Rời xa thành Trường An phồn hoa và náo nhiệt, đoàn sứ thần của Trương Khiên dần dần bước vào một thế giới khác: Thế giới của những cơn gió rú lên từng hồi, cát vàng mênh mông trên sa mạc Go-bi, mặt trời rực cháy đến chói mắt, và ốc đảo vô cùng hiếm thấy…

Loạt bài dài kỳ: Đôn Hoàng tầm mộng

Đây là một thế giới Phật quốc huy hoàng tráng lệ. Đức Phật từ bi trong trạng thái thiền định, các vị Bồ Tát trang nghiêm thanh tịnh, các thiên nữ nhảy múa rộn ràng, những Phật tử thành tâm trong sự yên lặng, hoặc dùng phương thức sống động và đáng kính để bảo vệ cõi Tịnh Độ trong sa mạc hoang vu này… Đây là một cuốn album ảnh về lịch sử vô cùng sống động. Bắc Triều thương vàng ngựa sắt, Tùy Đường giàu có huy hoàng, năm đời ổn định, Tống – Nguyên dịu dàng giản dị, các vương triều lần lượt xuất hiện xuyên suốt lịch sử hơn một ngàn năm qua, để lại vô số dấu ấn về một thời đại cổ xưa.

Đây là một kho tàng văn hóa đồ sộ và tinh xảo. Tượng màu sống động về cả hình thức lẫn tinh thần, những bức bích họa với bút pháp tinh xảo, các kinh văn dài và phức tạp, lối kiến trúc cổ xưa và linh động bằng sự kết hợp giữa tín ngưỡng và nghệ thuật đã cô đọng thành đỉnh cao vĩnh hằng trong nền văn minh truyền thống Trung Hoa.

Vào thời kỳ đầu hưng thịnh của Phật giáo, Thạch Quật Tự (chùa hang đá) là một trong những nơi quan trọng để các tu sĩ tu hành và cũng là nơi cho mọi người chiêm bái. Khi Phật pháp lan rộng về phía Đông, dưới sự chỉ dẫn của Thần Phật, Pháp giáo đã tìm được một nơi cực kỳ yên tĩnh trên mảnh đất Thần Châu của Trung Hoa, đó chính là Đôn Hoàng. Từ đó, tiếng rìu đục đá, các hang động mở ra một phương trời mới, bút mực uốn lượn vẽ lên một thế giới cực lạc vô cùng sống động. Những hang đá tại Đôn Hoàng giống như vô số viên ngọc được trạm khắc lên các vách tường của một hành lang dài.

Là một trong những kỳ quan văn minh vĩ đại trong lịch sử loài người, hang đá Đôn Hoàng hiện nay được tổ hợp từ các hang đá lớn như hang Mạc Cao, hang Du Lâm, Đông Thiên Phật động, Tây Thiên Phật động, năm ngôi chùa hang đá, trong đó hang Mạc Cao có quy mô lớn nhất và có thành tựu nghệ thuật cao nhất.

Thiên nữ cầm chuỗi anh lạc trên bức tường phía tây trong hang 158 của Hang Mạc Cao vào thời kỳ nhà Đường. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Tổng thể hang Mạc Cao hiện nay có 735 hang động cao thấp đan xen lẫn nhau, trong đó có 45.000 mét vuông tranh bích họa, 2.415 pho tượng đất sét màu. Hang Mạc Cao còn là thánh địa của nghệ thuật Phật giáo với quy mô lớn nhất và nội dung phong phú nhất còn tồn tại trên thế giới cho đến ngày nay. Bởi lẽ người ta phát hiện ra hang thứ 17- Tàng Kinh Động vào những thập niên gần đây, và tìm thấy hơn năm ngàn văn vật, từ đó sinh ra một môn học mới mang tính quốc tế – chuyên ngành “Đôn Hoàng học”.

Có người nói, đây là một hang động thần kỳ có thể khiến Alibaba và bốn mươi tên cướp phải phát cuồng vì nó. Có người lại nói bích họa ở đây không thua kém các bức bích họa trong nhà thờ của thời kỳ Phục hưng phương Tây vào 700 năm sau đó. Cũng có người nói, Đôn Hoàng là lịch sử đáng buồn của học thuật Trung Hoa, Đôn Hoàng và văn hóa Phật giáo trộn lẫn trong nó chính là một kho báu đào mãi không hết, là một chủ đề bàn luận bất tận

Nghệ thuật của nhân loại phản ánh thế giới. Nếu như nói thế giới đẹp nhất là ở trên trời, vậy thì nghệ thuật đẹp nhất là phải dâng tặng cho các vị Thần trên trời. Đôn Hoàng là màu sắc đa dạng, là âm nhạc chuyển động, là tín ngưỡng ngưng đọng, và còn là giấc mơ về chân lý và đích đến của cuộc đời con người. Nghệ thuật của Đôn Hoàng cho dù trải qua bao nhiêu năm tháng, cho dù trải qua bao nhiêu biến cố của lịch sử, vẫn tráng lệ như vậy, vẫn khiến người ta say mê như vậy.

Nguồn gốc của Đôn Hoàng

Đôn là mặt đất, hoàng là mặt đất thịnh vượng. Từ Đôn Hoàng xuất hiện sớm nhất vào thời Hán Vũ thịnh thế của hơn hai ngàn năm về trước. Bắt đầu từ năm 121 trước Công Nguyên, Hán Vũ Đế thiết lập bốn quận và hai quan ải tại vùng Hà Tây, quận Đôn Hoàng là một trong bốn quận đó, bởi người dân Đôn Hoàng có công mở rộng Tây Vực, cho nên được đặt cái tên này. Mà Hà Tây chính là phía tây của sông Hoàng Hà, tại nơi ở giữa Kỳ Liên Sơn và dãy núi phía bắc Kỳ Liên Sơn, là một dải hẹp từ Tây bắc chạy xuống Đông nam, còn được gọi là “hành lang Hà Tây”.

Hành lang này có hình dạng giống như một cái cổ họng dài, phía Đông Tây dài khoảng 1.200km, rộng khoảng mấy km đến vài trăm km, phía Nam Bắc nối liền với cao nguyên Thanh Tạng và cao nguyên Mông Cổ, phía Đông Tây nối với cao nguyên Hoàng Thổ và Lòng chảo Tarim, là một tuyến đường địa lý tự nhiên. Đôn Hoàng nằm ở cuối phía Tây của hành lang Hà Tây, trở thành điểm xuất phát từ Trung nguyên đi Tây Vực rồi đến các nước ở Trung Á và Tây Á, và cũng trở thành trạm đầu tiên tiếp xúc giao lưu giữa nền văn minh của phương Tây và phương Đông.

“Tranh Phật Dược Sư thuyết pháp” trên bức tường phía nam bên trong Dũng Đạo Nam Kham hang số 220 thuộc Hang Mạc Cao. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Sự khéo léo tuyệt vời của tự nhiên cùng với vị trí địa lý đặc biệt đã tạo nên ý nghĩa đặc biệt của hành lang Hà Tây. Nó là con đường duy nhất để các vương triều Trung Hoa mở rộng lãnh thổ, kinh doanh thương mại và giao lưu văn hóa ở phương Tây. Hành lang Hà Tây mang theo chí lớn và ước mơ của hoàng đế, tướng lĩnh quan chức và những bá tánh bình thường. Mà hình ảnh đẹp nhất của hành lang này chính là nghệ thuật hang đá trên ốc đảo Đôn Hoàng.

Lịch sử của Đôn Hoàng đã có từ thời kỳ cổ đại khi con người và các vị Thần cùng chung sống với nhau. Trong “Sơn Hải Kinh” có nói, ở dãy núi phía Tây có một ngọn núi Tam Nguy với diện tích trăm dặm, trên núi có rất nhiều loại thú kỳ dị như Tam Thanh Điểu của Tây Vương Mẫu, và còn có loài trâu mọc bốn cái sừng, chim có ba thân. Theo như “Thượng Thư” ghi chép, vào thời Nghiêu Thuấn, bộ lạc Tam Miêu ở miền nam làm loạn, đế Nghiêu liền lưu đày họ đến vùng đất Tam Nguy.

Tam Nguy là ghi chép có liên quan đến Đôn Hoàng xuất hiện sớm nhất trong sách cổ, chính là nói đến núi Tam Nguy ở phía Đông nam của Đôn Hoàng. Từ xưa núi này đã là thắng cảnh thần tiên bậc nhất thuộc Đôn Hoàng, được mệnh danh là “Nguy Phong Đông Ngật”. Từ phía Đông Tây của núi Tam Nguy kéo dài mấy chục dặm, có ba đỉnh núi thẳng đứng, vô cùng nguy hiểm, nên người ta gọi tên ngọn núi này là “Tam Nguy”. Đỉnh núi chính của núi Tam Nguy đối diện với núi Ô Sa, cách một dòng sông lớn, Hang Mạc Cao nổi tiếng thế giới được xây dựng trên vách đá của núi Ô Sa được nước sông cọ rửa nhiều năm.

“Hán Vũ Đế quỳ lạy Phật” trong tranh sử tích Phật giáo được vẽ trên bức tường phía bắc của hang 323 thuộc Hang Mạc Cao. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Trong nhiều năm qua, tại hành lang Hà Tây bao gồm cả Đôn Hoàng, người Khương sống chủ yếu bằng nghề du mục qua nhiều thế hệ. Từ thời chiến quốc trở đi, nơi này là trang trại rộng lớn dưới sự cai quản của Nguyệt Thị tộc và Ô Tôn tộc, sau này Nguyệt Thị tộc đuổi Ô Tôn tộc đi khỏi, một mình cai quản Hà Tây. Cho đến cuối thời nhà Tần, người Hung Nô trỗi dậy, bọn họ cướp phá ở biên giới của vương triều Trung Nguyên, đồng thời tham lam thôn tính luôn các bộ tộc ở xung quanh. Không lâu sau, người Hung Nô thống nhất Đại Mạc, xây dựng vương triều, lấy hiệu là “Khống Huyền Chi Sĩ Tam Thập Dư Vạn”, trở thành bá chủ mới của hành lang Hà Tây.

Những năm đầu Tây Hán, người Hung Nô tấn công thành Mã Ấp (nay thuộc Sóc Thành – Sơn Tây), Hán Cao Tổ Lưu Bang đích thân thống lĩnh đại quân đến cứu viện, không ngờ bị bao vây trên núi Bạch Đăng bảy ngày bảy đêm. Trận giao đấu đầu tiên giữa Hung Nô và người Hán kết thúc bằng sự thất bại nặng nề của quân Hán. Lưu Bang vì muốn đất nước ngơi nghỉ để lấy lại khí thế, nên đành phải thực hiện chính sách hòa thân, đồng thời hàng năm không ngừng liên tục gửi đi một lượng lớn tơ lụa, lương thực và các vật dụng sinh hoạt hàng ngày cho Hung Nô để mong có được sự bình yên nơi biên giới. Nhưng đám người Hung Nô ngang ngược lại luôn vi phạm giao ước, trường kỳ xâm chiếm và quấy rối phía tây bắc của Hán triều, trở thành kẻ địch mạnh nhất của Hán triều lúc bấy giờ.

Sau khi Tây Hán xây dựng được hơn 60 năm, Hán Vũ Đế đầy đủ tài trí và mưu lược đã đăng cơ. Với chí lớn làm chủ thiên hạ, ông quyết chí cầu tiến, tuyển chọn nhân tài, quyết tâm tạo ra một thời kỳ thịnh thế hoàng kim trước đây chưa từng có. Hán Vũ Đế hướng tầm mắt về sa mạc Tây bắc, chuẩn bị đánh cược một phen, để xoay chuyển mối quan hệ bất bình đẳng giữa Hán triều và Hung Nô trong mấy chục năm qua. Vở kịch hay liên quan đến hành lang Hà Tây và Đôn Hoàng đã được vén mà từ dạo đó…

Phái sứ thần đến Tây Vực

Sau khi Hán Vũ Đế đăng cơ chưa lâu, thì xuất hiện một cơ hội tuyệt diệu. Quân Hán vô tình bắt được một binh sỹ Hung Nô, thông qua tra khảo, binh sỹ này đã khai báo thông tin tình báo quan trọng cho Hán Vũ Đế biết. Thì ra Thiền Vu của Hung Nô đã giết chết thủ lĩnh của Nguyệt Thị tộc, và dùng xương sọ của ông làm thành đồ đựng rượu một cách tàn nhẫn. Vua Nguyệt Thị mới không có khả năng báo thù, nên bị ép phải dời chỗ ở đến phía Tây.

Vì vậy Hán Vũ Đế nghĩ ra kế sách, nếu như có thể hợp tác với Nguyệt Thị tộc, hình thành thế tấn công từ hai phía đông và tây, thì sẽ có cơ hội diệt trừ sự đe dọa của Hung Nô ở Tây bắc. Nghĩ ra chiến lược như vậy là vô cùng mưu trí nhưng đồng thời cũng gặp khó khăn trăm bề. Đầu tiên, người của Hán triều không biết gì về tung tích của nước Nguyệt Thị và vùng đất cực tây xa xôi, hơn nữa nếu quân Hán muốn đi về phía Tây, cần phải đi qua hành lang Hà Tây do Hưu Đồ Vương và Hồn Tà Vương của Hung Nô cùng nhau cai quản.

“Trương Khiên đi sứ Tây Vực” trong ảnh di tích Phật giáo trên bức tường phía bắc trong hang 323 của Hang Mạc Cao – Đôn Hoàng, miêu tả Trương Khiên cầm hốt quỳ gối, từ biệt Hán Vũ Đế đang cưỡi ngựa, đi sứ Tây Vực. (Phạm vi công cộng).

Đây gần như là một nhiệm vụ không thể nào hoàn thành. Tuy nhiên vị Hán Vũ Đế trẻ tuổi vẫn cương quyết tuyển chọn dũng sĩ trong triều dám đi Tây Vực để tìm kiếm Nguyệt Thị. Cuối cùng, thị tùng quan Trương Khiên đã đứng ra đảm nhận trọng trách này, ông bắt đầu bước vào chuyến hành trình mạo hiểm này vào năm Kiến Nguyên thứ hai (năm 139 TCN). Trước khi đi, Hán Vũ Đế tuyển chọn một trăm tráng sĩ đi theo ông để bảo vệ, và phái thêm một người Hồ hết mực trung thành là Đường Ấp Phụ đảm nhận trọng trách dẫn đường và phiên dịch.

Rời xa thành Trường An phồn hoa và náo nhiệt, đoàn sứ thần của Trương Khiên dần dần bước vào một thế giới khác: Thế giới của những cơn gió rú lên từng hồi, cát vàng mênh mông trên sa mạc Go-bi, mặt trời rực cháy đến chói mắt, và ốc đảo vô cùng hiếm thấy. Tuy nhiên, những hoàn cảnh tự nhiên vô cùng khắc nghiệt này không phải là điều đáng sợ nhất, điều đáng sợ hơn là họ luôn luôn phải đối mặt với sự nguy hiểm bị người Hung Nô bắt được hoặc thậm chí là giết chết. Đám người của Trương Khiên vừa mới đi qua sông Hoàng Hà, tiến vào hành lang Hà Tây là đã gặp phải sự mai phục của người Hung Nô, toàn bộ đoàn người bị bắt và bị áp giải đến lều của vua Hung Nô. Lúc đó Thiền Vu muốn chiêu hàng Trương Khiên nên đã giam lỏng ông.

Trương Khiên ở lại chỗ của người Hung Nô thoáng chốc đã mười năm, và đã cưới vợ sinh con tại đó. Cuộc sống bị giam cầm không làm mai một ý chí và mơ ước của ông. Ông sống tại doanh trại của địch nhưng tâm luôn hướng về Hán triều, vì vậy Trương Khiên luôn tìm cơ hội để tìm hiểu tình hình quân sự và cuộc sống ngày thường của người Hung Nô. Một ngày nọ, Trương Khiên nhân lúc người Hung Nô canh phòng lỏng lẻo, trốn thoát thành công khỏi lãnh địa của Hung Nô, dẫn theo Đường Ấp Phụ và đám người còn lại tiếp tục đi về phía Tây.

Bộ tộc Nguyệt Thị lúc này đã tách ra làm hai, những người từ phía Tây đi đến IIi là nước Đại Nguyệt Thị, một số ít còn lại sống chung với người Khương ở Cam Túc, Thanh Hải thì là Tiểu Nguyệt Thị. Đoàn sứ thần của Trương Khiên đi qua sa mạc Taklamakan, vượt qua dãy núi Pamir, trải qua chuyến hành trình dài và gian nan, cuối cùng cũng tìm được nơi ở của Đại Nguyệt Thị. Nhưng Nguyệt Thị tộc sống yên ổn trong một thời gian dài đã không còn nhiệt huyết muốn trả mối thù năm xưa nữa. Mặc dù vua Nguyệt Thị rất khâm phục chuyến thám hiểm của Trương Khiên, nhưng lại không có hứng thú với chiến lược vây đánh Hung Nô của Hán Vũ Đế.

Đây là bích họa của hang 45 trong Hang Mạc Cao – Đôn Hoàng vào thời nhà Đường, miêu tả tình tiết “Hồ Thương gặp cướp”. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Trương Khiên ở lại chỗ của Nguyệt Thị tộc hơn một năm, rồi khởi hành quay về Hán triều vào năm Nguyên Sóc thứ nhất (năm 1228 TCN). Trên đường quay trở về, họ không may lại bị người Hung Nô bắt được, giam giữ hơn một năm. Nhân lúc Hung Nô bùng phát nội chiến, Trương Khiên trốn thoát khỏi sự giam cầm một lần nữa. Toàn bộ quá trình đi sứ của ông tổng cộng kéo dài 13 năm, đoàn sứ thần 100 người của năm xưa, bây giờ chỉ còn lại Trương Khiêm cùng vợ con ông, và người nô bộc trung thành Đường Ấp Phụ mà thôi.

Năm Nguyên Sóc thứ ba (năm 126 TCN), Trương Khiên mất tích suốt mười mấy năm qua đột nhiên xuất hiện trước mặt Hán Vũ Đế như một kỳ tích. Tuy rằng Trương Khiên không thể hoàn thành sứ mệnh liên kết với Nguyệt Thị tộc, nhưng sự trở về của ông đủ để khiến tất cả mọi người vui mừng khôn xiết. Trong mười mấy năm qua, Trương Khiên nhiều lần gặp nguy hiểm, ông đã đi qua các nước Hung Nô, Nguyệt Thị, Đại Uyển, Khang Cư, Đại Hạ, không chỉ mang về bản đồ Tây Vực cho nhà Hán mà còn nắm được toàn bộ tài liệu về địa lý, sản vật, phong tục và dân tình ở Tây Vực.

Khi Trương Khiên kể lại tất cả những gì mình chứng kiến và trải nghiệm ở Tây Vực trong suốt mười mấy năm qua, tất cả mọi người đều lắng nghe say sưa, giống như thông qua hành lang Hà Tây để thấy được sa mạc mênh mông bất tận, những con tuấn mã to khỏe và rau quả tươi ngon nơi vùng đất xa xôi. Hán Vũ Đế vì muốn khen ngợi công lao đi sứ của Trương Khiêm nên phong cho ông làm Thái trung đại phu, sau này lại phong tước cho ông làm “Bác Vọng Hầu”, lấy từ ý nghĩa nhìn xa trông rộng. Dấu chân trong chuyến hành trình về phương tây của Trương Khiên đã cung cấp thông tin quý giá để mở ra con đường thông Trung Nguyên và Tây Vực, tích cực cổ vũ tư tưởng cai quản phương Tây của quân thần Hán triều.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch