Tô Đông Pha tên thật là Tô Thức, ông cùng cha mình Tô Tuân, em trai Tô Triệt có tên gọi chung là ‘Tam Tô’, ba cha con ông chiếm hết cả ba vị trí trong ‘Đường Tống bát đại gia’ (tám vị văn sĩ nổi tiếng của nhà Đường và Tống)…

Tô Đông Pha từ nhỏ đã thông minh tuyệt đỉnh, vừa trưởng thành đã nổi tiếng là giỏi văn thơ. Năm 23 tuổi khi ông ứng thí, quan chủ khảo xem bài thi của ông (hình thưởng trung hậu chi chí luận), vô cùng kinh ngạc, liền tiến cử lên hoàng đế. Tống Nhân Tông lần đầu đọc bài thi của Thô Thức và người em trai Tô Triệt, liền bước xuống mừng rỡ nói rằng: “Hôm nay trẫm tìm được hai Tể tướng cho con cháu rồi”. “Tống Thần Tông đặc biệt yêu thích văn chương của hai người họ, thường ở trong cung đọc văn chương của họ Tô, nghiên cứu đến nỗi quên ăn. Ông gọi họ là kỳ tài trong thiên hạ”.

Tô Thức – Tô Đông Pha có tài hoa như vậy, danh tiếng lại vang dội như vậy, lần lượt làm kinh động hai vị hoàng đế (Tống Nhân Tông và Tống Thần Tông), tại sao cả đời không được trọng dụng, mà còn nhiều lần bị đả kích? Là do có hai nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là: ông là người quá ngây thơ, quá thẳng thắn. Khi còn trẻ, luôn sống trong hoàn cảnh thuận lợi, vì vậy nói chuyện và hành sự đều không chút kiêng dè, muốn nói thì nói, muốn làm thì làm, tấm lòng rộng lượng, chân thành với mọi người. Tô Đông Pha cho rằng “Sáng tác văn phải giống như mây trôi nước chảy, không có hình thái cố định, khi có thể phát huy thì phát huy hết sức, khi bắt buộc phải dừng lại thì biết dừng đúng lúc. Tuy là ngôn từ đùa cợt chửi bới, nhưng đều có thể viết thành văn mà đọc tụng”. Ông sáng tác văn chương là như vậy, làm người cũng là như vậy, cười đùa tức giận chửi mắng đều xuất phát từ cảm xúc thật. Đối với mọi người ông đều nói lời thật lòng, bày tỏ tình cảm thật lòng thật ý, không giữ lại bất cứ điều gì, hoàn toàn không biết rằng đời người hiểm ác.

Tranh vẽ Tô Đông Pha (Nguồn: Wikipedia)

Ngàn chữ nơi đầu bút, vạn quyển ở trong lòng…

“Hữu bút đầu thiên tự, hung trung vạn quyển, trí quân Nghiêu Thuấn, thử sự hà nan?” – Ngàn chữ nơi đầu bút, vạn quyển ở trong lòng, muốn vua như Nghiêu Thuấn, việc này khó gì?

Trong cuốn “Đông Pha Sự Loại” có nói: Tô Đông Pha sẵn lòng kết giao với bất cứ người nào, từng nói mình có thể làm bạn với Ngọc Hoàng đại đế, cũng có thể làm bạn với ăn mày ngoài đường. Em trai ông là Tô Triệt khuyên ông nên chọn người mà kết giao, ông nói rằng, theo như ông thấy, trong thiên hạ không có người nào là không tốt cả! Hãy nhìn xem đây là sự lạc quan đến mức độ nào, chân thành đến mức độ nào! Khi Tô Đông Pha biểu đạt hoài bão ý chí của mình, bản thân ông cho rằng giúp đỡ hoàng đế trị vì tốt đất nước là một chuyện quá dễ dàng, vừa không sợ người khác nói ông khoác lác, vừa không lo lắng người khác ganh ghét và gây khó dễ cho ông.

Tô Đông Pha cho rằng thiên hạ không có người xấu, không bao giờ có sự phòng bị đối với người khác, vì vậy khi gặp phải những tai họa ập đến, ông không có bất cứ sự chuẩn bị tư tưởng nào cả, đành bó tay chịu trói. Sau này ông an nhiên tự tại trong nghịch cảnh, tìm kiếm thú vui trong việc sáng tác văn chương, viết ra rất nhiều thơ văn xuất phát từ cảm xúc thật, vang danh thiên cổ. Cho đến lúc chết Tô Đông Pha vẫn là một người vô cùng ‘ngây thơ’.

Còn có một nguyên nhân khách quan nữa, đó chính là Tô Đông Pha gặp phải một trận vận động cải cách pháp luật của Bắc Tống mang tên “Biến pháp”. Theo như cách nói của người thường, Tô Đông Pha bị đả kích là do ông tự chuốc lấy. Tuy rằng khi ấy có sự tranh chấp giữ tân đảng và cựu đảng, cả hai bên đều không xem ông là mục tiêu để nhắm tới. Nếu như ông hiểu sự đời một chút, lợi dụng sự mâu thuẫn giữa hai bên, rồi lấy lòng cả hai bên, như vậy không những không gặp xui xẻo mà còn có thể có được vị trí rất cao, cả đời phú quý, bởi vì ông vốn dĩ đã có sẵn những điều kiện này.

Đương nhiên, nếu Tô Đông Pha chịu làm như vậy, thì ông đã không phải là Tô Đông Pha nữa rồi. Khi ấy ông dùng hết toàn bộ tinh thần và sức lực để nghiên cứu cái được và cái mất của cuộc cải cách. Bất luận là luật mới hay luật cũ, phàm là những điều bất lợi cho đất nước và người dân là ông đều thẳng thắn chỉ trích. Khi tân đảng lên nắm quyền, ông chỉ ra một số luật pháp mới nào đó quá xa rời thực tế, không có lợi cho dân; khi cựu đảng lên nắm quyền, ông phản đối việc loại bỏ hoàn toàn luật pháp mới, chủ trương chọn cái tốt mà theo.

Cứ như vậy mà người của hai bên đều bất mãn về ông, Tô Đông Pha trở thành kẻ ngốc chịu đả kích từ hai phía. Ông suốt ngày suy nghĩ làm sao để có lợi cho quốc gia, có lợi cho dân chúng, nghĩ được là phải nói ra, giống như bị mắc xương cá ở cổ họng, không nhổ ra được là thấy khó chịu, nói ra có đắc tội với người khác cũng không quan tâm. Ông chỉ không nghĩ đến làm sao để có lợi cho bản thân, càng không nghĩ đến tiếp tục làm như vậy thì sớm muộn bản thân cũng gặp điều xui xẻo.

Sự thông minh của Tô Đông Pha nằm ở chỗ là ông có thể nhìn ra mọi cái lợi và cái hại của biến pháp (cuộc cách mạng pháp luật), nếu ông không có sự thông minh này, không nhìn ra vấn đề, thì cho dù có muốn nói cũng không có gì để mà nói. Nhưng ông đã nhìn ra được, và đã nói ra rồi, thì vấn đề chắc chắn sẽ đến thôi. Vấn đề đó chính là “Ô đài thi án” của năm 1079 CN (Ô đài là cách gọi của Ngự sử đài, Ô đài thi án chính là vụ án văn thơ do Ngự sử đài xử lý), cũng tức là một số kẻ tiểu nhân trong tân đảng đã cố tình vạch lá tìm sâu trong những câu thơ do Tô Đông Pha sáng tác, sau đó lên kế hoạch gây tác động, buộc Ngự sử đài phải đứng ra luận tội Tô Đông Pha, nói ông “công kích triều chính”.

Tô Đông Pha bình tĩnh đối mặt với nghịch cảnh và tìm thấy niềm vui trong sáng tạc văn học (ảnh minh họa: Secretchina).

Nói không thành có’, tiểu nhân hãm hại Tô Đông Pha

Những thủ đoạn của tiểu nhân như nắm lấy khuyết điểm, chụp mũ, xuyên tạc từng câu chữ của người khác, thì chúng ta đều nhìn thấy cả rồi, không còn xa lạ gì nữa. Thì ra kỹ năng nắm lấy khuyết điểm này là do kẻ tiểu nhân trong tân đảng của nhà Tống phát minh.

Tô Thức có câu thơ “Đông hải nhược tri minh chủ ý, ứng giáo xích lỗ biến tang điền” (Nếu Biển đông biết rõ ý vua, nên biến đất mặn thành đất ruộng), họ nói rằng đây là phản đối “luật thủy lợi ruộng đất”, chế giễu việc tu sửa thủy lợi khó mà thành công.

Tô Thức có câu thơ “khởi thị văn thiều giải vong vị, nhĩ lại tam nguyệt thực vô diêm” (Đâu phải nghe thiều mà quên vị, ba tháng gần đây không ăn muối – thiều là tên của nhạc cổ thời xưa), bọn họ nói câu thơ này là chế giễu thi hành “luật muối” quá gấp gáp, thực thi quá mức.

Tóm lại, đám tiểu nhân đem thơ của Tô Thức ra nghiền ngẫm qua rồi nghiễn ngẫm lại, không tìm ra được lỗi ở trong đó thì không chịu thôi. Cuối cùng, thơ của Tô Thức gần như trở thành cây cỏ độc “chế giễu luật mới”, “công kích triều đình”. Còn một thủ đoạn lợi hại hơn là họ một mực khẳng định rằng hai câu thơ “Căn đáo cửu tuyền vô khúc xứ, thế gian duy hữu trập long tri” (Rễ sâu lòng đất không uốn cong, thế gian chỉ có trập long biết – trập long là con rồng ngủ trong hang sâu để trú đông, đại ý của hai câu này muốn nói rằng: chí hướng cao thượng, và suy nghĩ trong sáng của người có bản tính kiên định thường không dễ được người thường đánh giá cao…) trong bài thơ “Vương Phục tú tài sở cư song cối” của Tô Đông Pha là cố tình công kích “Đương kim hoàng thượng”. Bọn họ viết tấu chương nói với Tống Thần Tông: “Bệ hạ là phi long trên trời, Thức không xem ngài là tri kỷ, mà đi tìm kiếm trập long dưới đất, không phải không có lòng thần phục thì là gì?” Tống Thần Tông từng khen ngợi Tô Thức là “thiên hạ kỳ tài” đối với kiểu vu khống như vậy cũng cảm thấy chán ghét, liền phản bác nói: “Ngôn từ của thi nhân, làm sao có thể luận giải như vậy? hắn tự ngâm tụng cây cối, đâu có liên quan gì đến trẫm!”, như vậy đủ để thấy Tống Thần Tông vốn không hồ đồ chút nào. Ông phản bác lại như thế, trên thực tế đã là một sự khiển trách đối với lời vu khống. Nếu như kẻ vu khống không phải một kẻ mặt dày, thì sẽ cảm thấy là mình vu khống không thành công, ngược lại để lộ ra điểm yếu, từ đó sẽ dừng tay lại, không dám làm mưa làm gió nữa. Nhưng tiểu nhân dù sao vẫn là tiểu nhân, vẫn tiếp tục ra sức tiến hành luận tội, không hại được Tô Thức thì không chịu dừng tay. Lỗ tai của Thần Tông mãi không được yên, thế là ông hạ lệnh cho Ngự sử đài tiến hành tra hỏi, để xem rốt cuộc chuyện này là thế nào.

Bọn tiểu nhân dựa vào lời đó của Tống Thần Tông để làm mệnh lệnh mà ra oai, Tô Thức đang giữ chức Thái thú Hồ Châu bị bắt vào kinh thành, còng tay vào ngục, nghiêm hình tra khảo. Vụ án này cực kỳ đơn giản, chẳng qua chỉ là Tô Thức viết vài bài thơ mà thôi, kẻ xấu cũng chỉ là cố tình vạch lá tìm sâu trong văn chương của Tô Thức để buộc tội ông, kết quả thẩm vấn, không cách nào định tội.

Sau khi xảy ra Ô đài thi án, vì danh tiếng của nhân vật chính (tức Tô Thức) quá lớn, nên triều đình trong ngoài đều vô cùng quan tâm. Ngoại trừ một số tiểu nhân trong tân đảng vẫn liên tục vu khống, một lòng muốn dồn Tô Thức vào chỗ chết ra, những người của cựu đảng (phe phái cũ) và một số người quân tử trong tân đảng đều đứng ra để nói giúp Tô Thức. Em trai của lãnh đạo tân đảng Vương An Thạch là Vương An Lễ nói với Tống Thần Tông: “xưa nay quân chủ luôn độ lượng, không vì ngôn ngữ mà trị tội người khác”. Ngay cả Vương An Thạch đã bãi tướng về ở ẩn tại Kim Lăng cũng viết thư dâng lên Thần Tông, hy vọng vua xử lý khoan dung đối với Tô Thức. Tào thái hậu nghe nói chuyện này, yêu cầu Thần Tông đích thân tra hỏi. Bá tánh ở vùng Hàng Châu, Hồ Châu tuy là không cách nào viết thư lên triều đình, nhưng nhà nào cũng cầu thần bái Phật, liên tục làm lễ trong thời gian Tô Thức ngồi tù, cầu xin Ông Trời phù hộ cho Tô Thức sớm ngày thoát khỏi khổ nạn…

Dưới sự kêu gọi đồng lòng của triều đình và bá tánh, Tống Thần Tông đành phải đích thân xử lý, làm mờ nhạt chuyện này, kết án bằng cách giáng chức, và không phán tội. Sau khi Tô Thức bị nhốt hơn một trăm ngày, từ chức quan Thái tú Hồ Châu bị giáng chức xuống làm Phó sứ đoàn luyện Hoàng Châu, trở thành một đại thần bị lưu đày.

Còn tiếp…

Theo Vision Times
Châu Yến biên dịch