Trong cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc, có không ít học giả uyên bác vì muốn báo quốc nhưng đặt niềm tin nhầm chỗ mà bị bức hại đến cùng đường tuyệt mệnh. Cuộc đời của Trần Mộng Gia, một tài tử và khoa học gia lỗi lạc trong thời loạn thế là một trong số những tấn bi kịch như thế…

Xin chào các bạn và chào mừng các bạn đến với “Trăm năm chân tướng”.

Đầu tháng 6 năm 2021, Bộ Giáo dục ĐCSTQ đã phát biểu báo cáo, khuyến nghị thiết lập địa vị pháp luật của chữ giản thể ở Hồng Kông. Ngay khi tin tức xuất ra, các tầng lớp nhân sĩ đã rần rần nghị luận. Khi ĐCSTQ thúc đẩy chữ giản thể ở đại lục, nó lấy cớ dùng văn tự giản thể hóa để giảm số lượng người mù chữ. Nhưng mà tại Hồng Kông, nơi kinh tế phát triển, dân chúng có trình độ giáo dục cao, vì sao ĐCSTQ lại muốn áp đặt điều này? Còn phải dùng đến pháp luật để cưỡng chế dân chúng học tập?

Có người nói, văn tự là một sợi dây kết nối của nền văn minh, nó ghi chép lại lịch sử, truyền thừa nền văn hóa. Cải biến văn tự của một địa khu hay một quốc gia, sẽ trở ngại việc truyền thừa tư tưởng của nơi đó. Từ quan điểm này, việc ĐCSTQ thúc đẩy chữ giản thể tại Hồng Kông, dụng ý có thể hoàn toàn không đơn giản. Điều này cũng nhắc nhở mọi người nhớ lại thời kỳ đầu ĐCSTQ mới soán đoạt chính quyền, tại đại lục, họ tiến hành phong trào cải cách chữ viết – nhưng chỉ cần sai một điểm, thì Hán tự sẽ hoàn toàn bị phế trừ.

Và nhân vật chính của chương trình của chúng ta ngày hôm nay, một bậc thầy thời loạn thế – Trần Mộng Gia, cuộc đời của ông ấy chính vì bảo vệ chữ Hán truyền thống mà đã phát sinh một sự biến hóa điên đảo.

Từ một thi sĩ hào hoa và nhân tài khoa học…

Năm 1911, Trần Mộng Gia sinh ra trong một gia đình Thần học ở Nam Kinh. Ông thông minh và tài năng thiên phú, năm 16 tuổi đã thi đỗ vào Đại học Trung ương Nam Kinh để học pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật không phải là lĩnh vực mà Trần Mộng Gia hứng thú, mà thơ ca mới là sở trường của ông. Năm 1931, Trần Mộng Gia khi đó mới 20 tuổi, đã xuất bản tập thơ đầu tiên “Mộng Gia thi tập”, danh tiếng của ông rung chuyển kể từ đó. Về sau, ông cùng với Văn Nhất Đa, Từ Chí Ma và Châu Sương, được gọi là “Tứ đại thi nhân của phái thơ Tân Nguyệt”.

Trong mắt công chúng, Trần Mộng Gia tuổi nhỏ chí cao, không bị gò bó, tài năng và tính cách này cũng phù hợp để phát triển trong lĩnh vực thi ca. Tuy nhiên, Trần Mộng Gia bỗng bẻ lái 180 độ. Năm 1934, ông đậu nghiên cứu sinh tại Học viện Tôn giáo thuộc Đại học Yến Kinh; vì có tâm hiếu kỳ cực đại đối với văn hóa tôn giáo thần bí cổ xưa của Trung Quốc, ông đã nhanh chóng dành toàn bộ tinh lực thâm nhập văn tự học cổ đại và lịch sử học cổ đại mà nghiên cứu, và đạt được thành quả dồi dào. Đến năm 1936, ông đã phát biểu 7 luận văn, trong đó có “Văn tự cổ trong tế tự thời Thương, Chu” và “Thần thoại và vu thuật thời nhà Thương” v.v…

Theo học tại Đại học Yến Kinh, Trần Mộng Gia không chỉ tìm thấy phương hướng phát triển sự nghiệp mà còn tìm được ái thê của đời mình. Ông gặp tài nữ Triệu La Nhuy, lúc đó cũng là một nữ sinh, và họ kết hôn vào tháng 1 năm 1936. Năm 1944, theo sự giới thiệu của một nhà Hán học người Mỹ – Fairbank và giáo sư Kim Nhạc Lâm của Đại học Thanh Hoa, Trần Mộng Gia đến Đại học Chicago để dạy môn Văn học cổ Trung Quốc, và Triệu La Nhuy đi cùng ông cũng theo học khóa tiến sĩ về Văn học chuyên nghiệp Mỹ tại trường. 

Trong thời gian giảng dạy ở hải ngoại, Trần Mộng Gia cũng dành trí lực vào việc thu thập và phân loại các đồ đồng Trung Quốc thời cổ đại lưu tán ở Hoa Kỳ, và cuối cùng đã biên soạn cuốn sách “Bộ sưu tập đồ đồng cổ của Trung Quốc đang lưu tàng tại Hoa Kỳ”, trong đó gồm tổng cộng 845 đồ đồng, hầu hết là những sản phẩm tinh xảo, đã lưu lại những tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu về đồ đồng của Trung Quốc. Sau ba năm giảng dạy tại Hoa Kỳ, Trần Mộng Gia 36 tuổi trở về Bắc Kinh để giảng dạy tại khoa Trung Văn của Đại học Thanh Hoa. Năm sau, vợ ông Triệu La Nhuy cũng trở về Trung Quốc đoàn tụ với ông sau khi lấy bằng tiến sĩ, đồng thời giữ chức vụ trưởng khoa Tây ngữ tại Đại học Yến Kinh.

Lúc đó chính là vào thời kỳ nội chiến với ĐCSTQ, Bắc Kinh đã bị ĐCSTQ công hạ, rất nhiều người đã thuyết phục vợ chồng Trần Mộng Gia đến Đài Loan, nhưng cuối cùng họ đã chọn lưu lại vì bị lừa dối bởi tuyên truyền của ĐCSTQ – họ đầy huyễn tưởng về một chính quyền mới. Vậy thì, cuộc sống của họ khi lưu lại đại lục như thế nào?

Đến nạn nhân của thời loạn thế…

Năm 1951, ĐCSTQ phát động “Vận động cải tạo tư tưởng của phần tử trí thức”, phần tử trí thức phải cải tạo bản thân và kiểm thảo, thanh toán “cuộc xâm lược văn hóa của đế quốc Mỹ”, và yêu cầu “mọi người phải vượt quan”. Có thể tưởng tượng rằng, Trần Mộng Gia, một người có phong cách thi ca lãng mạn và đã từng ở Mỹ, đương nhiên sẽ gặp kiếp nạn như thế nào.

Trong năm sau, Trần Mộng Gia đã hợp tác với cuộc vận động, nhiều lần làm kiểm thảo tại các đại hội của trường. Tuy nhiên, trong tâm ông vẫn minh bạch. Một ngày nọ, chiếc loa lớn trong khuôn viên trường phát đi thông báo yêu cầu toàn thể giáo sư và sinh viên tham gia “Tập thể công gian thao”. Khi Trần Mộng Gia nghe thấy, ông nói nhỏ: “Đây là ‘1984’ đã đến! Sớm thế sao!” – “1984” là một cuốn tiểu thuyết viễn tưởng của nhà văn người Anh George Orwell, dự ngôn về tình cảnh của một xã hội tập quyền. Trần Mộng Gia đã dùng hàm súc này để ngầm phê bình thể chế của ĐCSTQ.

Năm 1952, sau khi cuộc vận động kết thúc, ĐCSTQ bắt đầu điều chỉnh các khoa của các trường cao đẳng và đại học trên toàn quốc, và Trần Mộng Gia bị phân phối về Sở nghiên cứu khảo cổ của Học viện Khoa học Xã hội. Trong những năm đầu tiên ở Sở Khảo cổ học, cuộc sống của Trần Mộng Gia tương đối yên bình, và việc nghiên cứu khảo cổ học của ông cũng có nhiều thành tựu. Dựa trên các quy phạm học thuật phương Tây, trước sau ông đã hoàn thành “Ân khư bốc từ tống thuật” (Tóm tắt các bản khắc trên phế tích nhà Ân), “Tây Chu đồng khí đoạn đại”, “Thượng thư thông luận” và các chuyên khảo khác, trở thành một đại sư thực sự về cổ văn tự và khảo cổ học. Năm 1956, Trần Mộng Gia cũng dùng một số tiền lớn để lập Tứ Hợp Viện tại gia, tận tâm thu tàng, triển lãm các gia cụ và tàng thư thời Minh, Thanh, nên bạn bè đặc biệt gọi đó là “ngoài viện bảo tàng; bảo tàng tại gia”.

Tuy nhiên, ĐCSTQ đã thiết kế một âm mưu thâm độc nhằm phá vỡ cuộc sống tạm thời yên bình của Trần Mộng Gia. Năm 1956, ĐCSTQ thi hành chính sách “Trăm hoa đua nở, trăm nhà tranh minh”, và ban hành “Liên quan đến chỉ thị vận động chỉnh phong” vào năm sau, khích lệ “Đại minh đại phóng”, tạo ra giả tưởng về một bầu không khí chính trị ấm áp hơn. Trần Mộng Gia, giống như những trí thức có tâm thái thuần chính khác, tưởng rằng ĐCSTQ thành tâm muốn nhận lời khuyên can, liền chân thành bộc bạch những ý kiến ​​mà ông muốn đề cập nhưng không dám đề cập nhiều năm trước – nghĩa là ông hy vọng rằng ĐCSTQ không bính âm hóa chữ Hán.

Vậy tại sao ĐCSTQ lại muốn bính âm hóa chữ Hán? Trên thực tế, ý tưởng này đầu tiên đến từ Liên Xô. Sau Cách mạng Tháng Mười ở Liên Xô, Lênin đề ra phong trào “Đại cách mạng La-tinh hóa Đông phương”, bắt đầu dưới biểu ngữ “Hiệp trợ người Trung Quốc ở Viễn Đông tiến hành xóa mù chữ”, ý đồ xóa bỏ Hán tự Trung Quốc, chặt đứt mối liên hệ giữa người Trung Quốc và văn minh Trung Hoa, từ đó mà tạo điều kiện thúc đẩy sự thống trị nô dịch của ĐCS Liên Xô trong tương lai.

Vào ngày 26 tháng 9 năm 1931, Liên Xô vì muốn thúc đẩy La-tinh hóa và phế trừ chữ Hán nguyên gốc, mà cử hành “Đại hội đại biểu lần thứ nhất văn tự mới của Trung Quốc” tại Vladivostok. Cù Thu Bạch, đại biểu của ĐCSTQ và đại biểu của Liên Xô đã soạn thảo “Các chữ Hán mới Latinh hóa phương Bắc”, và ban hành một tuyên bố chung gồm 13 tuyên ngôn, nêu rõ “Cần căn bản phế trừ ký tự tượng hình, thay thế bằng ký tự thuần túy La-tinh”. Năm 1936, Mao Trạch Đông tuyên bố công khai với các phóng viên rằng bính âm hóa tiếng Trung là một xu hướng tất yếu.

Sau khi ĐCSTQ lên nắm quyền vào năm 1949, liền thành lập “Hiệp hội cải cách văn tự Trung Quốc”, bắt đầu chính thức công cuộc bãi bỏ chữ Hán. Dưới chỉ thị của ĐCSTQ, một số nhà ngôn ngữ học Trung Quốc đã đề xuất hàng trăm phương án cải cách, và cuối cùng quyết định sử dụng chữ Hán giản thể như một bước quá độ để dần dần hiện thực hóa bính âm hóa tiếng Trung.

Là một văn nhân sử dụng mạch lạc văn tự Hán cổ, và tham tầm các bút tích Hán tự cổ đại, Trần Mộng Gia hiểu biết sâu sắc ý nghĩa trọng đại của chữ Hán truyền thống đối với người Trung Quốc. Nếu chữ Hán truyền thống bị phế trừ, nó sẽ thực sự trở thành một chướng ngại cho người Trung Quốc tìm hiểu văn hóa và lịch sử Trung Quốc, và sự truyền thừa văn hóa Trung Hoa sẽ bị cắt đứt. Đây chắc chắn là tổn thất tối đại đối với năm nghìn năm văn minh rực rỡ của dân tộc Trung Hoa.

Trước đây Trần Mộng Gia muốn nói nhưng không dám nói, nhưng đến thời kỳ “Minh phóng”, ông đã tích cực hướng đến ĐCSTQ mà kêu gọi. Ông đã nhiều lần phát biểu trên báo chí và diễn thuyết, phản đối việc bính âm hóa chữ Hán. Ví dụ, vào ngày 17 tháng 5 năm 1957, Trần Mộng Gia xuất bản một bài báo “Một điểm thận trọng trong cải cách chữ Hán” trong tờ “Văn hối báo”. Ông viết: “Chữ Hán đã dùng hơn ba nghìn năm vẫn chưa đi theo con đường bính âm, nếu đi con đường bính âm hóa, nhất định có nguyên nhân khách quan của nó”; Và: “Tôi nghĩ chữ Hán còn có thể dùng được trên ngàn năm nữa, hãy coi nó như một người đang sống mà đối đãi, đó cũng là một phần di sản văn hóa của tổ quốc chúng ta”.

Tuy nhiên, Trần Mộng Gia không biết rằng, chỉ hai ngày trước khi ông xuất bản phát biểu này, Mao Trạch Đông đã viết “Sự tình chính tại khởi biến hóa” để gửi một tín hiệu đả kích những người hữu phái. Bằng cách này, những ngôn luận của Trần Mộng Gia phản đối việc cải cách chữ Hán đã trở thành bằng chứng tối đại cho thấy ông sẽ bị phê bình trong cuộc “Đấu tranh phản hữu”.

Sau khi Trần Mộng Gia bị phân loại là phái hữu, các hoạt động học thuật của ông đã hoàn toàn bị đình chỉ, và ông bị xử phạt “giáng lương đình chức” trong đơn vị công tác của mình. Trong xã hội, ông phải nhẫn chịu sự phê phán liên hợp của sư trưởng, trợ lý và đồng nghiệp. Từ đó, điều chờ đợi ông là các cuộc phê đấu và kiểm thảo bản thân không ngừng nghỉ. Trần Mộng Gia chịu áp lực tinh thần cực đại, ông bị trầm cảm, thân thể tiều tụy; Vợ ông, Triệu La Nhuy cũng phát chứng tâm thần phân liệt vì không cách nào chịu đựng nổi khi tai họa liên tiếp ập đến. Vào tháng 12 năm 1958, Trần Mộng Gia bị đày đến vùng nông thôn của Hà Nam để cải tạo lao động; chuyên gia Hán tự cổ một thời nay chỉ có thể làm một số công việc nông nghiệp như làm ruộng và gánh nước.

Dù sau đó Trần Mộng Gia được trở về Sở Khảo cổ và được tháo chiếc mũ “hữu phái”, nhưng những tổn thương trong nội tâm mà ông phải chịu đựng khó có thể chữa lành. Tuy nhiên, nghiệt ngã thay, đúng vào lúc Trần Mộng Gia chuẩn bị nhắm mắt bịt tai làm ngơ trước những thứ bên ngoài cửa sổ, và nhất tâm tập trung nghiên cứu, thì Cách mạng Văn hóa bùng nổ.

Tấn bi kịch đau lòng của một học giả tài ba nhưng đặt niềm tin nhầm chỗ…

Tháng 8 năm 1966, Trần Mộng Gia bị xếp vào danh sách “Giới học thuật phản động của giai cấp tư sản”, và một lần nữa bị lôi ra phê đấu. Hạ Nãi, Phó trưởng Sở Khảo cổ, đã chứng kiến ​​cuộc bức hại Trần Mộng Gia, và lưu lại tư liệu đầu tay trong nhật ký của ông. Hạ Nãi ghi lại rằng: Sở Khảo cổ đã thành lập một tiểu đội giám sát để cưỡng chế Trần Mộng Gia và những “phần tử phản động” khác lao động vào buổi sáng và viết kiểm điểm vào buổi chiều. Đang trưa khi trời nắng chói chang, Trần Mộng Gia bị bắt quỳ ngoài sân, có người ném đồ bẩn vào người ông, thậm chí còn nhổ nước bọt vào ông.

Tứ Hợp Viện của ông đã bị hồng vệ binh tịch thu, gia cụ và tàng thư thời Minh, Thanh mà ông dày công sưu tầm và gìn giữ đã bị cướp đi. Trong giai đoạn này, Triệu La Nhuy đã có hai lần phát bệnh tâm thần phân liệt, và cả hai lần đều không thể được đưa đến bệnh viện vì đang thời kỳ phi thường của Cách mạng Văn hóa. Ngày 23 tháng 8, hồng vệ binh đột nhập vào Sở Khảo cổ và túm lấy Trần Mộng Gia, đến ngày 24, họ tiếp tục phê đấu và chụp mũ ông là “thi nhân lưu manh” và ra lệnh cho ông viết một bản kiểm điểm. Sau một ngày bị phê đấu, Trần Mộng Gia đến nhà một người bạn. 

Sự khuất nhục và tuyệt vọng phút chốc mang đến sự bộc phát tình cảm bi phẫn, ông hét lên: “Tôi không thể lại để cho người khác đối xử với tôi như một con khỉ nữa!”

Ông làm sao có thể nghĩ tới, chỉ một tiếng hét đó, liền gây ra tai họa. Hóa ra ông đã bị nhóm “phản hữu phái” ​​của Sở Khảo cổ theo dõi suốt chặng đường. Nghe thấy tiếng hét của Trần Mộng Gia, nhóm người đã xông vào, cưỡng chế ông quỳ xuống và tiếp tục lăng mạ, đánh đập. Cuối cùng, Trần Mộng Gia bị áp giải về Sở Khảo cổ. Đêm đó, ông đã lặng lẽ viết thư tuyệt mệnh và nuốt rất nhiều thuốc ngủ.

Trần Mộng Gia được đưa đến bệnh viện cấp cứu, nhưng ông nhất tâm cầu tử; ngày 2/9, ông đã treo cổ tự tử trong khi mọi người không ai chú ý. Ba ngày sau, Sở Khảo cổ học tổ chức “Đại hội lên án việc Trần Mộng Gia tự sát vì sợ tội” để “tiễn đưa” nhà bác học 55 tuổi đáng thương này.

Trần Mộng Gia vốn là một thi nhân lãng mạn và tự do, một học giả siêng năng nghiên cứu, căn bản chỉ vô ý mà sa vào vũng bùn chính trị. Tuy nhiên, ông vì hết lần này đến lần khác tin vào luận điệu hoa ngôn xảo ngữ của ĐCSTQ mà mất đi tự do, bị lăng nhục nhân phẩm trong các cuộc vận động chính trị hết lượt này đến lượt khác của ĐCSTQ, một mạch đến khi phải tự tuyệt. Trong thời đại đó, có bao nhiêu bậc thầy khác phải chịu những bất hạnh như vậy? Hậu thế có người hỏi, tại sao ở Trung Quốc sau năm 1949 không còn bậc thầy nào nữa? Có lẽ chúng ta có thể tìm thấy một số đáp án từ chính những gì mà Trần Mộng Gia đã phải trải qua. 

Theo Epoch Times
Hương Thảo biên dịch