Hầu hết những người quan tâm đến nghệ thuật thời Phục hưng không xa lạ với các tên Giorgio Vasari – một nghệ sĩ, nhà sử học nghệ thuật và đồng thời là một kiến trúc sư xứ Florentine.

Bộ sưu tập năm 1568 “Cuộc đời của các họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư lỗi lạc” của ông là nguồn tài liệu quan trọng cho lịch sử nghệ thuật của thời kỳ này. Ông có rất nhiều bạn bè và người quen là nghệ sĩ hàng đầu của Ý thế kỷ 16. Ngoài ra ông cũng có những mối liên hệ nhất định đối với những nhân vật quan trọng của thế kỷ thứ 15. 

Chân dung Giorgio Vasari, khoảng 1571–74, do Jacopo Zucchi. Dầu trên gỗ. Uffizi, Florence, Ý.

Vasari được xem là người khởi xướng ý tưởng nghệ thuật thời kỳ Phục hưng. Thậm chí ông cũng còn được coi là người tiên phong khởi xướng thuật ngữ “Renaissance” (tái sinh/phục hưng); có thể được mô tả là sự phục hồi của chủ nghĩa cổ điển nghiêm ngặt được xác định bởi hai đặc điểm: sự chấp nhận mỹ học Hy Lạp và La Mã cổ đại và niềm tin rằng những lý tưởng này nên tạo thành điểm tham chiếu cơ bản của nghệ thuật.

Vasari cho rằng Giotto, một nghệ sĩ người Ý ở thế kỷ 14, đã khởi xướng một “sự tái sinh” của nghệ thuật. Tác phẩm của Giotto đã truyền cảm hứng cho những đổi mới trong nghệ thuật, điều đã trở thành phong cách thời Phục hưng một thế kỷ sau đó. Tiếp theo, Jules Michelet, một nhà sử học người Pháp thế kỷ 19, đã mở rộng thuật ngữ này để bao gồm các bức tranh, tác phẩm điêu khắc và kiến ​​trúc được tạo ra ở Ý trong các thời kỳ kéo dài từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 16 ở Ý.

Tác phẩm “Lives” đã trình bày chi tiết các nguyên tắc nghệ thuật cổ điển và khiến cho Vasari trở thành một nhà lý thuyết nghệ thuật hàng đầu – và ảnh hưởng của ông không chỉ giới hạn trong trường phái cổ điển chính thống. Nhiều nghệ sĩ thời kỳ Phục hưng thực sự có thể coi là “những người theo chủ nghĩa bán cổ điển”. Các nghệ sĩ đầu thời kỳ pha trộn các khía cạnh của mỹ học cổ điển và trung cổ. Còn những nghệ sĩ khác thì sử dụng các yếu tố của chủ nghĩa cổ điển làm phương tiện để biểu đạt chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn cuối của thời kỳ Phục hưng. Các nghệ sĩ tiếp tục truyền thống này ngay cả khi thời kỳ Phục hưng đã kết thúc; họ thường dựa vào Vasari như một nguồn lý thuyết quan trọng.

Mặc dù có ảnh hưởng lớn như vậy, nhưng vai trò nghệ sĩ của Vasari đôi khi bị lãng quên. Nhưng ông ấy thực sự là một hoạ sĩ chuyên nghiệp với hầu hết các tác phẩm đều rất xuất sắc, có lẽ chỉ kém thiên tài chút đỉnh.

Họa sĩ Vasari
“Chúa Kitô vác Thánh giá”, khoảng 1555–64, bởi Giorgio Vasari. Bảo tàng nghệ thuật Spencer, Kentucky. 

Có thể cảm nhận được tài năng nghệ thuật của Vasari bằng cách so sánh bức “Chúa Kitô vác Thánh giá” (khoảng năm 1555–64) với một tác phẩm cùng sự kiện đó của Titian – một nghệ sĩ người Ý thế kỷ 16 được tôn vinh là họa sĩ Venice vĩ đại nhất.

Tác phẩm của Titian truyền tải cảm giác bi kịch và căng thẳng về thể chất, điều không cảm nhận được trong tác phẩm của Vasari; Gương mặt của Đấng Christ có một chiều sâu cảm xúc mà Vasari không thể sánh được.

Tác phẩm của Titian truyền tải cảm giác bi kịch và căng thẳng về thể chất mà Vasari không có; Gương mặt của Đấng Christ biểu hiện một chiều sâu cảm xúc mà Vasari còn thiếu. Dẫu vậy, quan sát kỹ hơn sẽ thấy bức tranh của Vasari nổi bật ở một phương diện là chi tiết giải phẫu. Các đường nét trên cánh tay của Chúa Kitô rất tuyệt vời, với các cơ và tĩnh mạch có thể nhìn thấy qua da. Các sợi tóc, đốt ngón tay và nếp gấp của trang phục cũng được thể hiện với độ chính xác cao tương tự.

“Chúa Kitô vác Thánh giá” là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Vasari. Còn Titian được xếp vào hàng những thiên tài nghệ thuật vĩ đại nhất mọi thời đại. Để Vasari vẽ một vài tác phẩm với một số tính năng vượt trội so với các nghệ sĩ như Titian, đòi hỏi khả năng hiếm có.

“Chúa Giê-su vác Thập tự giá,” vào khoảng 1506–07, của Titian. Scuola Grande di San Rocco, Venice, Ý. 

Cái bóng của người khổng lồ

Có lẽ một trong những lý do khiến một nghệ sĩ như Vasari bị lãng quên là vì từ thế kỷ 15 đến 17 là giai đoạn lịch sử chứng kiến sự ra đời của rất nhiều nghệ sĩ kiệt xuất và các tác phẩm nghệ thuật hoành tráng nhất mọi thời đại. Được hoà mình trong cái trung tâm nghệ thuật ấy cho phép Vasari tạo ra các tác phẩm xuất sắc; nhưng nó cũng khiến ông phải ẩn khuất sau những nhà nghệ sĩ đương thời khác. Thật đáng tiếc, chỉ trong thời đại như vậy, một người có năng lực như Vasari mới không được xếp vào hàng ngũ những nghệ sĩ của thời đại.

Một điều đáng tiếc nữa là tác phẩm “Lives” của Vasari đã làm chính danh tiếng của ông bị suy yếu. Người ta cho rằng tiểu sử ngắn thường ám chỉ tầm ảnh hưởng của nghệ sĩ là nhỏ hoặc thiếu thông tin. Cuốn tự truyện của Vasari là một trong những cuốn ngắn nhất. Một người nghệ sĩ sẽ tổng hợp các tác phẩm của mình để đánh bóng và nâng cao danh tiếng. Nhưng có lẽ sự khiêm tốn của Vasari đã khiến ông bị đánh giá thấp hơn so với thực tế.

Yếu tố cuối cùng khiến cho người đời nhớ đến một nghệ sĩ là vì cống hiến của họ trong việc khai phá những ‘vùng đất mới’. Điều này có thể có nghĩa là phát triển các kỹ thuật cho phép vẻ đẹp được thể hiện tuyệt vời hơn hoặc chủ nghĩa hiện thực hơn. Đó cũng có thể coi là đổi mới phong cách. Đương nhiên Vasari có đủ tài năng để sáng tạo những tác phẩm đẳng cấp với những kỹ thuật và phong cách mới. Những thành tựu của ông đã được tạo ra từ những bài học kinh nghiệm của những thiên tài như Leonardo da Vinci, Michelangelo và Raphael.

Tất nhiên, kỹ năng đó đủ để vượt qua hầu hết các tác phẩm được vẽ trước cuối thế kỷ 15. Những họa sĩ trước đó như Giotto và Fra Angelico, Masaccio, và Jan van Eyck không thể hưởng lợi từ những bài học tương tự. Do đó, các tác phẩm của họ chắc chắn kém hơn. Nhưng mỗi người trong số họ đã đưa hội họa lên một tầm cao mà trước đây chưa từng đạt được. Mặc dù có tài năng, nhưng Vasari đã không thực hiện điều đó. Sự khác biệt nằm ở khả năng sáng tạo của ông, khi mà đem so sánh với thiên tài bẩm sinh.

Những thiên tài nghệ thuật cũng như các nghệ sĩ tiên phong đều đáng được tôn trọng. Thực tế cho thấy rằng các nghệ sĩ có thể đạt đến sự xuất sắc mà không cần vươn tới sự vĩ đại tột cùng. Vasari nằm trong số những người đạt được “sự xuất sắc kiểu như vậy”. Các tác phẩm nghệ thuật của ông là một thành tựu to lớn. Giá trị của tác phẩm đó – và mức độ đóng góp của Vasari cho giới nghệ thuật – xứng đáng được công nhận rộng rãi hơn.

Tác giả: James Baresel, The Epoch Times
Văn Sơn biên dịch