Năm Kiến An thứ 5 (năm 211), Tôn Quyền phái Lục Tích đi đến quận Úc Lâm – nay thuộc Ngọc Lâm, Quảng Tây – xa xôi hẻo lánh để làm Thái thú và biện tướng quân, ban cho hai ngàn binh lính…

Cha hiền, con hiếu

Lục Khang là Thái thú Lư Giang vào những năm cuối của Đông Hán. Lịch sử ghi chép, Lục Khang từ nhỏ đã hiếu thuận cha mẹ, yêu thương anh em, chú trọng việc đề cao đức hạnh. Chính vì có phẩm chất tốt đẹp mà ông được nhiều người khen ngợi, Lý Túc khi ấy đang giữ chức Thái thú đã tiến cử Lục Khang làm Hếu liêm. Về sau Lý Túc xảy ra chuyện bị xử chém, Lục Khang dũng cảm đứng ra để thu nhận thi thể Lý Túc và đưa về quê nhà ở Dĩnh Châu mai táng, còn mặc áo tang và để tang cho Lý Túc.

Nghĩa cử cao cả của Lục Khang khiến mọi người cảm động, ông lại được tiến cử làm Tú tài, đảm nhận chức Huyện lệnh Cao Thành (nay thuộc huyện Diêm Sơn tỉnh Hà Bắc). Huyện Cao Thành nằm ở nơi xa xôi hẻo lánh, vì vậy trị an nơi đây không được tốt, nhà nào nhà nấy cũng đều để sẵn cung nỏ trong nhà. Sau khi Lục Khang đến nhậm chức tại đây, ông tiêu diệt hết thổ phỉ, và dùng cách tạo dựng ân đức tín nghĩa để thu phục đạo tặc, vì vậy mà bá tánh nơi này vô cùng vui mừng.

Để biểu dương thành tích này của Lục Khang, triều đình thăng chức cho ông lên làm thái thú Vũ Lăng, sau này lại chuyển sang nhậm chức tại Quế Dương và Lạc An, ông đi đến đâu cũng được bá tánh ca tụng. Về sau Lục Khang lại được làm thái thú Lư Giang. Vào thời điểm đó lực lượng ly khai của Viên Thuật đang đóng quân tại Thọ Xuân của quận Cửu Giang. Lúc đầu, Lục Khang và Viên Thuật còn có thể giao lưu hòa bình, qua lại với nhau, nhưng về sau trở mặt thành thù.

Lục Tích lưu danh

Lục Khang có một người con trai đặt tên là Lục Tích. Dưới sự dạy bảo của người cha, Lục Tích tuổi còn rất nhỏ cũng đã biết hiếu thảo với cha mẹ. Năm lên 6 tuổi, cậu gặp được Viên Thuật tại Cửu Giang, Viên Thuật lấy quýt ra để tiếp đãi cậu. Lục Tích lén giấu ba trái quýt trong người, nhưng khi lễ bái từ biệt để ra về thì mấy trái quýt trong người cậu bị rơi ra ngoài. Viên Thuật trêu ghẹo cậu rằng: “Lục lang làm khách quý mà giấu quýt trong người làm gì?”, Lục Tích quỳ xuống đáp rằng: “Con muốn mang về cho mẫu thân con nếm thử”.

Hành vi hiếu thảo của Lục Tích khiến cho Viên Thuật cảm thấy rất kinh ngạc. Người đời sau viết thơ nói rằng: “hiếu đễ giai thiên tính, nhân gian lục tuế nhi. Tụ trung hoài lục quất, di mẫu báo nhũ bộ” (Tính bẩm sinh hiếu đễ, thế gian trẻ lên sáu, giấu quýt xanh trong áo, tặng mẹ báo công ơn). Điển tích “hoài quấy di thân” nổi tiếng trong lịch sử được bắt nguồn từ đây. Quách Cư Kính của nhà Nguyên cũng đã đem điển tích này biên soạn vào trong “Nhị Thập Tứ Hiếu”.

Tranh hoài quất trong “tứ hiếu đồ” của họa sĩ nhà Nguyên (ảnh: Phạm vi công cộng).

Tuy nhiên, chỉ mới một năm sau bữa tiệc giấu quýt lần đó, mối quan hệ hai nhà Lục Viên đã bắt đầu trở nên xấu đi, nguyên nhân là vì đội quân của Viên Thuật thiếu quân lương, Viên Thuật yêu cầu Lục Khang giao ra 3 vạn hộc gạo, Lục Khang một lòng trung thành với nhà Hán nên đã từ chối, Viên Thuật nổi giận, sau đó sai bộ tướng của mình là Tôn Sách công đánh Lư Giang. Lục Khang kiên trì thủ thành suốt hai năm, nhưng cuối cùng thành trì cũng thất thủ. Sau khi Lư Giang thất thủ hơn một tháng thì Lục Khang qua đời vì bạo bệnh, hưởng thọ 70 tuổi. Gia tộc Lục Thị có hơn một trăm người, trong đó gần một nửa người đã chết trong cuộc vây hãm thành gian khổ và nạn đói kéo theo sau đó.

Hoàng đế thương xót tinh thần kiên trì thủ thành của Lục Khang, phong cho con trai ông là Lục Tuấn lên làm lang trung, còn Lục Tích khi đó chỉ mới 9 tuổi thì theo gia tộc quay về quận Ngô, thừa kế vị trí của gia chủ, cháu trai 13 tuổi của Lục Khang giúp đỡ Lục Tích quản lý và duy trì môn hộ.

Tuy rằng Lục Tích tuổi vẫn còn nhỏ, nhưng cậu “dung mạo hùng dũng, uyên bác nhiều kiến thức, lịch thiên văn hay toán số không môn nào là không tinh thông”, vì vậy mà cậu rất nổi tiếng. Lục Tích có hai người bạn “vong niên giao” (vong niên giao là sự kết giao giữa những người  khác biệt về tuổi tác, vai vế nhưng lại có tư tưởng giống nhau và tình bạn rất sâu đậm thắm thiết), một người là Ngu Phiên được biết đến với tính cách ngông cuồng không chịu bị gò bó và nói năng tùy tiện không kịp suy nghĩ. Một người là Bàng Thống với biệt danh “Phượng Sồ”, ông là danh sĩ Kinh Châu về sau phó tà Lưu Bị.

Sau này, Tôn Sách và Chu Du đã phát động chiến tranh sau khi trở mặt quyết liệt với Viên Thuật, và chiếm được Giang Đông, thiếu niên Lục Tích nổi tiếng cũng trở thành thượng khách (khách quý) của Giang Đông. Một hôm, Tôn Sách mời Trương Chiêu, Trương Hoành, Tần Tùng và các danh sĩ khác đến để thảo luận thời cuộc trong thiên hạ, cho rằng hiện nay khắp nơi đều chưa ổn định, cần phải dùng vũ lực để bình ổn thiên hạ. Lục Tích ngồi ở chỗ thấp nhất thì lại không tán thành nhận định này, cậu lớn tiếng nói rằng: “Năm xưa Quản Trọng phò tá Tề Hoàn Công, chín lần họp chư hầu, chỉnh đốn thiên hạ, không cần dùng đến chiến tranh. Khổng Tử nói: ‘người nơi xa không quy thuận, thì dùng lễ nghi giáo hóa để khiến họ quy thuận’. Hiện nay mọi người thảo luận chiến thuật chiếm giữ nhưng không xem trọng đạo đức, mà một mực muốn dùng vũ lực, Lục Tích tuy nhỏ tuổi không hiểu chuyện, nhưng trong lòng cảm thấy vô cùng bất an”. Những lời này của Lục Tích khiến cho đám người của Trương Chiêu vô cùng kinh ngạc.

Năm Kiến An thứ 5 (năm 211), Tôn Quyền phái Lục Tích đi đến quận Úc Lâm (nay thuộc Ngọc Lâm, Quảng Tây) xa xôi hẻo lánh để làm Thái thú và biện tướng quân, ban cho hai ngàn binh lính. Quảng Tây khi đó khí hậu nóng bức, môi trường khắc nghiệt, bệnh kiết lỵ hoành hành. Sau khi Lục Tích đến đó nhậm chức, ông làm một vị quan thanh liêm chính trực, và luôn thương xót dân chúng, giảm nhẹ lao dịch và thuế cho dân, lại tích cực cải thiện đời sống của bá tánh. Lục Tích khuyến khích người dân xây nhà đào giếng, cải thiện điều kiện nước uống, giảm bớt sự lây lan bệnh dịch, vì vậy mà người dân địa phương đặt tên giếng là “Lục Công Tỉnh” (giếng ông Lục).

Phán sử Quý Châu Lưu Bát Cổ của nhà Hán trong thời kỳ Ngũ Đại vì tưởng nhớ tấm lòng hiếu thảo của Lục Tích qua hành động giấu quýt tặng mẹ, nên đã trồng một cây quýt ở bên cạnh giếng, vì vậy mà giếng “Lục Công Tỉnh” còn được gọi là “Quất Tỉnh” (giếng quýt), còn bá tánh nơi đây thì gọi trực tiếp giếng này là “Hoài Quất Tỉnh” (giếng giấu quýt).

Ảnh minh họa: Pixabay.

Năm 217, Lục Tích giải trừ quan tước, lên kế hoạch quay về quận Ngô bằng đường biển. Vì ông là một vị quan thanh liêm, cho nên đồ vật mang theo bên mình ngoài mấy thùng sách ra thì không còn vật gì khác. Người chèo thuyền lo lắng độ chìm của thuyền quá nhẹ không đủ sâu, sợ rằng không thể chống đỡ được sóng to gió lớn, Lục Tích kêu người chèo thuyền tìm một tảng đá to trên bờ để đè thuyền, sau đó thuyền mới thuận lợi quay trở về.

Chuyện này trở thành một giai thoại ở quận Úc Lâm và quận Ngô, mọi người gọi tảng đá to đó là “Úc Lâm thạch” hoặc “liêm thạch đại bổng”. Người đời sau còn viết thơ ca tụng rằng: Úc Lâm thái tú sử xưng hiền, kim chu bất tải tải thạch hoàn. Hàng hải quy Ngô khổng điên phúc, tải đắc cự thạch tri kỳ liêm (tạm dịch: Úc Lâm Thái thú danh tiếng tốt, châu báu không chở chở đá về. Đi biển về Ngô sợ lật thuyền, chở được đá lớn biết thanh liêm).

Sau khi quay trở về quê hương, Lục Tích vốn dĩ không muốn làm quan nên một lòng chuyên tâm vào học vấn, Lục Tích chú thích “Dịch Kinh”, ban đêm quan sát thiên văn trên núi Long Tưu, tạo ra Hồn Thiên Đồ, tất cả đều được lưu truyền lại. Đáng tiếc vì làm việc quá sức, chưa đến hai năm sau Lục Tích đã qua đời khi mới chỉ ở độ tuổi 32.

Có lẽ là vì Lục Tích cảm nhận được mình không còn nhiều thời gian nữa, vì vậy khi còn sống đã để lại di ngôn như thế này, hoặc có thể nói đây là một lời tiên tri: “Có chí sĩ Lục Tích quận Ngô của nhà Hán, từ nhỏ học tập ‘kinh thi’, ‘thượng thư’, lớn lên nghiên cứu ‘Chu lễ’, ‘Kinh Dịch’, lần này phụng mệnh nam chinh, nào ngờ lại bị bệnh nặng, không giữ được tính mạng, chao ôi buồn thay! Nay ta rời khỏi thế gian, sáu mươi năm sau, sẽ xuất hiện cục diện xe chung đường đi, sách cùng văn tự (diễn tả thiên hạ thống nhất), chỉ hận ta không thể nhìn thấy’. Tuy rằng Lục Tích làm quan tại Giang Đông mười mấy năm, nhưng vẫn luôn xem mình là thần tử của nhà Hán, kỳ vọng thiên hạ được thống nhất.

60 năm sau, đội quân của nhà Tấn (Tây Tấn) mang quân xuống phía nam tiêu diệt Tôn Ngô, kết thúc cục diện Tam quốc, thống nhất Trung Quốc lại từ đầu, hình ảnh “xe chung đường đi, sách cùng văn tự” được tái hiện. Lục Tích học rộng hiểu nhiều lại một lần nữa khiến cho người đời phải thán phục.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch