Sau khi trở về, Lý Thuận tìm đến phủ Hàn Hoảng để đưa thư. Hàn Hoảng mở thư xem, thấy trong thư chỉ viết 9 chữ…

Hàn Hoảng (năm 723-787), tên chữ Thái Xung, sinh ra ở Trường An, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Trong thời trị vì Thiên Bảo của Hoàng đế Huyền Tông nhà Đường, Hàn Hoảng bắt đầu bước vào chốn quan trường, ông từng làm qua các chức vị quan Chủ bộ, Ngự sử giám sát, quan Thứ sử tỉnh Chiết Giang…

Vào năm Trinh Nguyên thứ nhất (năm 785), Hàn Hoảng thăng quan tiến chức rất thuận lợi và êm ả, chính thức trở thành Tể tướng. Vào năm Trinh Nguyên thứ hai, ông được phong làm Tấn quốc công. Ngày 9/11 ông vào kinh triệu kiến hoàng đế. Ngày 2/12 hoàng đế Đức Tông lệnh cho Hàn Hoảng quản lý việc phát triển nghề muối và sắt khiến cho vùng Giang Hoài thay đổi hoàn toàn bộ mặt. Hàn Hoảng vốn là vị quan thanh liêm, tuy nhiên ông ngồi vị trí ngôi cao thời gian lâu lại sinh ra ý nghĩ bất trung với hoàng đế. Những ý nghĩ của Hàn Hoảng đều được Khổng Tử biết rõ và nhắc nhở ông đừng bị danh lợi tại nhân gian làm mê hoặc. 

Tại sao Khổng Tử lại quan tâm đến Hàn Hoảng như vậy? Theo như sách “Thái bình nghiễm ký” ghi chép thì, Hàn Hoảng vốn là Tử Lộ, một trong 72 học trò của Khổng Tử chuyển sinh. Tính cách của Tử Lộ rất cương trực tự phụ, là một người dũng mãnh. Tính cách của Hàn Hoảng cũng giống với Tử Lộ, người của hàng ngàn năm trước. Đối với Khổng Tử, Hàn Hoảng chính là đệ tử của ông đầu thai xuống trần gian.

Một ngày nọ, thương nhân Lý Thuận đậu thuyền bên bến sông Kinh Khẩu, nửa đêm bỗng xuất hiện cơn giông thổi trên mặt sông khiến dây thừng neo thuyền bị đứt, chiếc thuyền cứ thế theo gió bay lên. Đến khi trời sáng, Lý Thuận bước ra ngoài thuyền quan sát, ông phát hiện thuyền đã đậu ở bên sườn núi, sóng yên biển lặng, Lý Thuận rời thuyền lên bờ kiểm tra xem nơi đây là chỗ nào. Ông bước men theo một con đường mòn nhỏ chừng năm sáu dặm và gặp một người đầu đội khăn cao, trang phục mặc là kiểu dáng cổ xưa, không giống với người triều đại nhà Đường. Người này dẫn ông lên núi, đi vào cung điện phía trước. Lúc này, Lý Thuận chỉ thấy trước mặt toàn là cung điện đài các, vô cùng lộng lẫy, hoàn toàn khác với ở nhân gian. 

Cung điện ở sân trong rất rộng lớn. Lý Thuận bèn hướng về điện hành lễ bái lạy từ xa. Lúc này có người từ sau bức rèm cửa lớn của đại điện bước ra, nói với Lý Thuận rằng: “Muốn nhờ ngài đem thư chuyển đến cho Hàn Hoảng ở Kim Lăng, việc này phải phiền đến ngài rồi”. Nói rồi bèn lấy một phong thư giao cho Lý Thuận. Lý Thuận nhận thư, hành lễ rồi theo người đó bước ra ngoài cung điện, người đó còn đưa ông xuống núi lên thuyền.

Lý Thuận rất hiếu kỳ, quang cảnh nơi này và trang phục của mọi người đều không giống với người đương thời, thế là ông bèn hỏi người kia: “Đây là nơi nào? Nếu Hàn Hoảng hỏi là người nào bảo tôi đưa thư, tôi nên trả lời thế nào?” Người kia nói: “Đây là núi Quảng Tang ở Đông Hải, năm xưa Tuyên Phụ Trọng Ni nước Lỗ đắc Đạo thành Tiên, Thượng Thiên mệnh cho ông cai quản đảo Tiên này. Hàn Hoảng chính là học trò Tử Lộ của ông chuyển thế ở nhân gian. Hàn Hoảng là người cứng rắn tự phụ, Khổng Phu Tử sợ ông ta mắc tội rơi vào lưới pháp luật, do đó đã viết thư để nhắc nhở ông ta”. Dứt lời, người này cáo biệt rời đi. 

Tuyên Phụ Trọng Ni chính là Khổng Tử, tên Khâu, tự Trọng Ni. Năm Trinh Quán thứ 11, Đường Thái Tông Lý Thế Dân xuống chiếu tôn xưng Khổng Tử là “Tuyên Phụ”.

Lý Thuận trở về thuyền, một sứ giả của Tiên giới nói với người trên thuyền rằng: “Mọi người ngồi cẩn thận, chớ sợ hãi, nhất thiết không được nhìn ra ngoài, một lát sẽ trở về chỗ cũ, nếu không nghe khuyên bảo, chỉ sợ rằng thuyền sẽ lật”. Người trên thuyền đều nhớ kỹ lời căn dặn, không ai dám nhìn ra ngoài, họ chỉ cảm thấy thuyền như là xuyên việt thời không, trong chốc lát đã đến được bến sông Kinh Khẩu, cũng không biết là đã đi bao nhiêu ngàn dặm đường. 

Sau khi trở về, Lý Thuận tìm đến phủ Hàn Hoảng để đưa thư. Hàn Hoảng mở thư xem, thấy trong thư chỉ viết 9 chữ, đều là các ký tự cổ xưa, rất giống chữ khoa đẩu, người thời Đường hoàn toàn không thể nhận biết được. Hàn Hoảng hỏi Lý Thuận là việc này có gì quan trọng. Lý Thuận bèn kể lại cho Hàn Hoảng toàn bộ quá trình thuyền bị trôi dạt đến đảo Tiên Quảng Tang, gặp Tiên nhân. Hàn Hoảng cảm thấy không thể nào tin nổi, cho rằng Lý Thuận reo rắc lời ma mị gạt người, liền bắt ông lại chuẩn bị thẩm vấn trừng trị. Sau đó, Hàn Hoảng cũng muốn biết rõ 9 chữ này là chữ gì, ông lần lượt cho mời những người am hiểu chữ triện cổ đại, thể chữ đại triện, để nhờ họ xem giúp nhưng không ai biết được 9 chữ cổ này có nghĩa là gì.

Cho đến một hôm, bỗng có người mặc trang phục cổ xưa tìm đến bái kiến Hàn Hoảng, tự xưng là giỏi phân biệt chữ cổ. Hàn Hoảng đưa phong thư cho người này xem. Xem xong thư, người này không khỏi bái lạy Hàn Hoảng rồi chúc mừng nói: “Đây là thư của Tuyên Phụ Khổng Khâu, văn tự là chữ khoa đẩu thời Vũ Vương nhà Hạ. 9 chữ này nghĩa là: “Bảo Hàn Hoảng, giữ thần tiết, chớ vọng động”, tức là Khổng Tử khuyên bảo Hàn Hoảng, cần phải cẩn thận giữ lễ tiết của kẻ bề tôi, không được khinh suất làm bừa, mưu đồ bất chính. 

Đợi vị khách rời đi, Hàn Hoảng thần tình thảm hại, lặng lẽ ngồi xuống một lúc lâu, cuối cùng ông bỗng nhớ ra chuyện xưa kia ở đảo Quảng Tang mà Lý Thuận từng bẩm báo. Hàn Hoảng dùng lễ hậu tạ Lý Thuận. Từ đó trở đi, ông càng thêm cung kính cẩn thận phò tá triều đình và trở thành một trung thần. 

Tháng 2 năm Trinh Nguyên thứ 3 (năm 787), Hàn Hoảng qua đời, sau khi chết ông được truy tặng danh hiệu Thái Phó, thụy Trung Túc. 

Theo Sound of Hope
San San biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.news||2b495a906__

Ad will display in 09 seconds