Sau thời kỳ Bắc Lương, lịch sử Trung Hoa đi vào giai đoạn phân tranh lớn trong cuộc đối đầu Nam – Bắc. Từ thời kỳ Ngụy Tấn đến sau ngũ hồ thập lục quốc, miền Bắc Trung Nguyên lại trải qua thời kỳ Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, năm triều đại Bắc Chu. Thời cuộc loạn lạc không yên, dân chúng ly tán, lưu lạc đi khắp nơi, còn Phật giáo được truyền bá rộng rãi vào Hán, mang theo sức mạnh tín ngưỡng và chánh niệm, nghệ thuật Phật giáo theo đó mà phát triển lên một đỉnh cao huy hoàng mới…

Không giống với loạn thế ở Trung Nguyên, vùng đất Đôn Hoàng nằm ở biên giới trong thời kỳ này lại tương đối yên ổn và hòa bình, mà lại còn là tịnh thổ Phật quốc của một phương. Nơi đây không chỉ tiếp nối phong trào toàn dân tôn sùng Phật giáo của đời trước, mà đồng thời còn bước vào một thời kỳ đục đá tạc tượng đỉnh cao mới.

Trên vách đá của núi Minh Sa, những hang đá chi chít dày đặc trông giống như những viên đá quý, bất luận là về số lượng hay là quy mô đều vượt xa quá khứ. Bước vào trong thạch thất, cây cột chính giữa như một bảo tháp, trần dốc tạo không gian, những pho tượng thanh mảnh tinh tế, cách tạo màu tươi sáng sặc sỡ… tất cả những tạo tác bày tỏ lòng lễ kính đức Phật, như đã từng quen biết, nhưng lại mang một phong cách rất khác biệt.

Phong cách mà Lương Châu để lại

Nếu như muốn hiểu về nghệ thuật của Đôn Hoàng trong thời kỳ Bắc triều, chúng ta phải quay ngược thời gian trở về thời Lương Châu từng chế ngự Tây Bắc vào thời kỳ Bắc Lương. Các học giả Đại lục đã tổng hợp các di tích của những hang đá ở núi Thiên Thê, Kim Tháp Tự, hang đá ở núi Văn Thù, và tổng kết ra mô hình hang đá Phật giáo đầu tiên của Trung Hoa còn sót lại hiện nay. Đặc điểm chủ yếu của hang đá Lương Châu gồm có:

1.      Phần lớn các hang đá đều là hang cột tháp chính giữa hình vuông hoặc hình chữ nhật, bên trong có pho tượng lớn và trụ cột chính giữa để đục các lỗ hỏm làm bàn thờ và tạo tượng. (Hang cột tháp chính giữa là mô hình hang đá có một cột tháp ở giữa căn phòng chính của hang, cột tháp có hình vuông hoặc hình chữ nhật, bốn mặt của cột tháp đều có 1 gian bàn thờ Phật).

2.     Các tượng Phật chủ yếu gồm có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Di Lặc trong trang phục bồ tát ngồi bắt chéo chân và một số những vị Phật khác. Khuôn mặt tròn đầy, mũi cao mắt sau, thân hình to khỏe, tạo hình sinh động.

3.     Trên vách hang có vẽ hình rất nhiều vị Phật, phía dưới là hình người đang cúng dường. Hoa văn đường viền có hoa kim ngân nối tiếp hai bên.

Đây là một phần bích họa “thiên cung kỹ lạc” trong hang 288 của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng vào thời kỳ Tây Ngụy (ảnh: Phạm vi công cộng)

Hang cột tháp chính giữa bắt nguồn từ “hang chi đề”, chi đề tức là tháp, vốn dĩ là nơi cất giữ và cung phụng xá lợi của Phật. Vào thời kỳ đầu Phật giáo không có tượng Phật, tháp Phật chính là vật tượng trưng cho Phật, để cho mọi người lễ bái. Xây tháp trong hang đá, các tín đồ Ấn Độ có thể đi quanh tháp theo chiều bên phải để lễ bái, đây là truyền thống của Phật giáo Ấn Độ. Hang chi đề theo Phật giáo truyền vào nhà Hán, biến thành hang cột tháp được bản địa hóa.

Mô hình hang đá mới này phát triển vào thời kỳ Bắc Lương, là một điểm độc đáo của mô hình hang đá Lương Châu, còn ba hang đá của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng trong cùng thời kỳ lại không phải là mô hình hang đá điển hình của Lương Châu. Ngược lại vào thời kỳ đầu của Bắc Triều tức Bắc Ngụy, hang đá cột tháp chính giữa mới được trở thành mô hình chính. Điều thú vị là, sự truyền thừa giữa hai mô hình này, không phải là lan truyền về phía tây trực tiếp từ Lương Châu đến Đôn Hoàng, mà là đi một vòng lớn quanh Trung Nguyên rồi mới quay về Đôn Hoàng.

Sau khi Bắc Ngụy tiêu diệt Bắc Lương, vào năm Thái Diên thứ 5 (năm 439), Thái Vũ Đế di dời ba mươi ngàn hộ thường dân, quan viên và thị tộc của mình từ Kinh Châu đi đến thủ đô Bình Thành. Trong số những người Lương Châu di cư, có những cao tăng như Đàm Diệu và những người thợ tinh thông kỹ thuật đục hang. Năm Hòa Bình đầu tiên (năm 460), Văn Thành Đế ban chiếu chỉ, ra lệnh cho Đàm Diệu chủ trì đục hang đá ở Vân Cương. Đàm Diệu dẫn theo những người thợ giỏi của Lương Châu đi đục hang đá, mang theo mô hình Lương Châu vào trong lãnh thổ Trung Nguyên.

Năm Thái Hòa thứ 17 (năm 493), Hiếu Văn Đế từ Bình Thành dời kinh đô đến Lạc Dương, tiến hành cải cách văn hóa người Hán, thúc đẩy dân tộc hòa hợp và giao lưu văn hóa Nam Bắc. Năm tiếp theo (năm 494), ông liên tục ra lệnh đục hang đá ở Long Môn. Vì vậy, hang đá của thời kỳ Bắc Ngụy, trên cơ sở mô hình của Lương Châu không ngừng hòa quyện với văn hóa Trung Nguyên, sự pha trộn giữa những văn hóa khác nhau trong thời kỳ này đã tạo ra một kỳ tích tráng lệ hơn.

Nguyên Vinh với thân phận tôn quý là trưởng quan địa phương và thành viên của hoàng thất, thống trị Đôn Hoàng 17 năm, xuyên suốt hai triều đại Bắc Ngụy và Tây Ngụy, ra sức thúc đẩy sự phồn thịnh của Phật giáo tại Đôn Hoàng. Đây là hang 432 của Hang Mạc Cao – Đôn Hoàng vào thời Tây Ngụy, bên trong bàn thờ phật chính diện của cột tháp chính giữa có tượng Phật (ảnh: Phạm vi công cộng)

Bắt đầu từ năm Nguyên Quang thứ 5 (năm 524), hoàng đế Bắc Ngụy bắt đầu phái tông thất thống lĩnh các châu huyện, gia tăng thống trị. Đôn Hoàng dưới sự cai quản của Lương Châu cũng biến thành nơi thống trị của Qua Châu khi đó. Đông Dương Vương Nguyên Vinh chính là thành viên hoàng thất đầu tiên dùng thân phận Thứ sử Qua Châu vào đóng chiếm Đôn Hoàng. Khi ông xuất phát, ngoại trừ vợ con và người hầu ra, ông còn dẫn theo rất nhiều nghệ nhân gồm có thợ thủ công, thợ vẽ, và thợ điêu khắc, và cũng mang theo kỹ thuật đục hang tạo tượng tinh xảo cùng với tinh thần nhiệt tình của người Bắc triều đi đến Đôn Hoàng.

Nguyên Vinh cũng giống phần lớn các thành viên khác của hoàng thất Bắc Ngụy, đều là một tín đồ Phật giáo vô cùng thành khẩn, sau khi ông đến Đôn Hoàng, liên tục phát triển Phật sự, một là biên soạn rộng rãi kinh Phật, không chỉ là tự mình chép kinh Phật, mà còn bỏ tiền ra mời người khác chép kinh Phật, tích lũy được mấy trăm bộ Kinh. Hai là chủ trì và tham gia công việc đục hang đá Mạc Cao. Nguyên Vinh với thân phận tôn quý là Trưởng quan địa phương và thành viên của hoàng thất, thống trị Đôn Hoàng 17 năm, xuyên suốt hai triều đại Bắc Ngụy và Tây Ngụy, ra sức thúc đẩy sự phồn thịnh của Phật giáo tại Đôn Hoàng. Trong số gần 40 hang động của hang đá Mạc Cao từ thời Bắc Ngụy đến Bắc Chu còn sót lại hiện nay, có tới mười mấy hang động có mối liên hệ trực tiếp hoạc gián tiếp với Nguyên Vinh.

Đây dường như là một vòng luân hồi của nghệ thuật hang đá, nó từ Ấn Độ, Tây Vực truyền vào hành lang Hà Tây, sau khi sinh sôi nảy nở ở đó, lại tiếp tục đi về phía đông truyền vào Bình Thành, Lạc Dương, sau đó lại quay đầu, quay lại hướng tây trở về điểm xuất phát của nó. Nó mang phong cách nước ngoài của Ấn Độ và Tây Vực đến Trung Nguyên, dần dần hấp thụ dưỡng chất của văn hóa Hán tộc, rồi sau đó biến đổi thành một hình dạng mới. Hang đá Bắc triều phản ánh quá trình ngệ thuật hang đá của phương Tây bị bản địa hóa ở Trung Nguyên, nhiều nền văn minh khác nhau không ngừng hòa quyện vào nhau.

Chiêm ngưỡng hang đá

Vào thời kỳ này, Trung Quốc cổ xưa luôn ở trong trạng thái Nam Bắc đối đầu trường kỳ, hình thành văn hóa đặc sắc khác nhau giữa Nam và Bắc, Phật giáo ở miền Nam và miền Bắc cũng có những đặc điểm không giống nhau. Phật giáo miền Nam xem trọng giáo lý, được sự tôn sùng của các văn nhân học sĩ, lấy thanh đạm làm chủ. Phật giáo miền Bắc thể hiện được tín dưỡng toàn dân, từ đế vương tối cao cho đến bá tánh bình dân, xem trọng hành trì và sùng bái hơn, vì vậy mới sinh ra câu nói là “nam nghĩa bắc thiền”, nghĩa là Phật giáo miền Nam tập trung vào giáo nghĩa, Phật giáo miền Bắc tập trung vào hành thiền.

Đôn Hoàng đại diện cho hành lang Hà Tây, luôn là trung tâm của phật Giáo miền Bắc, thịnh hành phong cách tu thiền khổ hạnh. Các tu sĩ, quý tộc và dân chúng ở Đôn Hoàng đều vô cùng xem trọng việc tạo tượng trong hang đá, kiểu dáng của hang đá và nội dung tạo tượng đều có liên quan đến việc tu thiền. Trong văn hóa tín ngưỡng của Phật giáo, tu thiền đầu tiên là quan sát tượng, quan sát tượng giống như nhìn thấy Phật, vì vậy mà hang thiền, hang cột tháp chính giữa tại Đôn Hoàng liên tục ra đời. Trong đó, hang cột tháp chính giữa là mô hình kiến trúc được thịnh hành nhất trong thời kỳ Bắc triều, số lượng chiếm khoảng một nửa.

Về chủ đề tạo tượng Phật thì lấy các pho tượng của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Di Lặc, ba đời Phật, mười phương chư Phật làm chủ thể, lấy hình tượng thiền định, khổ tu, tư duy của đức Phật làm chủ đề chính. Cộng thêm thời kỳ đầu Phật giáo chú trọng tuyên truyền sự tích của Phật Thích Ca Mâu Ni, nên trong cách bích họa cũng có rất nhiều nội dung liên quan đến Phật bổn sanh, Phật truyện, câu chuyện nhân quả, thuyết pháp thích hợp với việc nhìn tượng tu thiền.

Đây là cột tháp chính giữa trong hang 254 của Hang Mạc Cao – Đôn Hoàng vào thời Bắc Ngụy (ảnh: Phạm vi công cộng)

Trung ngoại hợp bích: cấu tạo kinh điển trong hang 254 của Hang Mạc Cao

Đẩy cánh cửa hang 254 của Hang Mạc Cao, từ lối đi chậm rãi bước vào, chúng ta sẽ đi vào hang cột tháp chính giữa được xây dựng đầu tiên vào thời kỳ Bắc Triều. Trong không gian nhỏ hẹp này, cột tháp chính giữa có hình vuông, chính là thứ nổi bật nhất, một pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bắt chéo chân, trang nghiêm hiền hòa ngồi  trong gian bàn thờ trên mặt phía đông của cột tháp. Sáng sớm, tia nắng đầu tiên chiếu vào cửa sổ mặt phía đông của hang động, chiếu đúng vào tượng Phật, tượng Phật lấp lánh ánh sáng vàng, vô cùng thù thắng.

Vì để hài hòa với hình vuông của căn phòng chính, tháp chi đề hình trụ tròn bắt nguồn từ Ấn Độ khi đến Đôn Hoàng đã biến thành hình trụ vuông, tháp chi đề của Ấn Độ ban đầu không có tượng Phật, vốn chỉ là để thờ phụng xá lợi của Phật, nhưng khi đến Đôn Hoàng cũng biến thành bàn thờ Phật ở bốn mặt của cột tháp, ngoài ra còn có các món trang sức tinh xảo dùng để trang trí xung quanh tượng Phật. Vị trí của cột tháp không nằm ở chính giữa trung tâm của căn phòng chính, mà là hơi lùi về sau một chút, tức là hơi lệch về phía tây một chút, tạo không gian tương đối rộng cho tiền đường phía đông, để cho tu sĩ hoặc tín đồ tụ tập lễ bái. Những không gian khác trong căn phòng chính thì để cho mọi người đi nhiễu quanh tượng Phật, cảm nhận năng lượng của Phật pháp.

Ba mặt còn lại của cột tháp đều là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni đang thiền định, hai mặt nam, bắc dùng hội họa thể hiện hình ảnh khổ hạnh, hàng ma của đức Phật. Hang đá 254 này chủ yếu là kể lại câu chuyện tu hành của Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài từ bỏ cuộc sống sung sướng của thái tử, quyết chí tu hành, trải qua trăm ngàn gian nan nguy hiểm, cuối cùng ngộ đạo thành Phật, và truyền dạy Phật pháp.

Điều đáng chú ý là trần của căn phòng phía trước lộ ra tạo hình trần dốc hình chữ nhân (人) (căn phòng phía sau vẫn là trần nhà bằng phẳng). Từng thanh sườn trên trần dốc chia thành nhiều miếng gỗ hình sọc thẳng, trong khoảng cách trống giữa các thanh sườn đều có hình 1 vị Bồ Tát, tạo thành một dãy các hình ảnh Bồ Tát đứng thẳng hàng, mỗi một vị Bồ Tát tay cầm một nhánh cây tuyệt đẹp. Trần dốc hình chữ “nhân” của hang động được mô phỏng theo tạo hình kiến trúc bằng gỗ của nhà Hán, phản ánh rằng thẩm mỹ của Trung Nguyên đã ăn sâu vào Đôn Hoàng.

Trên vách tường trong hang có các bích họa vẽ thiên cung kỹ lạc, thuyết pháp đồ, Bạch Y Phật, bao phủ toàn bộ vách tường, nội dung phong phú đa dạng, dường như dung nạp hết toàn bộ vũ trụ, khiến người ta có cảm giác rộng mênh mông bất tận. Những hình ảnh Thần Phật này vẫn áp dụng phương pháp dây màu của Tây Vực để tạo cảm giác 3D. Nhưng theo thời gian những hình ảnh trên bích họa bị phai màu, cách dây màu đậm nhạt vô cùng tự nhiên của lúc đầu biến thành rất nhiều vòng tròn màu đen, khuôn mặt có sự tương phản trắng đen rõ rệt, lại còn xuất hiện hình ảnh “mắt thâm quầng” và “khuôn mặt nhỏ”.

Tào y xuất thủy: Tượng Phật chính trong hang 257 của Hang Mạc Cao

Hang 257 của Hang Mạc Cao được xây dựng vào thời kỳ Bắc Ngụy, từ lâu đã rất nổi tiếng tại Đôn Hoàng. Pho tượng chính trong hang này thể hiện kỹ thuật “xuất thủy” kinh điển, còn có một tấm bích họa khổng lồ (Lộc Vương bổn sanh), cũng chính là câu chuyện Cửu Sắc Lộc mà mọi người đều biết.

Pho tượng chính là một tượng Phật trong trạng thái ngồi, điểm độc đáo nhất là kỹ thuật tạo nếp gấp trên chiếc áo Cà-sa được chế tác bằng cách đắp các sợi đất sét mỏng lên áo, tạo thành nhiều lớp nếp gấp, khiến cho toàn bộ chiếc Cà-sa dính chặt lên người đức Phật, làm cho thân hình của tượng Phật vô cùng nổi bật, giống như một người vừa mới bước từ trong hồ nước ra. Từ thời kỳ Bắc Lương phong cách tạo tượng này đã rất thịnh hành, bị ảnh hưởng sâu sắc bởi nghệ thuật Phật giáo Tây Vực.

Vào thời kỳ Bắc Tề, có một họa sĩ rất nổi tiếng tên Tào Trọng Đạt, ông là người của Tào Quốc – Tây Vực, nổi tiếng trong lĩnh vực vẽ và điêu khắc tượng Phật. Phong cách hội họa của ông rất thịnh hành vào thời nhà Đường, được gọi là “kiểu Tào gia”, tỏa sáng cùng với “kiểu Ngô gia” của Ngô Đạo Tử. Trong “Lịch đại danh họa ký” ghi chép: “Bút pháp của Ngô, vẽ theo hướng xoay tròn, mà y phục bay lất phất; bút pháp của Tào, vẽ chồng lên nhau, mà y phục dính chặt. Vì vậy người đời sau nói rằng: ‘Ngô đới đương phong, Tào y xuất thủy’ (Hai câu này dùng để diễn đạt phong cách vẽ trang phục của hai danh họa. Ngô Đạo Tử vẽ thắt lưng như tung bay trong gió “Ngô đới đương phong”, Tào Trọng Đạt vẽ y phục dính chặt vào người như vừa bước ra từ hồ nước “Tào y xuất thủy”). Dùng hình tượng sinh động để diễn đạt phương pháp vẽ nếp gấp trên trang phục một cách tuyệt diệu của Tào Trọng Đạt.

Pho tượng Phật này giống với “kiểu Tào gia”, nhưng lại xuất hiện sớm hơn Tào Trọng Đạt hơn một trăm năm. Mà Tào Trọng Đạt vốn dĩ là người của Tây Vực, trên thực tế kỹ thuật vẽ tranh của ông cũng được bắt nguồn từ phương pháp vẽ tranh của Tây Vực. Ông đem phong cách này truyền bá rộng rãi, nhận được sự ca ngợi của các nhà phê bình hội họa những đời trước. Tác phẩm của Tào Trọng Đạt đến nay không còn nữa, mà tạo hình “xuất thủy” của hang đá Mạc Cao thời kỳ Bắc triều lại lưu giữ điểm đặc trưng này của ông một cách hoàn hảo, đủ để cho người đời sau có thể tưởng tượng ra nét đẹp quyến rũ của phong cách “Tào y xuất thủy”.

Ngoài ra, hang đá trong thời kỳ Bắc triều cũng có rất nhiều tranh Phật mang phong cách “xuất thủy”. Bức tranh khá nổi tiếng là tranh Bạch Y Phật trên bích họa tường phía tây hang 431 của Hang Mạc Cao. Những đường nét mỏng manh được phủ khắp chiếc áo Cà-sa, thể hiện sự mỏng nhẹ và dính chặt vào người của chất liệu vải, càng làm nổi bật thân hình cao lớn tráng kiện của đức Phật.

Hộc đá mặt phía bắc của cột tháp chính giữa, Hang Mạc Cao số 428, Bắc Chu. Trên cột tháp chính giữa và phía dưới bốn bức tường của hang đá này có hình ảnh của 1.198 người đang cúng dường, được gọi là kiệt tác của Đôn Hoàng (ảnh: Phạm vi công cộng)

Cái ‘nhất’ của người cúng dường: Mỹ học Trung Nguyên trong hang 428 của Hang Mạc Cao

Hang đá này có hai cái “nhất” của thời kỳ Bắc triều: Diện tích lớn nhất, căn phòng chính 138,8 mét vuông; người cúng dường nhiều nhất, phía dưới bốn bức tường có tổng cộng 1.198 hình người. Người cúng dường là người cúng hiến tài sản của mình để xây dựng hang động, hình ảnh của họ được vẽ bên trong hang động, có kèm theo dòng chữ ghi chú. Phần lớn những người cúng dường đều là vương công quý tộc, văn võ đại thần hoặc danh gia vọng tộc của địa phương, họ vẽ hình ảnh của mình và các thành viên trong gia tộc, thậm chí là người hầu lên trên tường, thông thường là xuất phát từ tâm lý thành khẩn kính lễ, ghi lại công đức, lưu danh hậu thế.

Hang 428 này được xây dựng trong khoảng thời gian Thứ sử Vu Nghĩa thống trị Đôn Hoàng vào thời Bắc Chu. Từ phần ghi chú có thể nhìn ra được, những người cúng dường này đến từ các nơi của hành lang Hà Tây, họ đều là những người quyên góp tiền của dưới sự kêu gọi của Vu Nghĩa, dùng thân phận cá nhân để tham gia vào công trình xây dựng hang đá vĩ đại này. Trong “Lý Quân Mạc Cao quật tu Phật kham bi” của Hang Mạc Cao ghi chép: “Lạc Tổn, Pháp Lương khởi xướng công trình này, Kiến Bình, Đông Dương mở rộng di tích này”, trong đó “Kiến Bình” chính là chỉ Kiến Bình Công – Vu Nghĩa chủ trì xây dựng hang 428.

Tuy rằng các pho tượng trong căn phòng chính đều mang phong cách Tây Vực, nhưng tướng mạo khuôn mặt lại có xu hướng thanh tú, mắt tai mũi miệng nhỏ gọn, thân hình ngay ngắn và gầy. Phong cách hội họa “tú cốt thanh tượng” sau khi trải qua sự pha trộn văn hóa nam bắc cùng với sự di cư về phía tây của những người thợ thủ công, nó đã được tỏa sáng trên những bức tường của hang đá Đôn Hoàng.

Phương pháp vẽ hình ảnh của người cúng dường, và cách thức tạo tượng Phật cũng có sự khác biệt rất lớn, không còn dùng phương pháp dây màu của Tây Vực nữa, mà sử dụng cách vẽ tranh của Trung Nguyên. Người nào cũng thanh tú cao gầy, mặc trang phục rộng, có đôi nét “Lạc Thần Phú Đồ” của Cố Khải Chi. Một ngàn năm sau, khi hình ảnh Phật trên các bích họa xuất hiện tượng tượng biến đổi màu sắc, hình ảnh những người cúng dường vẫn nguyên vẹn và sinh động như xưa.

Hang đá Bắc triều, bất luận là kết cấu cột tháp chính giữa bị bản địa hóa, hay là sự sáng tạo về trần dốc chữ “nhân”, bất luận là kỹ thuật dây màu của Tây Vực hay là cách vẽ hình người thanh tú mảnh khảnh, đều có thể phản ánh được phong cách hòa quyện giữa nghệ thuật phương Đông và phương Tây về mặt tổng thể, cũng là quá trình kỳ diệu từ khi Phật giáo lan truyền vào phương Đông, hòa trộn với nền văn minh Trung Hoa, và cùng nhau tạo nên thành tựu thù thắng huy hoàng.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Tin liên quan:

videoinfo__video3.dkn.news||b88c178a6__

Ad will display in 09 seconds