Trong lịch sử, mỗi khi nói đến bậc đại trí giả ngốc – “Đại trí nhược ngu”, người ta liền nghĩ ngay đến những người tài giỏi nhưng lại cố ý giả khờ, vụng về, yếu thế, giả heo để ăn thịt hổ giống như Câu Tiễn và Tư Mã Ý. Và giống như Quách Tử Nghi “cố ý ẩn thân giả vờ khờ khạo, không biết tranh đấu”… thực ra không phải vậy…

Mục đích của những người này là muốn bảo vệ quyền lực của mình cùng với sự giàu có. Còn người “Đại trí nhược ngu” chân chính nhìn thấu thế gian, có thể từ bỏ mọi thứ trên đời như ngai vàng, danh vọng, họ chính là “quân tử trọng đức, tướng mạo ngu si”, ở thế gian tưởng chừng không ai ngốc bằng, nhưng lại nhìn thấu sinh tử, có trí tuệ cao siêu.

Bậc quân vương quyền thần ‘giả heo ăn thịt hổ’…

Trong lịch sử Trung Quốc có không ít bậc quân vương đại thần là người “đại trí giả ngu”, khi lâm vào thế bất lợi thì họ hạ mình, che giấu tài năng để chờ thời cơ. Khi cơ hội tốt đến, họ trở mình đột kích đánh bại đối thủ, cướp lấy quyền uy hoặc báo thù rửa nhục.

Việt Vương Câu Tiễn bị nước Ngô đánh bại, ông đã dâng cho vua Ngô người phụ nữ xinh đẹp mà bản thân yêu mến nhất là Tây Thi. Bản thân cùng Vương hậu cũng đi tới nước Ngô để hầu hạ vua Ngô, coi sóc mộ phần và cho ngựa ăn, ngoan ngoãn phục tùng. Có một lần vua Ngô lâm bệnh, Câu Tiễn còn nếm thử cả phân và nước tiểu để chẩn đoán bệnh cho vua Ngô. Điều này khiến vua Ngô vô cùng cảm động và đã phóng thích cho ông trở về nước Việt. Sau khi trở về, Câu Tiễn nếm mật nằm gai, cùng lao động với nhân dân, chăm lo việc nước, khiến dân giàu nước mạnh, cuối cùng đánh bại nước Ngô để báo thù.

Năm 239 sau Công nguyên, khi mới 8 tuổi, Tào Phương lên ngôi dưới sự trợ giúp của tướng quân Tào Sảng và Thái úy Tư Mã Ý. Không lâu sau, Tào Sảng liền sắp xếp thăng quan cho Tư Mã Ý lên chức Thái phó để chiếm lấy quyền của ông. Tư Mã Ý là bậc nguyên lão bốn triều đã biết được ý đồ của Tào Sảng nên đã cáo bệnh ốm không ra ngoài. Tào Sảng lại sai thân tín Lý Thắng tới nhà Tư Mã Ý để tìm hiểu tình hình thực tế, chỉ thấy Tư Mã Ý nằm ở giường, hai a hoàn đang cho ông ăn cháo, nước cháo chảy ra ngoài dọc theo khóe miệng làm ướt hết hai vạt áo. Tư Mã Ý còn giả bộ tai mình bị điếc. Tào Sảng nghe Lý Thắng báo cáo xong thì không còn cảnh giác với Tư Mã Ý nữa. Năm 249 sau Công nguyên, Tư Mã Ý lợi dụng cơ hội Tào Sảng đi ra ngoài thành tảo mộ, ông đã phát động cuộc đảo chính, giành quyền kiểm soát kinh thành, cuối cùng giết cả gia tộc nhà Tào Sảng. Vậy là quyền hành nước Ngụy rơi cả vào tay Tư Mã Ý.

Quách Tử Nghi là một tướng vô cùng nhân nghĩa, không lấn át chủ, cũng không chiêu mời sự đố kỵ

Sau khi bình định Loạn An Sử, Quách Tử Nghi đã làm quan bảo vệ bốn đời của triều đại nhà Đường, phúc thọ song toàn, con cháu đầy đàn. Sử sách đánh giá ông: “Công trùm trời đất mà chủ không nghi ngại, địa vị vượt muôn người mà không ai đố kỵ”. Quách Tử Nghi trải qua cuộc sống giàu sang phú quý nhưng từ trên xuống dưới không ai trách móc ông. Tại sao ông lại làm được như vậy?

Chân dung Quách Tử Nghi (Nguồn: Wikipedia)

Trong ‘Đạo đức kinh’, Lão Tử có nói: “Tỏa kỳ duệ, giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần”, ý tứ mặt chữ là làm lu mờ tài năng, loại bỏ tranh giành, hòa mình với ánh sáng, ngốc nghếch nhìn thế giới. Quách Tử Nghi vô cùng am hiểu đạo lý này nên rất rộng lượng với thiên hạ, hiểu rõ sự đời. Hoạn quan Ngư Triều Ân rất được hoàng đế sủng ái lại thường đố kỵ với Quách Tử Nghi, một lòng muốn hãm hại ông. Một lần Quách Tử Nghi xuất quân bình loạn, Triều Ân đã bí mật cho người đi phá bỏ mộ phần tổ tiên của gia tộc họ Quách. Sau khi chiến thắng trở về, Quách Tử Nghi biết được việc này, thay vì tức giận lôi đình, ông lại hướng đến Triều Ân giảng hòa. Ông nói rằng bản thân trong quá trình dẫn binh nơi sa trường, cấp dưới của ông cũng có không ít người đã đào mộ của người khác, bởi vậy đây là trời trừng phạt ông, nên không cần truy cứu. Hành động này đã giúp Quách Tử Nghi tránh được một cuộc xung đột đẫm máu và giải vây cho hoàng đế khỏi tình thế khó xử. Điều này cũng cho thấy, Quách Tử Nghi có tấm lòng độ lượng rất to lớn.

Cổng phủ của Quách Tử Nghi luôn mở rất rộng, người buôn bán nhỏ có thể ra vào tùy ý, con trai ông cảm thấy việc này rất khó hiểu. Quách Tử Nghi đã nói với con trai những lời đầy ẩn ý như thế này: “Gia đình ta có 500 con ngựa cần ăn cỏ, hơn 1000 người hầu cần ăn uống, nếu như nhà mình kín cổng cao tường, ngăn cách với thế giới bên ngoài, người có dã tâm sẽ quạt lửa, gia tộc nhà chúng ta có thể lâm vào họa tru di tam tộc. Cửa phủ mở rộng, người vào người ra, người muốn hãm hại ta cũng tìm không được cớ”. Mỗi lần Quách Tử Nghi “giả ngu” chính là lúc nhà họ Quách loại trừ đi một mối đại họa, hoặc được hoàng đế ban thưởng, hoặc tạo mối quan hệ bền chặt hơn với quan đại thần khác.

Pháp sư Hoằng Nhất: Từ một tài tử phong lưu trở thành nhà sư khổ hạnh

Trong 500 năm lịch sử văn hóa cận đại của Trung Quốc, Lý Thúc Đồng được coi là bậc kỳ tài có một không hai. Ông là người đầu tiên giới thiệu tranh sơn dầu, đàn piano và kịch nói đến Trung Quốc. Ông giỏi thư pháp, thơ ca, âm luật, am tường cả về đồ kim khí, mỹ nghệ vàng và đá. Sự hiểu biết của Lý Thúc Đồng được vô số người kính ngưỡng. Ông sinh ra trong một gia đình giàu có, tính tình hào phóng, tiếp xúc với giới văn học, học giả, cũng mê hoa trong ngõ liễu, ngâm thơ uống rượu tiêu dao…

Năm 39 tuổi, Lý Thúc Đồng chính thức xuất gia, lấy pháp danh là Hoằng Nhất. Quyết định này của ông khiến giới văn học nghệ thuật Trung Hoa Dân Quốc rất chấn động. Từ một tài tử phong lưu, sống xa hoa, có kẻ hầu người hạ đã trở thành một nhà tu hành khổ hạnh thực sự, mỗi ngày ông ăn hai bữa, mỗi bữa chỉ có một bát cơm cùng với đĩa dưa muối, khi đi vân du chỉ đem theo tấm ngồi và một chiếc ô. Ông cũng tự giặt và may vá quần áo. Áo cà sa của ông có tới 200 miếng vá khiến bạn bè cũ nhìn thấy cũng vô cùng chua xót.

Trước khi đi tu, Lý Thúc Đồng đã viết thơ cho vợ như thế này: “Anh buông em xuống rồi, anh cũng buông bỏ danh tiếng và của cải tích lũy trên đời. Những thứ này đều như mây khói thoảng qua, không đáng để lưu luyến…” Ông hiểu rằng sinh ra làm người được mấy chục năm, đại nạn cũng nên đến, người thân sớm muộn cũng biệt ly, xuất gia bất quá cũng chỉ là lựa chọn sớm hơn mà thôi.

Sư phụ Hoằng Nhất đã tu Phật được 24 năm, hết sức giữ gìn giới luật, dũng mãnh tinh tấn, chấn hưng Luật Tông vốn đã bị gián đoạn suốt mấy trăm năm. Tuy vậy, ông vẫn tự gọi mình là “ông lão 21”, một ông lão đần đần vô tích sự, không có gì đáng nhắc đến. Trong mắt người thế tục, ông được phong ở vị trí đỉnh cao của nghệ thuật, bỏ đi sự nghiệp, nhà cửa để xuất gia, làm một việc không có giá trị gì. Sau khi Sư phụ Hoằng Nhất viên tịch, thân xác ông đem đi hỏa táng, mọi người đã phát hiện thấy hơn 1800 viên xá lợi tử, xá lợi hình khối có tới 600 viên. Lúc này, người thế gian mới ngỡ ngàng nhận ra đâu là bậc đại trí tuệ.

Người tu luyện biến mình thành kẻ giả ngu

Lão Tử nói: “Tục nhân chiêu chiêu, ngã độc hôn hôn, tục nhân sát sát, ngã độc muộn muộn. Đạm hề kỳ nhược hải, liêu hề nhược vô chỉ. Chúng nhân giai hữu dĩ, nhi ngã độc ngoan thả bỉ”. Tạm dịch: “Người đời sáng tỏ, riêng ta mơ màng, người đời tinh tươm, riêng ta luộm thuộm. Thứ người đời có đầy đủ, riêng ta thiếu thốn”. Điều này có thể thấy được sự tương phản rõ rệt giữa người đời và người tu, người đời thông minh tài ba, tính toán mọi thứ cho bản thân một cách tỉ mỉ cẩn thận, còn người tu Đạo lại thể hiện sự trung thực chất phác, không toan tính được mất cá nhân.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, phần đa mọi người làm mọi thứ chỉ vì tiền, họ ngày đêm nghĩ cách làm sao kiếm được thật nhiều tiền để tận hưởng cuộc sống xa hoa hưởng lạc. Nhưng có một nhóm người tu luyện, trong đó có người làm bác sĩ, không chấp nhận tiền hoa hồng của công ty thuốc, không nhận phong bì của bệnh nhân; Lại cũng có người làm giáo viên, họ dạy học sinh một cách tận tâm, không nhận quà của cha mẹ học trò biếu xén; Cũng có người làm quan chức, không nhận hối lộ, không bớt xén tiền hợp đồng; Người làm kinh doanh buôn bán, khi đối mặt với khách gây khó dễ, đối thủ cướp đoạt mối làm ăn, họ đã thản nhiên nhường lại; Người bị ô tô đâm ngã thì không trách oán người, cũng không đòi bồi thường…

Người đời tin rằng cõi nhân sinh là vô thường, nên nếu có cơ hội thì cứ tận sức mà kiếm, để kiếp này được sống xa hoa và thỏa thích hưởng thụ, để không đối xử tệ bạc với bản thân. Tuy nhiên, trong mắt người tu luyện, sinh mệnh là tuần hoàn bất diệt, mọi thứ trong xã hội này đều do Trời cao an bài, làm người ở kiếp này chỉ là một đoạn ngắn trong dòng sông dài của sinh mệnh mà thôi.

Buông xuống những được mất nơi hồng trần là để đạt được sự vĩnh cửu của sinh mệnh. Người đời cho rằng suy nghĩ ngày thật cổ hủ, tuy nhiên đó lại là đại trí tuệ trong cõi nhân sinh này.

Theo Vision Times
San San biên dịch