang lại cử Ly Thực Kỳ đến thuyết phục vua Tề đầu hàng. Khi Hàn Tín còn chưa tấn công đã nghe nói rằng Ly Thực Kỳ đã thuyết phục vua Tề đầu hàng, Hàn Tín thấy vậy liền muốn rút lui.

Khoái Thông, với tư cách là mưu sỹ dưới trướng Hàn Tín, đã thuyết phục Hàn Tín rằng: “Tướng quân ngài được lệnh của Hán vương công đánh nước Tề, vậy mà Hán vương mặt khác lại cử Ly Thực Kỳ một mình đến thuyết phục vua Tề đầu hàng, hơn nữa có chiếu lệnh nào ra lệnh cho ngài ngừng việc tấn công hay không? Vậy tại sao ngài không tiến quân? Hơn nữa, Ly tiên sinh lấy thân phận là kẻ sĩ đến trước, chỉ với ba tấc lưỡi mà khuyên hàng được 70 tòa thành của nước Tề, còn tướng quân ngài dẫn theo mấy vạn quân, mới chỉ chiếm được hơn 50 tòa thành của nước Triệu. Làm tướng từng ấy năm mà lại không bằng công lao của một nho sĩ hèn mọn hay sao”.

Hàn Tín thấy lời Khoái Thông nói rất có đạo lý, liền nghe theo lời khuyên, vượt sông Hoàng Hà, cuối cùng đã bình định được nước Tề và tự lập làm Tề vương đại diện của nước Tề.

Khuyên Hàn Tín phản bội Lưu Bang, chia ba thiên hạ

Sau khi Sở mất Long Thư, Hạng Vũ biết tình thế bất lợi cho mình, Hạng Vũ lo lắng sai Vũ Thiệp đến thuyết phục Tề Vương Tín phản Hán, cùng nhau chia ba thiên hạ. Nhưng Hàn Tín không nghe theo.

Sau khi Vũ Thiệp đi rồi, Khoái Triệt biết rằng thiên hạ ai thắng ai bại là ở Hàn Tín, muốn dùng kế lạ để làm Tín cảm động nên dùng thuật xem tướng để thuyết phục Hàn Tín, nói rằng: “Xem mặt của tướng quân chẳng qua chỉ được phong hầu. Xem lưng của tướng quân thì sang không thể nói hết”. Theo chữ Hán, chữ “bối” là “lưng”, có thể đọc là “bội”, mang nghĩa “phản bội”. Xem tướng lưng là có ý bảo Hàn Tín quay lưng với vua Hán, tức là nên phản Lưu Bang.

Khoái Triệt cũng phân tích cặn kẽ đạo lý “thú trong đồng nội đã hết thì chó săn bị nấu”,  cho Hàn Tín rõ, nhưng Hàn Tín cho rằng mình đã vất vả công cao, nghĩ rằng “Hán Vương thế nào cũng không làm hại mình”. Khoái Thông khuyên rằng “ở địa vị bầy tôi mà có cái uy lấn át cả chủ, có cái danh cao nhất trong thiên hạ, tôi trộm thấy túc hạ đã nguy lắm rồi”.

Hàn Tín do dự không nỡ phản bội Hán vương, lại tự cho rằng mình lập được nhiều chiến công, Hán vương dẫu sao cũng không lấy mất nước Tề của mình, nên từ tạ Khoái Triệt. Khoái Triệt nói không được, bèn giả điên, làm người thầy cúng để ẩn thân.

Hàn Tín bị Lưu Bang tru di ba họ

Sau khi Hạng Vũ đã bị phá, Lưu Bang lập tức đoạt lấy quân của Tề vương Tín lần thứ hai (sau lần ở thành Tu Vũ). Hàn Tín vừa lập được công xong lập tức bị tước binh quyền. Tới tháng 1 năm 202 TCN, Lưu Bang dời Tề vương Tín làm Sở vương, đóng đô ở Hạ Bì. Lưu Bang lên ngôi hoàng đế, lập ra vương triều Đại Hán, tức là Hán Cao Tổ.

Hán Cao Tổ Lưu Bang. (Nguồn: Wiki)

Quả nhiên như lời Khoái Triệt, sau khi diệt được Sở lên làm hoàng đế, Lưu Bang bắt đầu tính chuyện trừ khử Hàn Tín để loại trừ mối lo. Đầu tiên cải phong Hàn Tín từ Tề vương sang làm Sở vương. Sau đó lại vô cớ bắt Hàn Tín mang về kinh đô Trường An, giáng làm Hoài Âm hầu.

Năm 196 TCN, Trần Hy làm phản, Lưu Bang thân chinh đi đánh. Hàn Tín bị vu cáo liên kết với Trần Hy để phản triều đình, bị Thừa tướng Tiêu Hà dụ vào cung và bị Lã hậu sai võ sĩ bắt trói, mang chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc. Lúc sắp bị chém, Hàn Tín nói: “Ta hối hận không dùng mưu kế của Khoái Triệt, cho nên mới bị bọn đàn bà con nít lừa dối. Há chẳng phải là vì trời muốn thế hay sao?”.

Lã Hậu giết cả ba họ nhà Hàn Tín. 

Khoái Thông cãi lại Lưu Bang, được sống vinh hoa đến cuối đời

Sau khi Lưu Bang đã dẹp xong quân của Trần Hy trở về kinh đô, thấy Tín đã chết Lưu Bang vừa mừng vừa thương, hỏi Lã hậu: “Lúc chết, Tín có nói gì?”. 

Lã Hậu đáp: “Tín nói tiếc không dùng mưu kế của Khoái Triệt”.

Lưu Bang bèn ra chiếu cho nước Tề bắt ông. Khoái Triệt đến, Lưu Bang hỏi: “Nhà ngươi dạy cho Hoài Âm hầu làm phản phải không?”.

Ông đáp: “Vâng, tôi có dạy cho hắn, thằng trẻ ranh kia không dùng kế của tôi cho nên đến nông nỗi này. Giá nó dùng kế của tôi thì bệ hạ làm sao diệt nó được”.

Lưu Bang nổi giận ra lệnh: “Đem nấu nó đi!”.

Khoái Triệt nói: “Trời ơi! Tôi bị nấu thật là oan ức thay!”.

Lưu Bang nói: “Nhà ngươi dạy cho Hàn Tín làm phản còn oan uổng gì nữa?”.

Khoái Triệt đáp: “Kỷ cương nhà Tần bị đứt, miền Sơn Đông nổi loạn, các miền khác đều nổi lên. Các anh hùng tuấn kiệt họp lại nhiều như quạ. Nhà Tần mất con hươu, thiên hạ cùng nhau đuổi bắt. Lúc bấy giờ ai tài cao, chân nhanh thì bắt được trước. “Chó của Đạo Chích cắn vua Nghiêu không phải vì vua Nghiêu bất nhân, nhưng là chó thì bất kỳ ai không phải chủ của nó là nó cắn”. Lúc bấy giờ thần chỉ biết có Hàn Tín, không biết có bệ hạ. Vả chăng những kẻ mài giáo, cầm mũi nhọn, muốn làm điều bệ hạ đã làm cũng rất nhiều, nhưng chỉ vì họ không đủ sức đấy thôi. Bệ hạ có thể nấu tất cả được không?”.

Lưu Bang không thể bắt bẻ, bèn hạ lệnh tha cho ông.

Về sau, Khoái Triệt trở về nước Tề. Lúc đó Tề vương là Lưu Phì – con trai Lưu Bang, tướng quốc nước Tề là Tào Tham. Tào Tham rất trọng vọng Khoái Triệt, đã mời ông làm tân khách, Khoái Thông nhờ vậy được sống trong vinh hoa phú quý đến cuối đời.

Theo Sound of Hope
Vũ Dương biên dịch