Chào mừng các bạn đến với chương trình: “Trăm năm chân tướng”. Hôm nay, chúng ta hãy khôi phục lại nguyên hình nguyên trạng của Tướng Tạ Văn Đông, nguyên mẫu của nhân vật “Đại bàng núi” trong vở kịch “Trí thủ uy hổ sơn” của ĐCSTQ…

Vở kinh kịch “Trí thủ uy hổ sơn” (dùng kế điệu hổ rời núi) là một trong tám vở hí kịch được coi là ‘kiểu mẫu’ trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc. Nhân vật “Đại bàng núi” trong vở kịch bị ĐCSTQ miêu tả thành một tên thổ phỉ ác bá đóng ở vùng núi sâu phía đông bắc. Tuy nhiên, nguyên mẫu của nhân vật này lại chính là Tạ Văn Đông, một anh hùng kháng Nhật chân chính. Ông đã trải qua những niên đại vô cùng sóng gió, ngoại địch nhập xâm, nội chiến tàn khốc. Ông đã từng là một vị tướng quân rong ruổi trên khắp chiến trường, cũng là một tù binh chịu khuất nhục cầu sinh, từ một người giàu có trở thành nhà tan cửa nát. Đánh giá về ông có cả hai cực khen chê, nhưng cuối cùng thì đâu mới là sự thực?

Ảnh chụp từ video nguồn Epoch Times.

Kinh kịch “Trí thủ uy hổ sơn”, dựa trên bộ tiểu thuyết dài tập “Lâm Hải tuyết nguyên” của Khúc Ba, là một trong tám vở kịch kiểu mẫu được Giang Thanh ủng hộ trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Nhân vật “Đại bàng núi” trong vở kịch được miêu tả là một tên thổ phỉ ác bá chuyên sống ở vùng núi sâu phía đông bắc, đốt nhà cướp chợ, không điều ác nào không làm. Cuối cùng, ông ta bị Dương Tử Vinh, trung đội trưởng trinh sát điều tra của ĐCSTQ bắt sống.

Nguyên mẫu nhân vật đã bị ĐCSTQ ‘bóp méo’…

Năm 2015, người dẫn chương trình truyền hình ‘CCTV’, Tất Phúc Kiến đã trình chiếu các trích đoạn nổi tiếng của vở kịch này trên bàn rượu, đồng thời hát một vài câu bình luận. Anh ta hát: “Cộng sản đảng! Mao Chủ tịch!” Rồi thì thầm: “Làm chúng tôi đau khổ quá!” Sau đó anh hát: “Một ngôi sao đỏ trên đầu, và lá cờ đỏ cách mạng ở hai bên!” Sau đó anh nói, “Ăn mặc kiểu gì thế này a? “Những lời bình luận ngẫu hứng của anh đã gây ra một tràng cười lớn, và những người có mặt hưởng ứng bằng những tràng pháo tay.

Sau khi đoạn video ngắn này ra mắt, nó đã trở nên phổ biến trên Internet và gây náo động. Một vài ngày sau, các phương tiện truyền thông của ĐCSTQ đã đưa ra một bài báo tấn công Tất Phúc Kiến, ngay sau đó, anh đã “biến mất” khỏi màn hình CCTV. Theo tiết lộ của những người trong cuộc, lúc đó Tất Phúc Kiến chỉ bất quá là một người kiêm hai vai, trong lời ca có hai phiên bản, phần bình luận là từ phiên bản dân gian “Trí thủ uy hổ sơn”.

Có nhiều phiên bản khác nhau của vở Kinh kịch này, vậy thì, nhân vật “Đại bàng núi” kia còn có hình tượng nào khác đây? Lật lại tư liệu, chúng tôi phát hiện quả nhiên là như vậy. Và ông ấy không những không phải là một ‘nhân vật phản diện lớn’ – như ĐCSTQ vẫn từng rêu rao – mà còn là một vị anh hùng kháng Nhật.

Nhà phê bình phim Mã Khánh Vân từng đăng một bài báo tiết lộ rằng: sau Sự kiện 18 tháng 9 năm 1931, Trương Học Lương đã để mất vùng Đông Bắc, nhưng “Đại bàng núi” vẫn bám trụ vùng đất đó và lãnh đạo cuộc chiến chống Nhật cho đến khi chỉ còn lại một binh một tướng. Quân đội Nhật đã cố gắng chiêu hàng ông cùng với các quan chức cấp cao và cho ông gia nhập chính quyền Phổ Nghi, nhưng ông thẳng thừng đoạn tuyệt.

Tạp chí “Tung hoành” do ĐCSTQ chủ biên cũng đã đăng một bài báo trên số thứ năm, năm 2006, với tựa đề “Tạ Văn Đông công trạng thiên thu”. Bài báo cho biết, “Đại bàng núi”, tên thật là Tạ Văn Đông, đã tổ chức một “tự vệ đoàn”, nhiều lần chiến đấu với quân đội Nhật trong thời kỳ Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc, và sau đó được dân chúng tiến cử làm Tổng tư lệnh Cứu quốc quân nhân dân thời kháng chiến chống Nhật, là lực lượng trọng yếu của Liên quân chống Nhật vùng Đông Bắc. Tương truyền, đương thời quân Nhật bất lực than thở về “ba tỉnh Đông Bắc nho nhỏ, mà có Tạ Văn Đông lớn gan”.

Tạ Văn Đông được cho chỉ là một trong những nguyên mẫu của “đại bàng núi”, vì không ít người vẫn cho rằng có một tên thổ phí khác tên là Trương Lạc Sơn mới chính là nguyên mẫu của “đại bàng núi”. Tuy nhiên, do nhiều chi tiết về tài liệu của Trương Lạc Sơn không kỹ lưỡng và mâu thuẫn với nhau, và không xác định được nguồn gốc cũng như tính xác thực của tài liệu gốc, vì vậy chúng tôi sẽ không đề cập ở đây.

Tạ Văn Đông rốt cuộc là người như thế nào?

Năm 1887, Tạ Văn Đông sinh ra tại thôn Vĩnh Điền, huyện Khoan Điền, tỉnh Liêu Ninh, nguyên danh là Tạ Văn Hàn. Năm 1925, ông vướng vào một vụ kiện tụng và phải chuyển cả gia đình đến thị trấn Tây Thái Bình, Thổ Long Sơn, huyện Ỷ Lan, tỉnh Hắc Long Giang. Ở vùng Đông Bắc rộng lớn và dân cư thưa thớt này, Tạ Văn Đông cùng gia đình mua đất nuôi tằm, trong vòng vài năm, ông sống sung túc và trở thành Bảo Trưởng của Đệ Ngũ Bảo ở Thổ Long Sơn, huyện Ỷ Lan. Vào thời điểm đó, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã triển khai hệ thống Bảo Giáp, mỗi Bảo Đại quản lý khoảng 100 hộ gia đình.

Sau Sự biến ngày 18 tháng 9, Quân đội Quan Đông – Nhật Bản đã chiếm lĩnh cả ba tỉnh đông bắc. Nguyên tướng Lý Đỗ của Quân đội Đông Bắc trước đây tổ chức Tự vệ quân kháng Nhật, Tạ Văn Đông đã dẫn mọi người tham gia vào đội ngũ của Lý Đỗ và được bổ nhiệm làm chỉ huy Lữ đoàn kỵ binh Thổ Long Sơn. Sau đó, Tự vệ quân kháng Nhật phản kháng không thành, Tạ Văn Đông về nhà tổ chức một tự vệ đoàn gồm hàng chục người.

Bắt đầu từ tháng 10 năm 1932, chính phủ Nhật Bản đã phái từng đợt “đoàn khai thác” đến vùng Đông Bắc để tiến hành di dân vũ trang. Chính quyền bù nhìn do Nhật Bản nuôi dưỡng thường mượn cớ nhiệm vụ “canh gác” để quấy rối bách tính ở địa phương; nó cũng lợi dụng thu mua đất của nông dân với giá cực rẻ, và cưỡng chế tịch thu đất đai và vũ khí riêng.

Tạ Văn Đông của “Cứu quốc quân nhân dân kháng Nhật” khi ấy bị quân Nhật bắt và bỏ trốn.

Ai cũng biết rằng đất đai là huyết mạch của người nông dân, và vũ khí là để đảm bảo cho sự an toàn. Bị áp bức đến mức này, tất cả mọi người đều phải vũ trang phản kháng. Vào ngày 8 tháng 3 năm 1934, Tạ Văn Đông và các đội trưởng bảo an khác ở khu vực Thổ Long Sơn dẫn đầu hơn 2 ngàn người, cầm vũ khí xông thẳng vào chính quyền thị trấn Thái Bình và đội cảnh sát, tước vũ khí của đồn cảnh sát Nhật ngụy, còn tập kích huyện trưởng Nhật ngụy và hơn 30 ngụy quân muốn đến để ‘xoa dịu’.

Vào ngày 10 tháng 3, Tạ Văn Đông đã đánh bật một đội tăng viện số 63 của Sư đoàn 10 quân Quan đông của Nhật Bản. Trung đội trưởng Iizuka Asago Osa bị giết, và 17 lính Nhật bao gồm Đại úy cảnh sát ngụy Hạp Văn Nghĩa và Thiếu úy Suzuki bị giết. Đây là vụ “Bạo động Thổ Long Sơn” gây chấn động cả Trung Quốc và nước ngoài. Vào thời điểm đó, cả tờ “New York Times” và “The Times” đều đã đưa tin.

Tạ Văn Đông đặt tên cho đội này là “Đội cứu quốc quân nhân dân kháng Nhật” và đưa ra khẩu hiệu “Thà là ma Trung Quốc, không làm nô vong quốc!” Do anh dũng kháng chiến, họ đã nhận được sự hưởng ứng của nhân dân và nhanh chóng phát triển thành lực lượng chủ lực trong cuộc kháng chiến chống Nhật vùng Đông Bắc. Thấy “Cứu quốc quân nhân dân” ​​uy lực ngày càng lớn, quân Nhật vội điều động một đại đội lớn quân vũ trang đến trấn áp.

Vào tháng 10 năm 1934, đội quân do Tạ Văn Đông chỉ huy bị quân đội Nhật Bản bao vây và bị thương vong nặng nề. Ông đã dẫn theo hàng chục người còn lại của mình trốn vào trong núi.

Lúc này, ĐCSTQ xuất hiện: Tạ Văn Đông chạm trán với Quân đội Cách mạng Nhân dân Đông Bắc do Triệu Thượng Chí chỉ huy. Năm 1936, đội của Tạ Văn Đông được Quân đội Cách mạng hợp nhất và sau đó được tổ chức lại thành Quân đoàn số 8 của Liên quân kháng Nhật Đông Bắc. Bản thân ông nhậm chức chỉ huy quân đội và gia nhập đảng. Dưới sự lãnh đạo của Tạ Văn Đông, Quân đoàn số 8 di chuyển đến Ỷ Lan, Bảo Thanh, Hoa Xuyên, Hoa Nam, Bột Lợi, Phương Chính và các huyện khác, liên tục phục kích quân Quan Đông của Nhật.

Khi đó, Tạ Văn Đông, người đang chiến đấu ngoài tiền tuyến, không biết rằng quân đội Nhật đã dò hỏi về nơi ẩn náu của gia đình ông, giết vợ ông và bắt những người thân của ông như mẹ, con dâu, và các cháu. Với sự gia tăng sức mạnh không ngừng của quân binh Nhật, tình hình của Quân đoàn số 8 ngày càng trở nên khó khăn hơn.

Đầu năm 1939, Nhật điều động 70 vạn quân Quan Đông và 30 vạn quân ngụy để chống lại cuộc tấn công quy mô lớn của Liên quân kháng Nhật. Liên quân đã đánh những trận đẫm máu, nhưng vì ít quân hơn, chỉ có hơn 30 vạn quân, nên Liên quân kháng Nhật không địch lại nổi, cuối cùng chỉ còn lại chưa đầy 2 ngàn quân. Quân đoàn số 8 của Tạ Văn Đông vốn có 2 ngàn quân, giờ chỉ còn lại một hoặc hai trăm người bị mắc kẹt sâu trong núi, hết đạn dược và lương thực. Lúc đó là vào mùa đông, ngày càng nhiều binh sĩ chết vì đói và rét.

Nhiều người quá đói đã bí mật xuống núi đầu hàng quân Nhật. Trong số 7 sư đoàn trong quân đội, 5 sư đoàn trưởng đã dẫn quân đầu hàng, trừ những người tử trận. Vào ngày 19 tháng 3 năm 1939, Tạ Văn Đông miễn cưỡng dẫn 24 người còn lại, bước ra khỏi núi, đầu hàng quân Nhật và quân ngụy.

Sau đó, Tạ Văn Đông bị áp tống đến Tân Kinh, thủ phủ của Mãn Châu Quốc của quân ngụy, tức là Trường Xuân, Cát Lâm ngày nay. Quân đội Nhật Bản và chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc đối xử lịch sự với ông và hứa sẽ để ông làm quan chức cấp cao của chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc, nhưng ông đều cự tuyệt. Mặc dù vậy, các nhà chức trách Nhật Mãn đã không giết ông, mà áp giải ông trở lại Ỷ Lan.

Trên đường đi, Tạ Văn Đông đã cố gắng tự tử bằng cách nhảy xuống sông Tùng Hoa từ trên thuyền và được phát hiện kịp thời. Kể từ đó, chính quyền Nhật và ngụy luôn theo dõi sát sao ông. Sau khi trở về quê hương, Tạ Văn Đông khẳng định mình đã ngoài năm mươi tuổi và nhất quyết không làm gì cho Nhật và chính quyền bù nhìn. Ông đề xuất về nhà hỗ trợ gia đình, và sau đó được phép làm công nhân khai thác bình thường tại mỏ than Thành Tử Hà ở huyện Bột Lợi cho đến khi vùng Đông Bắc được quang phục.

Sau chiến thắng trong kháng chiến chống Nhật, Tạ Văn Đông chọn Quân đội Quốc gia để chiến đấu chống lại Quân đội Cộng sản.

Sau khi cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc, cuộc Nội chiến giữa Quốc dân đảng – Cộng sản đảng bùng nổ ngay lập tức. Cả Quốc dân đảng và Cộng sản đảng đều thuyết phục Tạ Văn Đông, hy vọng rằng ông sẽ tổ chức lại đội quân và gia nhập phe của mình. Đối với ĐCSTQ, Tướng Lý Diên Lộc, đồng đội cũ của Tạ Văn Đông, đã cử người gửi cho ông một lá thư riêng. Nhưng cuối cùng Tạ Văn Đông đã lựa chọn Quân đội Quốc gia, và được Tưởng Giới Thạch bổ nhiệm làm Trung tướng Tư lệnh Tập đoàn quân số 2 Quân Bảo an tỉnh Hiệp Giang. Ông trả lời Lý Diên Lộc: “Tôi không có đường nào để đi. Hơn nữa, Quốc dân đảng là chính phủ trung ương, đại biểu cho quốc gia. Đảng Cộng sản của các bạn đều quy về chính phủ quản. Hơn nữa, tôi đã được chính phủ bổ nhiệm, vì vậy tôi chỉ có thể nghe lời chính phủ”.

Tạ Văn Đông mới chỉ học ở một trường tư trong bốn năm và có không nhiều kiến thức văn hóa. Nhưng ông đã nhận định được rằng: Chính phủ Quốc dân đảng là chính phủ hợp pháp duy nhất. Hơn nữa, Tạ Văn Đông, người đã chịu đủ sự áp bức của Nhật Bản và chế độ bù nhìn, đương nhiên không có ấn tượng tốt về chế độ Cộng sản Trung Quốc do Liên Xô hậu thuẫn. Cuối cùng thì việc ông ấy gia nhập quân đội quốc gia cũng là điều hợp lý. 

Trong Nội chiến, Tạ Văn Đông lãnh đạo quân đội Quốc gia và chiến đấu chống lại quân đội Cộng sản. Kinh qua nhiều trận chiến ác liệt, địch không lại, ông dẫn theo số ít người và ngựa còn lại chạy trốn vào núi sâu rừng già.

Vào ngày 20 tháng 11 năm 1946, Tạ Văn Đông và con trai ông bị mắc bẫy của Dương Tử Vinh, người đứng đầu trung đội trinh sát của ĐCSTQ. Ngày hôm sau, hai cha con bị áp giải đến huyện Nghi Lan. Vào ngày 3 tháng 12 cùng năm, huyệt Bột Lợi tổ chức một buổi đại hội hội thẩm công khai; sau cuộc hội thẩm, Tạ Văn Đông đã bị ĐCSTQ xử bắn.

Vào đêm trước khi hành quyết, Tạ Văn Đông nhìn thấy rượu và rau được mang tới – theo phong tục thời đó, ông biết rằng đảng Cộng sản sẽ giết ông. Tạ Văn Đông đã nhờ các vệ sĩ tìm Vương Thế Phương, trưởng Bộ Tư lệnh quân khu Giang Hợp của ĐCSTQ. Ông nói: “Tôi là Tổng Tư lệnh của Quân đoàn 15 do Chính phủ Quốc dân Trung ương bổ nhiệm. Tôi cũng là chỉ huy của Liên quân kháng Nhật, đã tham gia vào đảng Cộng sản và chiến đấu chống lại phát xít Nhật. Trong tất cả các triều đại lịch sử, Trung Quốc hay ngoại quốc đều nói rằng đầu hàng sẽ không bị giết, ưu đãi tù binh, phát xít Nhật còn không dám giết tôi. Đảng Cộng sản của các vị cứ nói giết là liền giết tôi ư? Tôi đã kháng Nhật lập công!” Nhưng đáng tiếc, đoạn lời này đã trở thành những lời cuối cùng của ông.

Vì tin lời dụ dỗ của Dương Tử Vinh mà bị mắc bẫy và bị xử bắn

Vở kịch “Trí thủ uy hổ sơn” kể chuyện Tạ Văn Đông bị Dương Tử Vinh bắt sống. Vậy, chính xác thì Tạ Văn Đông đã bị “qua mặt” như thế nào? Theo lời kể của những người đồng đội của Dương Tử Vinh, vào thời điểm đó, Dương Tử Vinh đã mạo danh là một trong số tướng lĩnh của “Cửu Bưu”, một đội ngũ kháng Nhật khác, và dùng những lời đường mật để kết nối với người liên lạc của Tạ Văn Đông.

Sau đó, ông ta trước tiên được giới thiệu với phụ tá của Tạ Văn Đông và một đại đội trưởng, hai người đồng ý đưa họ vào núi, nhưng đại đội trưởng không yên tâm với Dương Tử Vinh và nhóm của ông ta, muốn tước súng của họ, nhưng đã bị những người đi theo Dương Tử Vinh thuyết phục.

Khi đến nhà kho nơi Tạ Văn Đông nằm, Dương Tử Vinh giơ súng và hỏi: Tại sao ông lại để thủ hạ mạo phạm chúng tôi và phá vỡ quy củ của giang hồ, yêu cầu Tạ Văn Đông xin lỗi chủ nhân của “Cửu Bưu”. Để hiển thị thành ý của mình, Tạ Văn Đông thậm chí còn không mang theo súng, vừa mặc y phục vừa nói với người của mình: “Chúng tôi xin lỗi mọi người, không còn cách nào, thôi hãy đi nói chuyện”. Sau khi xuống núi, ông ngẩn người nhìn, toàn cảnh là quân đội Cộng sản Trung Quốc.

Bằng cách này, Tạ Văn Đông đã bị ĐCSTQ bắt sống, và chỉ trong vòng nửa tháng sau, ông đã bị bắn – cuộc đời của ông mãi mãi dừng lại ở số tuổi 59. Nhưng ông cũng không thể nghĩ tới việc, sau khi chết, ông lại bị viết thành nhân vật trong vở kịch “Trí thủ uy hổ sơn”, bị ĐCSTQ xào xáo biến thành một tên ‘thổ phỉ ác ôn không điều ác nào không làm’.

Trong hơn nửa thế kỷ, vở kinh kịch “Trí thủ uy hổ sơn” đã dùng kịch tình hư giả để phiếm động cừu hận, trở thành một công cụ được ĐCSTQ sử dụng để tẩy não người dân. Khôi phục lại nhân tính chân thực của nguyên mẫu “Đại bàng núi” không chỉ là để an ủi linh hồn người anh hùng Trung Quốc bị ĐCSTQ sát hại, mà còn để khôi phục lại lịch sử thực sự của người dân Trung Quốc.

Các bạn độc giả thân mến, cảm ơn các bạn đã theo dõi. Hẹn gặp lại các bạn trong những tập tiếp theo!

Theo Epoch Times
Hương Thảo biên dịch