Cuốn sách “Cuộc chiến tự vệ năm 1962 chống lại Ấn Độ: Trung Quốc đạt được gì từ nó?” đã viết: “Không cần mảnh đất này sao? Quân nhân nghĩ không ra, trăm họ cũng nghĩ không ra. Năm 1962, ta từ Tuyết Sơn đánh xuống, thế như phá trúc, giữa đường vứt hết áo bông, càng đánh càng nhanh. Đến khi rút ​​lui, càng đi càng chậm, chiến sĩ nghĩ không ra, đây là lãnh thổ của chúng ta, vì sao phải rút lui?”

Xin chào quý khán giả! Chào mừng đến với “Trăm Năm Chân Tướng“.

Năm 1962, ĐCSTQ gây chiến với Ấn Độ. Về cuộc chiến này, nhà văn Trung Quốc Kim Huy đã nhận xét trong cuốn sách “Sự dụ hoặc của Medog, Tây Tạng”: “Kẻ thắng lợi ngoài không mang danh nghĩa thất bại, lại nhận lấy mọi thứ của kẻ thất bại; Kẻ thất bại ngoài không mang danh nghĩa thắng lợi, lại có được mọi thứ của kẻ thắng lợi”, cũng chính là nói, cuộc chiến biên giới Trung – Ấn này, trên biểu hiện thì là ĐCSTQ đại thắng, Ấn Độ đại bại; nhưng kết quả thực tế là, Ấn Độ đại thắng, ĐCSTQ đại bại.

Hôm nay, chúng tôi sẽ kể với các bạn về “cuộc chiến kỳ quái” đó.

Tranh chấp biên giới trường kỳ

Tranh chấp biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ có lịch sử lâu đời. Đến tháng 6 năm 1962, Thủ tướng Ấn Độ Nehru ban hành “chính sách tiền tiến” tuyên bố rằng Trung Quốc không nên độc chiếm Tây Tạng. Sau đó, quân đội Ấn Độ bắt đầu tiến vào bên trong lãnh thổ Trung Quốc để xây dựng các tiền đồn mới, và một số tiền đồn thậm chí còn được thiết lập giữa và sau các đồn biên phòng của ĐCSTQ, hình thành một hình thái đan xen với các tiền đồn của ĐCSTQ.

Ngày 17 tháng 10 cùng năm, phía Trung Quốc nói rằng quân đội Ấn Độ phát khởi tiến công vào tuyến đông và tuyến tây của biên giới. Quân ủy Trung ương ĐCSTQ đã ban hành “Mệnh lệnh tác chiến tiêu diệt quân Ấn Độ xâm lược”; ngày 18 tháng 10, lại hạ lệnh: Trong trận chiến với Ấn Độ này, “phải thắng ngay trận đầu, chỉ có thể đánh thắng, không thể đánh thua”.

Vào ngày 20 tháng 10, phía Ấn Độ nói rằng quân đội Trung Quốc đã tấn công Ấn Độ, và thủ tướng Ấn Độ Nehru đã hạ lệnh cho quân đội Ấn Độ “đánh đuổi quân đội Trung Quốc”. Kết quả là cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước đã nổ ra.

Sau khi ĐCSTQ soán chính quyền vào năm 1949, đối với những động thái của Ấn Độ tại biên giới, ĐCSTQ luôn chọn thái độ im lặng và dung túng, vì sao đột nhiên lại có hành động này? Từ bề mặt mà nhìn, đó là do mâu thuẫn biên giới bị kích hóa.

Biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ dài 2.000 km và được chia thành ba đoạn: đoạn phía đông, đoạn giữa và đoạn phía tây.

Tại đoạn phía đông: từ năm 1913 đến năm 1914, Ấn Độ thuộc Anh, chính quyền địa phương Tây Tạng và Trung Hoa Dân Quốc đã tổ chức các cuộc hội đàm ba bên tại Shimla. Ngày 3 tháng 7 năm 1914, Trung Hoa Dân Quốc vì không thể chấp nhận hiệp định, đã rút khỏi cuộc đàm phán. Cùng ngày, chính quyền địa phương Tây Tạng và chính quyền thuộc địa Anh ở Ấn Độ đã ký kết Hiệp ước Shimla, hoạch định “Giới tuyến McMahon”, và giao khu vực phía Nam Tây Tạng, có diện tích khoảng 90.000 km vuông, cho chính quyền Ấn Độ thuộc Anh. Sau khi Ấn Độ giành độc lập vào năm 1947, tin rằng vùng đất này thuộc về Ấn Độ, nhưng các chính phủ kế tiếp của Trung Hoa Dân Quốc đều từ chối công nhận Hiệp ước Shimla. Sau khi ĐCSTQ soán chính quyền, nội bộ cũng không công nhận Giới tuyến McMahon, nhưng thái độ này không được công khai, đặc biệt là không công khai với Ấn Độ, cũng không đề xuất vấn đề này với Ấn Độ.

Đoạn giữa của biên giới Trung-Ấn chủ yếu là khu vực Sikkim, phía Trung Quốc cho rằng phần lãnh thổ tranh chấp rộng khoảng 2.100 km vuông, hiện toàn bộ do Ấn Độ chiếm lĩnh.

Đoạn phía tây bao gồm khu vực Aksai Chin (khoảng 40.000 km vuông) do Trung Quốc kiểm soát và khu vực Ladakh của Kashmir (khoảng 59.000 km vuông) do Ấn Độ kiểm soát. Hai khu vực này tương liên với nhau.

Sau khi Ấn Độ giành độc lập vào năm 1947, nước này bắt đầu chiếm giữ các khu vực biên giới đang tranh chấp để tạo ra một “sự thực đã rồi”. Năm 1954, chính phủ Ấn Độ đã sửa đổi hoàn toàn bản đồ chính thức, không ngừng lấn chiếm các khu vực tranh chấp ở các đoạn phía đông, trung và tây của biên giới Trung-Ấn, thậm chí còn vượt qua “Giới tuyến McMahon” để tiến lên phía bắc. Xung đột biên giới Trung-Ấn đang gia tăng từng ngày.

ĐCSTQ đại thắng trên chiến trường

Vào ngày 20 tháng 10 năm 1962, về phía ĐCSTQ, Trương Quốc Hoa, Tư lệnh Quân khu Tây Tạng, phụ trách đoạn phía đông, và Hà Gia Sản, Tư lệnh Quân khu Tân Cương, phụ trách đoạn phía tây, đã khởi phát một cuộc phản công chống lại quân đội Ấn Độ.

Cuộc chiến được chia thành hai giai đoạn. Đợt 1 từ ngày 20 – 29/10, đợt 2 từ ngày 18 – 21/11.

Dưới sự tấn công bất ngờ của phía Trung Quốc, quân đội Ấn Độ đã bị đánh bại trên toàn tuyến. Hai đoạn biên giới đông và tây của lãnh thổ Trung Quốc từng do quân đội Ấn Độ chiếm đóng, lúc này về cơ bản đã được chuyển về quân đội ĐCSTQ kiểm soát.

Trong số các vùng lãnh thổ này, đoạn phía đông của Nam Tạng vô cùng trù phú. Khí hậu ở đó ôn hòa, lượng mưa dồi dào, rừng rậm tươi tốt, môi trường và diện tích tương tự như tỉnh Chiết Giang, người ta gọi nơi đây là “Giang Nam của Tây Tạng”.

Khu vực Aksai Chin ở đoạn phía tây đương thời là vùng đất không có người ở. Nơi đây cao, khí hậu lạnh và thiếu oxy, không thích hợp cho sự sinh tồn của con người. Chỉ có đường cao tốc Tân Tạng do Trung Quốc xây dựng vào những năm 1950 mới đi qua đó. Trước đó, quân đội Ấn Độ đã chiếm đóng hàng chục cứ điểm ở độ cao, cách xa lộ Tân Tạng hơn 100km. Sau khi chiến tranh bùng phát, những cứ điểm này cũng được chuyển giao cho quân đội Trung Quốc.

Sau chiến thắng, ĐCSTQ đã tiến hành phát động một chiến dịch tuyên truyền phô trương thanh thế rộng lớn: nhiều tờ báo và đài phát thanh loan tin tức trên khắp đất nước, và các bộ phim tài liệu liên quan được trình chiếu trên toàn quốc.

Sau đại bại, quân Ấn Độ “thu phục lại vùng đất đã mất”

Nhưng sau đó, một sự tình bất ngờ đã phát sinh.

Ngày 21 tháng 11 năm 1962, ĐCSTQ đơn phương tuyên bố ngừng bắn trên toàn tuyến, chủ động rút lui, trao trả tất cả vũ khí và trang bị chiếm được của quân đội Ấn Độ.

Ở đoạn phía đông, ĐCSTQ đã rút quân về Đường kiểm soát thực tế năm 1959, cách “Giới tuyến McMahon” 20km về phía bắc, vứt bỏ địa khu Nam Tạng. Ở đoạn phía tây, quân đội ĐCSTQ cũng rút lui 20km khỏi Đường kiểm soát thực tế năm 1959, chỉ để lại hàng chục cứ điểm ở độ cao trong khu vực Aksai Chin ở tuyến tây gần Xa lộ Tân Tạng.

Sau khi ĐCSTQ rút quân vô điều kiện, Ấn Độ, nước tự gọi mình là “người bị xâm lược”, đã không đánh giá cao điều đó một chút nào. Thay vào đó, họ tin rằng việc rút quân của ĐCSTQ là “đuối lý” và “giả tình giả lý”. Ngay sau khi quân đội ĐCSTQ vừa rời đi, quân đội Ấn Độ đã vênh vang “phục hồi lãnh thổ đã mất” và tái chiếm lĩnh khu vực tranh chấp Nam Tạng.

Nhà văn người Anh Neville Maxwell đã viết trong cuốn sách “Cuộc chiến chống Trung Quốc của Ấn Độ”: “Khi quân đội Trung Quốc giành được thắng lợi lớn, chính phủ Trung Quốc đột ngột tuyên bố rút quân đơn phương và vô điều kiện, điều này khiến toàn thế giới kinh ngạc, nếu không nói là toàn thế giới đều sững sờ. Trong lịch sử chiến tranh thế giới chưa bao giờ có sự tình nào như vậy. Bên chiến thắng, trong tình huống không có bất kỳ hứa hẹn gì, rút quân một cách đơn phương và vô điều kiện, trên thực tế, điều đó có nghĩa là thành quả của chiến thắng nhọc nhằn mà họ đã phải trả một cái giá quá lớn đều hóa ra vô ích.”

Cuốn sách “Cuộc chiến tự vệ năm 1962 chống lại Ấn Độ: Trung Quốc đạt được gì từ nó?” đã viết: “Không cần mảnh đất này sao? Quân nhân nghĩ không ra, trăm họ cũng nghĩ không ra. Năm 1962, ta từ Tuyết Sơn đánh xuống, thế như phá trúc, giữa đường vứt hết áo bông, càng đánh càng nhanh. Đến khi rút ​​lui, càng đi càng chậm, chiến sĩ nghĩ không ra, đây là lãnh thổ của chúng ta, vì sao phải rút lui?”

Vương Khắc Trung, nguyên tư lệnh của Sư đoàn quân Lâm Chi ở Tây Tạng, nói: “(Địa khu Nam Tạng) là một nơi đất tốt, thậm chí còn tốt hơn bên này. Năm đó khi chúng tôi chiến đấu, tất cả chúng tôi đều thấy điều đó. (Hiện tại) chỉ trông vào đàm phán thì căn bản không bao giờ lấy lại được. Lão đầu tử (Mao Trạch Đông) đã phạm sai lầm ở đây.”

Diêm Sĩ Quý, nguyên chính ủy Sư đoàn quân Lâm Chi ở Nam Tạng, nói về điều đó thậm chí còn gay gắt hơn, rằng: “Thật tiếc vì miếng đất này hiện tại không dễ lấy lại… Nếu làm thế này, hậu nhân sẽ mắng rằng chúng ta còn không bằng Triệu Nhị Phong, vị đại thần cuối cùng thời Thanh triều trụ giữ Tây Tạng!”

Và Ấn Độ, sau khi chiếm lĩnh lại khu vực Nam Tạng, nơi mà họ gọi là “Đặc khu biên giới Đông Bắc”, đã tăng cường di dân vào khu vực này. Bây giờ, có hơn một triệu người Ấn ở đó. Năm 1972, Ấn Độ đổi “Đặc khu Biên giới Đông Bắc” thành Arunachal Pradesh. Năm 1986, Quốc hội Ấn Độ đã thông qua luật nâng cấp Arunachal Pradesh thành một bang. Năm 1987, Ấn Độ chính thức tuyên bố thành lập “Bang Arunachal Pradesh”.

“Bang Arunachal Pradesh” có diện tích 83.743 km vuông, diện tích lớn hơn hai lần Đài Loan.

Nhiều người không thể hiểu tại sao ĐCSTQ lại đột nhiên rút quân vô điều kiện?

Đâu là nguyên nhân sâu xa dẫn đến chiến tranh bùng phát?

Vào thời điểm đó, Mao Trạch Đông rất cần chiến thắng trong một cuộc chiến để cổ động bản thân. Làm sao nói như vậy?

Từ năm 1959 đến năm 1961, hiện tượng nạn đói trên diện rộng đã xảy ra ở Trung Quốc. Trần Nhất Tư, chuyên gia tư vấn của cựu lãnh đạo ĐCSTQ Triệu Tử Dương và là Sở trưởng Sở Cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc, tiết lộ vào năm 1996 rằng viện này, dựa trên một báo cáo nhận định bí mật được viết bởi các văn kiện nội bộ của ĐCSTQ, đương thời ước tính số người chết đói là 43 triệu đến 46 triệu người. Và thảm họa cự đại này liên quan trực tiếp đến “Vận động Đại nhảy vọt” do Mao Trạch Đông phát động năm 1958.

Từ ngày 11 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1962, ĐCSTQ tổ chức “Đại hội bảy ngàn người” để tổng kết những thảm họa do “Đại nhảy vọt” gây ra. Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước ĐCSTQ kết luận tại đại hội rằng, đây là do “ba phần thiên tai, bảy phần nhân họa”. Mao Trạch Đông buộc phải đưa ra bản kiểm điểm tại đại hội.

Theo cuốn “Nhật ký Đặng Dĩnh Siêu”, tại cuộc họp 7.000 người, không ít người đã đề xuất rằng Mao chủ tịch nên nghỉ hưu. Ngày 10 tháng 2 năm 1962, Mao triệu tập Thường vụ Bộ Chính trị và nói: “Tôi nguyện ý phục tùng quyết định của hội nghị, từ chức chủ tịch, làm điều tra xã hội.” Chu Đức, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình biểu đạt thái độ: Hoan nghênh Mao từ chức vụ chủ tịch.

Sau đại hội bảy ngàn người, Mao rút xuống tuyến thứ hai, còn Lưu Thiếu Kỳ và những người khác chủ trì công việc của chính quyền trung ương ở tuyến thứ nhất. Vì vậy, trong tâm lý Mao không khỏi dồn nén ác khí.

Rất nhiều chuyện đã phát sinh vào năm 1962.

Tại Hội nghị toàn thể thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương  lần thứ tám được tổ chức vào tháng 9 năm đó, Mao Trạch Đông đã lấy danh nghĩa “lợi dụng tiểu thuyết phản đảng”, gán cho Phó Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Bí thư trưởng Tập Trọng Huân khi đó là “tập đoàn phản Đảng”.

Mao nói: “Lợi dụng viết tiểu thuyết để thực hiện hoạt động phản Đảng là một phát minh lớn. Phàm là muốn lật đổ chính quyền, trước hết phải chế tạo ra dư luận, làm cái gọi là hình thái ý thức, làm cái gọi là thượng tầng kiến trúc, cách mạng cũng thế, phản cách mạng cũng thế.”

Cuốn tiểu thuyết mà Mao nói đến có đề cập đến “Lưu Chí Đan”, ca ngợi người sáng lập khu căn cứ phía bắc Thiểm Tây của ĐCSTQ. Cuốn tiểu thuyết này nêu bật những người thành lập khu căn cứ phía bắc Thiểm Tây là Lưu Chí Đan, Cao Cương, Tập Trọng Huân và những người khác, liền bị coi là phản Đảng phản Mao, và phải bị đả đảo phê bình.

Ngoài ra, vào năm 1962, Nguyên soái ĐCSTQ Bành Đức Hoài, người bị Mao đả đảo, đã viết một tài liệu cho Ủy ban Trung ương, yêu cầu thẩm tra lại những bất công trong cuộc đời của ông. Tài liệu này sau đó được biết đến với cái tên “Bức thư tám vạn chữ”. Mao cho rằng Bành muốn “lật ngược vụ án”, làm sao mà có thể được? Mao biểu thị minh xác: Bành không thể được bình phản.

Cũng trong năm 1962, trong khi ĐCSTQ chống Mỹ, nó cũng không ngừng chống lại Liên Xô, và quan hệ Xô-Trung tiếp tục xấu đi. Khrushchev, lãnh đạo của ĐCS Liên Xô, nhiều lần biểu đạt sự bất mãn với các tố pháp cánh tả cực đoan của Mao như Đại nhảy vọt và Công xã Nhân dân. Mao vô cùng tức giận, hết lần này đến lần khác leo thang phê bình Khrushchev.

Không khó để thấy rằng lúc đó Mao Trạch Đông đã phải đối mặt với những thách thức to lớn cả trong và ngoài đảng, trong và ngoài nước. Trong nội bộ đảng, Mao tin rằng Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Tập Trọng Huân, Bành Đức Hoài và những người khác đều phản đối ông ta. Ở ngoài nước, “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” phản đối ông ta, “chủ nghĩa xét lại của Liên Xô” công kích ông ta; đồng thời, Thủ tướng Ấn Độ Nehru, người được sự ủng hộ của hai siêu cường là Mỹ và Liên Xô, cũng phản đối ông ta.

Chính vì bối cảnh này mà Mao Trạch Đông quyết định đánh cho Ấn Độ một đòn, bất chấp việc người Trung Quốc cơm chưa đủ ăn.

Nhưng sau khi chiến thắng trên chiến trường, mục đích cơ bản của Mao là củng cố quyền lực của mình cuối cùng đã đạt được. Chính vì vậy, ông ta nói rút quân liền rút quân, không cần biết được hay mất một vùng lãnh thổ rộng lớn, không cần biết đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Mời quý vị xem video gốc tại đây.

Theo Epoch Times
Hương Thảo biên dịch