Trong lịch sử văn minh của Trung Quốc mấy ngàn năm, có rất nhiều câu chuyện liên quan đến “hiếu đạo”, trong đó nổi tiếng nhất là “nhị thập tứ hiếu” (24 tấm gương hiếu thảo). Tuy nhiên, nhiều người có lẽ không biết rằng từ thời kỳ nhà Đường đến nhà Tống có một dòng họ nổi tiếng là “hiếu nghĩa”, những người trong họ đều canh mộ cho người quá cố, trải qua hơn ba trăm năm…

Trăm thiện hiếu đi đầu, cổ nhân xưa nay đều xem trọng hai chữ hiếu thuận. Khổng Tử nói trong “Hiếu Kinh”: “Phu hiếu, thiên chi kinh dã, địa chi nghĩa dã, dân chi hành dã” (hiếu đạo giống như sự vận hành của nhật nguyệt và tinh tú trên trời, giống vạn vật sinh tồn trên mặt đất, là đạo lý bất biến giữa cõi đời này, là hành vi tự nhiên vốn có của con người); “nhân chi hành, mạc đại vu hiếu” (trong hành vi của con người không có gì to lớn hơn hiếu đạo); “phu hiếu, đức chi bổn dã” (hiếu đạo là cái gốc của đức hạnh). Tóm lại, Khổng Tử cho rằng phận làm con cái hiếu thuận với cha mẹ là việc làm tự nhiên đúng với đạo lý.

Trăm thiện hiếu đi đầu, cổ nhân xưa nay đều xem trọng hai chữ hiếu thuận. Bức họa “Hiếu Kinh Đồ” do Mã Hòa Chi của nhà Tống vẽ (ảnh: Phạm vi công cộng).

Dưới góc nhìn của người xưa, đạo hiếu thể hiện ở rất nhiều phương diện, ví dụ như con cái biết ơn công lao dưỡng dục của cha mẹ, muốn nuôi dưỡng cha mẹ và khiến thân tâm họ luôn cảm thấy an vui, sau khi cha mẹ qua đời, phải để tang ba năm, trong ba năm không ăn thịt cá, không mặc áo gấm, không ở nhà đẹp. Hoặc ví dụ như yêu quý thân thể của mình, không cờ bạc, không rượu chè, không ham tiền của, không háo thắng, không ham thích đánh nhau, từ đó không để cha mẹ lo lắng phiền muộn vì mình, đây cũng là một cách hiếu thảo.

Trong lịch sử văn minh của Trung Quốc mấy ngàn năm, có rất nhiều câu chuyện liên quan đến “hiếu đạo”, trong đó nổi tiếng nhất là “nhị thập tứ hiếu” (24 tấm gương hiếu thảo). Nhưng nhiều người chắc không biết rằng từ thời kỳ nhà Đường đến nhà Tống có một ngôi làng nổi tiếng là “hiếu nghĩa”, những người trong làng đều canh mộ cho người quá cố, trải qua hơn ba trăm năm.

Ngôi làng này nằm ở Vĩnh Lạc trấn, huyện Hà Đông, phủ Hà Trung. Huyện Hà Đông vào thời nhà Đường thuộc khu vực tỉnh Sơn Tây ngày nay. Ngôi làng hướng ra sông Hoàng Hà, quay lưng về núi Lôi Thủ, núi Trung Điều, nằm ở nơi hẻo lánh yên tĩnh. Khi nhà Đường diễn ra Loạn An Sử, có rất nhiều người đã chạy đến nơi này định cư để né tránh tai họa, và hình thành một số ngôi làng mới.

Trong những ngôi làng này, có một ngôi làng tên là Diêu Hiếu Tử. Tại sao lại có cái tên như vậy? thì ra có một hiếu tử tên Diêu Tê Quân, cha và bác trai của Diêu Tê Quân vì né tránh loạn lạc mà chạy đến nơi này, cả nhà họ sống bằng nghề làm nông. Sau này triều đình trưng binh, mỗi hộ đều phải cho một người đi quân dịch. Vốn dĩ, người lớn tuổi nên đi quân dịch trước, nhưng cha của Diêu Tê Quân nói với anh trai mình rằng: “Huynh trưởng vẫn chưa có con cái, đệ thì đã có con trai rồi, hay là đệ đi thay huynh vậy”.

Không lâu sau, cha của Diêu Tê Quân tử chiến nơi sa trường, khi đó Diêu Tê Quân mới chỉ 6 tuổi. Về sau, mẹ của Diêu Tê Quân tái giá, Diêu Tê Quân được bác gái mình nuôi nấng. Sau khi bác gái qua đời, Diêu Tê Quân an táng cho bác gái của mình đàng hoàng. Sau đó, Diêu Tê Quân lại đi tìm đạo sĩ triệu hồi hồn phách của cha mình, để an táng cha mình thỏa đáng. Sau khi an táng các trưởng bối xong, Diêu Tê Quân dựng một ngôi nhà nhỏ bên cạnh mộ địa, sống và để tang ở đây cho đến hết cuộc đời.

Huyện lệnh của huyện Hà Đông khi đó là Tô Triệt vô cùng cảm động trước việc làm này của Diêu Tê Quân, nên quyết định dùng bổng lộc của mình mua đất mở đường cho nhà họ Diêu, và khắc bia đá tán dương đức hiếu của Diêu Tê Quân. Phủ doãn phủ Hà Trung cũng bẩm tấu chuyện này lên triều đình, hoàng thượng hạ chiếu chỉ ban thưởng hậu hĩnh, biểu dương gia đình Diêu Tê Quân, và đổi tên địa danh mà Diêu Tê Quân đang sinh sống thành mảnh đất tên “Hiếu Đễ, Tiết Nghĩa, Kính Ái”.

Diêu Tê Quân sinh được một người con trai tên Diêu Nhạc, Diêu Nhạc sinh được một người con trai tên tên Diêu Quân Nho, Diêu Quân Nho lại sinh được một người con trai tên Diêu Sư Chính. Từ Diêu Nhạc đến Diêu Sư Chính trải qua bốn đời đều sống trong căn nhà ở bên cạnh mộ địa. Cháu trai đời thứ năm tên là Diêu Hậu, cháu trai đời thứ sáu tên là Diêu Nhã, cháu trai đời thứ bảy tên Diêu Văn, cháu trai đời thứ tám tên Diêu Kính Trân, cháu trai đời thứ chín tên Diêu Trực, cháu trai đời thứ mười tên Diêu Tông Minh.

Cho đến khi nhà Đường diệt vong, nhà Tống được thành lập, truyền thống hiếu nghĩa của nhà họ Diêu vẫn chưa từng thay đổi. Vào những năm Khánh Lịch của Tống Nhân Tông, có một vị đại thần đem chuyện Diêu thị mười đời đều sống trong một làng, hết lòng thực hiện hiếu nghĩa, bẩm tấu lên triều đình, Tống Nhân Tông hạ chỉ khen thưởng nhà họ Diêu.

Sau thời kỳ Khánh Lịch lại thêm hơn năm mươi năm trôi qua nữa, nhà họ Diêu tiếp tục trải qua thêm ba đời, tức là cháu trai đời thứ 11 Diêu Dụng Hòa, cháu trai đời thứ 12 Diêu Sĩ Minh, cháu trai đời thứ 13 Diêu Đức, đại gia tộc họ Diêu từ đời này sang đời khác đều luôn đoàn kết yêu thương, hiếu thuận hòa hợp. Đến thời Tống Triết Tông, huyện lệnh tại nơi Diêu gia sinh sống bẩm tấu lên triều đình, thỉnh cầu sử quan ghi chép lại sử tích của Diêu gia.

Vào những năm Chính Hòa của Tống Huy Tông, con trai của đại nho Thiệu Ung là Thiệu Bá Ôn từng đi ngang qua nơi ở của Diêu gia, và đến đó thăm hỏi. Thiệu Bá Ôn nhìn thấy cả nhà Diêu gia đều đứng ở ngoài sân vườn theo thứ tự từ lớn đến nhỏ đi vào trong đại sảnh, đứng chào cung kính lễ phép, và khi được hỏi đến gia thế của họ, tất cả mọi người đều biết rõ tường tận. Bắt đầu từ đời của Diêu Tê Quân, nhà họ Diêu đã trải qua 20 đời, gia phong tốt đẹp của nhà họ Diêu được truyền từ đời này sang đời khác.

Những người khác trong làng còn nói với Thiệu Bá Ôn rằng, Diêu gia đời đời đều tiến cử người có phẩm chất công bằng, tôn kính trưởng bối làm người chủ trì của gia đình, con cháu mỗi người đảm nhận một công việc, còn phái một người chuyên đi canh giữ mộ phần, sống ở trong căn nhà nhỏ bên cạnh mộ phần.

Nhà họ Diêu sớm tối đều cùng nhau ăn cơm trong đại sảnh, đàn ông và phụ nữ đều ngồi vào chỗ của mình theo đúng thứ tự, còn trẻ con thì ngồi ở dưới đất, cùng nhau ăn những món ăn đựng trong máng gỗ. Ăn cơm xong, liền khóa cửa nhà bếp lại, không đốt lửa thổi cơm nữa, cũng không ăn bất cứ thứ gì nữa. Họ ăn uống rất có quy luật.

Thiệu Bá Ôn còn nhiều thấy cây cối um tùm ở mộ địa của Diêu gia, những người quét dọn và trồng cây đều vô cùng cẩn thận. Theo như ông tìm hiểu, Diêu gia có 10 khoảnh ruộng, nhưng chỉ đủ áp đứng yêu cầu ăn mặc cho cả nhà mà thôi. Tuy nhiên, cho đến nay đã hơn ba trăm năm, Diêu gia vẫn tuân thủ gia pháp này, chưa từng có người nào rời khỏi, cho dù gặp phải thời thế loạn lạc vào cuối nhà Đường, cả nhà đều canh giữ mộ phần không rời đi. Vào những năm Hy Ninh của Tống Thần Tông, Thiểm Hựu xuất hiện nạn đói, nhà họ Diêu dẫn theo hơn một trăm người của gia tộc đi đến khu vực Đường, Trịnh để tìm kiếm con đường sống. Đợi sau khi tình hình tốt đẹp trở lại, cả gia tộc lại quay trở về ngôi làng xưa của mình, không có người nào là không quay về.

Năm Chính Hòa thứ nhất của Tống Huy Tông (năm 1111), Đồng Quán đảm nhận chức tuyên phủ Thiểm Tây, ông ra lệnh dựa vào sản nghiệp và số ruộng đất của mỗi hộ để phân bổ mua lại số lượng lương thực, nhà họ Diêu không cách nào cung cấp số lương thực cần giao nộp, cả nhà ngày đêm khóc than, không thể không dự định rời khỏi mảnh đất này. Sau khi Thiệu Bá Ôn nghe được chuyện này, ông không nhẫn tâm để nhà họ Diêu rời đi, sau đó ông kháng nghị lên thượng cấp, giúp nhà họ Diêu miễn giao nộp lương thực. Sau này, nhà họ Diêu bị bắt giữ trong chiến tranh giữa nhà Tống và Tây Hạ, không rõ tung tích.

Gia tộc Diêu thị trải qua 20 đời trong hơn ba trăm năm, canh giữ mộ phần của tổ tiên, chỉ vì hai chữ “hiếu nghĩa”, làm sao có thể không khiến người ta thán phục được chứ!

Theo Vision Times
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.news||90f76b031__

Ad will display in 09 seconds