Hàn Phi Tử từng viết như thế này: “Pháp gian trá, cao nhất là cấm cái tâm, tiếp đến là cấm nói, tiếp đến là cấm làm”. Một người muốn truyền bá tư tưởng của mình phải thông qua lời nói, nhưng nếu nội hàm từ ngữ bị bóp méo, thì vẫn không thể hiện được tư tưởng của mình, bởi vì người khác sẽ hiểu sai.

Chiêu thức bóp méo nội hàm từ ngữ là một chiêu mà chủ nghĩa cực quyền rất hay dùng, nó sẽ phát triển đến độ khi nhắc đến một từ, người ta sẽ hiểu nó là… phục tùng.

Bóp méo nội hàm từ ngữ: ‘Độc chiêu’ của chủ nghĩa cực quyền

Nhân nói về việc cấm chỉ tự do ngôn luận, Giáo sư Chương Thiên Lượng đặc biệt muốn đề cập đến vấn đề ngôn ngữ.

‘Cấm nói’ của Hàn Phi Tử chính là không cho người ta nói. Không cho người ta nói không nhất định là phải chặn miệng họ lại, nhưng ở đây Giáo sư Chương đã phát hiện rằng: còn có một phương pháp ngăn trở người ta kết nối với người khác thông qua ngôn ngữ, chính là thay đổi nội hàm ngôn ngữ. 

Giáo sư Chương lấy một ví dụ, đó là vào thời đại của Hồ Cẩm Đào đã đề xuất một cách nói gọi là ‘xã hội hài hoà’. ‘Hài hoà’ mà ĐCSTQ nói và nghĩa gốc của từ này lại không giống nhau. Ý nghĩa của ‘hài hoà’ là: tôi với bạn không giống nhau, nhưng chúng ta có thể sống chung với nhau hoà bình, cùng tồn tại mà không có xung đột, đây gọi là ‘hài hoà’. Điều này cũng có nét giống với một câu trong Nho gia là “quân tử hoà nhi bất đồng” (người quân tử hoà mục với nhau nhưng có cách nhìn khác nhau).

Nhưng ĐCSTQ đã cải biến nội hàm của từ ‘hài hoà’ này, đem nó biến thành: bạn không được nói lời bất đồng với ĐCSTQ, nếu bạn đề xuất ý kiến bất đồng, tổ chức này sẽ trấn áp bạn để bạn ‘hài hoà’ với ĐCSTQ. Đây là đã cải biến nội hàm cơ bản của từ ‘hài hoà’.

Giáo sư Chương chia sẻ thêm rằng, ví như bản thân muốn truyền bá tư tưởng của mình thông qua ngôn ngữ, mà ngôn ngữ lại do từng từ từng từ cấu thành. Sau khi thay đổi nội hàm của từng từ, thì tất cả ý nghĩa muốn biểu đạt đều hoàn toàn không phải ý nghĩa mà người khác lý giải. 

Giống như ví dụ vừa rồi, khi từ ‘hài hoà’ mà Giáo sư Chương nói ra khác với ý nghĩa từ ‘hài hoà’ mà mọi người lý giải, vậy thì sẽ gặp tình huống ‘ông nói gà, bà nói vịt’. Thế là ngôn ngữ đã mất đi chức năng kết nối. Mà phương thức ĐCSTQ cấm chỉ người ta truyền bá tư tưởng chính là kiến lập (thành lập) một bộ ngôn ngữ mang ‘văn hoá ĐCSTQ’.

Khi ĐCS vừa mới xuất hiện đã bắt đầu cải tạo ngôn ngữ. Trong cuốn ‘1984’, George Orwell đã đặc biệt đề cập đến việc làm thế nào thông qua cải biến nội hàm ngôn ngữ để hạn chế suy nghĩ của người khác. 

Tiểu thuyết ‘1984’ của George Orwell cho thấy cách chủ nghĩa cực quyền thay đổi nội hàm ngôn ngữ

Bìa ấn bản đầu tiên ở Anh. (Ảnh: Wiki)

Biên soạn ‘từ điển’: thay đổi nội hàm từ ngữ

Chúng ta biết rằng, cuốn ‘1984’ là tác phẩm tiểu thuyết trào phúng kinh điển về chính trị trên văn đàn thế giới, trong đó có dự ngôn về chủ nghĩa cực quyền mà đến nay vẫn có thể kiểm chứng được trong cuộc sống của chúng ta. 

Trong tiểu thuyết ‘1984’ có một đoạn nói rằng: trong chính phủ có một nhân viên tên là Syme, công việc mỗi ngày là… biên soạn từ điển. Có người cho rằng công việc này không có ý nghĩa gì, biên soạn từ điển để làm gì chứ? Nhưng kỳ thực nó vô cùng quan trọng. 

Mục đích của biên soạn từ điển là thay đổi nội hàm của từ ngữ. Syme đã nói cho Winston – nhân vật chính của tiểu thuyết ‘1984’ một đoạn lời như thế này: “Bạn lẽ nào không rõ sao, toàn bộ từ mới có mục đích là thu nhỏ phạm vi tư tưởng (suy nghĩ)”. ‘Từ mới’ (Tân thoại – 新話) chính là họ đã biên tạo ra một bộ hệ thống ngôn ngữ mới, mục đích là để hạn chế suy nghĩ của con người.

Hiện nay rất nhiều người Trung Quốc cùng nhau giảng nói về một số từ vựng/thuật ngữ trong Phật giáo, hoặc của các tôn giáo khác, nhưng trong não họ hoàn toàn không có khái niệm, bởi vì trong kho từ của họ không có những từ này. 

Ví dụ như nói ‘viên mãn’, trong Phật giáo là chỉ người này trở về Thiên quốc, vĩnh viễn nhảy thoát ra khỏi Tam giới, đạt đến một trạng thái đại tự tại ‘phúc đức vô biên’, ‘không sinh không diệt’, đây là khái niệm ‘viên mãn’ trong Phật giáo. Nhưng trong ngôn ngữ của ĐCSTQ, ‘viên mãn’ lại biến thành những thứ như là ‘đại hội thành công viên mãn’ v.v. cải biến hoàn toàn ý nghĩa của từ ‘viên mãn’. 

Khi người ta đề cập đến ‘viên mãn’, người nghe sẽ nghĩ đến đại hội gì gì đó của ĐCSTQ, mà không nghĩ đến ‘thế giới Cực Lạc’, ‘không sinh không diệt’, hay ‘phúc thọ vô biên’ v.v. Sau khi cải biến nội hàm từ ngữ, thì khi dùng một từ vựng đồng dạng, họ không thể thiết lập bất cứ mối liên hệ nào đến tư tưởng của Phật giáo.

Biên soạn xong: tất cả đều quy về ‘phục tùng’

Điều Syme làm chính là việc như thế, thay đổi hoàn toàn định nghĩa của từ vựng. Syme nói: “Cuối cùng chúng tôi muốn làm cho mọi người không thể phạm bất cứ ‘tội suy nghĩ’ nào, bởi vì tương lai không có từ vựng để biểu đạt”. Sau đó anh ta còn nói: “Từ vựng giảm dần theo từng năm, phạm vi ý thức cũng càng ngày càng nhỏ”. Nếu sau khi công việc này hoàn thành, ví như tôi bảo bạn rằng: ‘ĐCSTQ quá tà ác, chúng ta đi kháng nghị, chúng ta đi phản kháng, chúng ta đi ngăn chặn, chúng ta đi là gì gì đó…’. Phàm là tất cả từ mang ý nghĩa và nội hàm như thế, đều bị loại bỏ hết ý nghĩa và biến thành… ‘phục tùng’.

Cuối cùng bạn nói với người khác rằng ‘chúng ta hãy đi kháng nghị’, nhưng người khác lại dùng hệ thống diễn ngôn của ĐCSTQ mà anh ta hiểu thì: ‘kháng nghị’ là ‘phục tùng’, ‘phản kháng’ là ‘phục tùng’, ‘tạo phản’ là ‘phục tùng’, ‘chống lại’ là ‘phục tùng’, ‘ngăn chặn’ là ‘phục tùng’ v.v. nghĩa là tất cả các từ liên quan đến phản kháng đều bị loại bỏ. 

Khi người ta muốn biểu đạt ý nghĩa từ ‘phản kháng’, ngay cả từ họ cũng không tìm thấy, vì vậy người ta cũng không thể truyền đạt được ý nghĩa của ‘phản kháng’. Do đó Syme thấy rằng, chỉ cần xoá bỏ những từ vựng này, người ta không thể nào phạm ‘tội suy nghĩ’, bởi vì không có từ vựng nào để biểu đạt tư tưởng. Vì vậy chúng ta sẽ thấy trong xã hội của chủ nghĩa cực quyền, một từ có thể bị bóp méo thành ý nghĩa hoàn toàn khác. 

Trong tiểu thuyết của George Orwell, trong xã hội của chủ nghĩa cực quyền, chính phủ có 4 Bộ. 

  • Bộ thứ nhất gọi là Bộ Chân lý, chuyên môn phụ trách tung tin bịa đặt.
  • Bộ thứ hai là gọi là Bộ Hoà bình, chuyên môn phụ trách chiến tranh.
  • Bộ thứ ba gọi là Bộ Hữu ái (hữu hảo và yêu thương), chuyên môn phụ trách bức hại, dùng khổ hình để tra tấn bạn.
  • Bộ thứ tư gọi là Bộ Giàu có (Phú dụ – 富裕: giàu có, thịnh vượng), mục đích là để người ta ‘ăn không no bụng’, sinh hoạt bần cùng khốn khổ.

Trong tiểu thuyết nói, khẩu hiệu của chính phủ chủ nghĩa cực quyền là: “Chiến tranh tức là Hoà bình, Tự do tức là Nô dịch, Vô tri tức là Lực lượng (sức mạnh)”. Khi người ta dùng một bộ ngôn ngữ ‘văn hoá ĐCS’ như thế để tư duy, giữa họ và chính phủ không thể hình thành mối liên hệ ‘phản kháng’ nào, chỉ có thể ‘phục tùng’.

Một đoạn trong cuốn tiểu thuyết ‘1984’ của George Orwell

Xã hội Oceania năm 1984: Big Brother trên cùng, Đảng ở giữa, Vô sản dưới cùng. (Ảnh: Wiki)

Dưới đây Giáo sư Chương sẽ đưa nguyên văn một đoạn trong tiểu thuyết ‘1984’ của George Orwell. Khi chúng ta hiểu được việc ĐCSTQ tiến hành cải tạo ngôn ngữ thành một bộ ‘văn hoá ĐCSTQ’, sau đó đọc lại đoạn này của George Orwell, chúng ta sẽ cực kỳ bội phục ‘nhìn xa trông rộng, kiến thức cao xa’ của ông. Trong cuốn ‘1984’ có viết một đoạn như thế này:

“Winston, anh không thật sự lĩnh hội được chỗ vi diệu của Từ mới” (Tân thoại – 新話), anh ấy (Syme – người nói chuyện với Winston) nói một cách bi ai. “Dù anh có dùng Từ mới để viết, nhưng anh vẫn dùng Từ cũ để suy nghĩ. Tôi đã đọc qua vài bài báo mà anh thỉnh thoảng viết cho tờ The Times. Những bài báo đó viết không tệ, nhưng chúng là phiên dịch. Trong tâm anh vẫn thích dùng từ cũ, dù nó có hàm hồ không rõ, ý nghĩa của từ biến hoá tinh vi, nhưng không có bất cứ tác dụng gì. Anh không lý giải được chỗ vi diệu của việc loại bỏ từ ngữ. Anh lẽ nào không biết Từ mới là từ ngữ duy nhất trên thế giới có vốn từ vựng giảm dần theo từng năm hay sao?”.

Đương nhiên Winston không biết. Anh ấy không dám nói, chỉ mong mình có một nét mặt tươi cười trên khuôn mặt để biểu lộ sự tán đồng.

Syme lại cắn thêm một miếng nữa của ổ bánh mỳ đen, nhai vài lần rồi nói tiếp: 

“Anh lẽ nào không biết, mục đích của toàn bộ Từ mới là thu hẹp phạm vi tư tưởng (suy nghĩ) hay sao? Cuối cùng chúng ta phải khiến mọi người trên thực tế không thể phạm bất cứ ‘Tội suy nghĩ’ nào, bởi vì tương lai không có từ vựng để biểu đạt. 

Phàm là những khái niệm cần thiết sử dụng, đều chỉ có một từ để biểu đạt, ý nghĩa chịu hạn chế nghiêm trọng, hết thảy hàm ý mang theo đều bị tiêu trừ lãng quên. Trong lần xuất bản thứ 11, chúng ta đã cách mục tiêu đó không xa nữa rồi. 

Nhưng quá trình này sau khi anh chết đi, còn phải trường kỳ tiếp tục. Từ vựng giảm dần theo từng năm, phạm vi ý thức cũng càng ngày càng nhỏ. Đương nhiên, ngay cả hiện nay cũng không có lý do hay mượn cớ để có thể phạm ‘Tội suy nghĩ’. Đây chỉ là vấn đề tự giác, vấn đề khống chế hiện thực. Nhưng cuối cùng thậm chí yêu cầu như thế cũng không có. Lúc ngôn ngữ hoàn thiện, chính là là ngày cách mạng hoàn thành. Từ mới chính là Xã hội mới, Xã hội mới chính là Từ mới”, anh ta (Syme) nói mang theo một vẻ mặt thoả mãn thần bí.

“Winston, anh chưa từng nghĩ đến, muộn nhất là đến năm 2050, sẽ không có người nào sống thời ấy có thể hiểu được cuộc đàm thoại của chúng ta hiện nay”.

…”Đến năm 2050, cũng có thể sớm hơn một chút, những tri thức hiện thực liên quan đến Từ cũ đều sẽ tiêu mất. Toàn bộ văn học trong quá khứ đều phải tiêu huỷ; Chaucer, Shakespeare, Milton, Byron (những văn nhân người Anh) – họ chỉ tồn tại trong ‘phiên bản (sách) của Từ mới’, không chỉ thay đổi thành những thứ khác, mà còn thay đổi thành thứ tương phản với những gì họ vốn có. 

Thậm chí thư tịch (sách vở) đảng cũng phải thay đổi. Thậm chí khẩu hiệu cũng thay đổi. Khái niệm Tự do cũng bị tiêu mất, anh còn có thể nói khẩu hiệu ‘Tự do tức là Nô dịch’ nữa sao? Đến lúc đó, toàn bộ bầu không khí suy nghĩ đã khác rồi. Sự thật là, tương lai sẽ không có loại suy nghĩ giống như chúng ta biết ngày nay. Suy nghĩ chính thống sẽ là không nghĩ, không cần suy nghĩ. ‘Chính thống’ tức là không còn ý thức”.

Winston đột nhiên tin tưởng, thế nào cũng có ngày Syme bốc hơi khỏi thế gian. Anh ta quá thông minh. Anh ta thấy quá rõ ràng, nói quá thẳng thắn. Đảng không thích những người như vậy. Đến một ngày anh ta sẽ mất tích. Đây là kết quả đã viết quá rõ ràng trên khuôn mặt của anh ta.

ĐCSTQ làm cái gọi là kiềm chế tư tưởng chính là dùng phương pháp như vậy – cải biến nội hàm ngôn ngữ. ĐCSTQ về phương diện này đã làm một lượng lớn công việc, Giáo sư Chương chỉ lấy 2 ví dụ về từ ‘hài hoà’ và ‘viên mãn’ mà thôi. “Chính thống tức là không còn ý thức” của Syme, liệu có phải là nguyên nhân thật sự mà Thương Ưởng cách đây 2500 năm đã trừng phạt ‘dân nịnh bợ’ và ‘dân ương ngạnh’? Giáo sư Chương để cho chúng ta một khoảng để suy nghĩ.

Phương pháp khống chế xã hội của Pháp gia: Cây gậy và Củ cà rốt

Pháp gia khống chế xã hội, ngoài hạn chế tư tưởng con người, trong thực tế còn có thủ đoạn cụ thể khác. Hàn Phi Tử gọi đó là ‘Lưỡng bính’ (兩柄: hai chuôi/cán, Bính – 柄 trong ‘quyền bính’ là chuôi quyền lực, do đó mới gọi là nắm quyền bính). 

Cái gì gọi là ‘Lưỡng bính’? Hàn Phi Tử nói: “Minh chủ dẫn dắt, khống chế quần thần, chỉ có Lưỡng bính mà thôi. Lưỡng bính là Hình Đức (刑德). Cái gì gọi là Hình Đức? Rằng: giết người là Hình, trọng thưởng là Đức. Là người bầy tôi, sợ hình phạt giết chóc mà tham trọng thưởng. Cho nên bậc làm chủ tự dùng Hình Đức, ắt quần thần sợ uy mà đi theo lợi”. 

Giáo sư Chương dùng ngôn ngữ thông tục hiện nay để phiên dịch ý tứ của Hàn Phi Tử như sau. ‘Lưỡng bính’ (2 chuôi/cán) chính là ‘củ cà rốt’ và ‘cây gậy’. ‘Củ cà rốt’ chính là dùng lợi ích để dụ dỗ mê hoặc người, ‘cây gậy’ chính là dùng hình phạt nặng để doạ sợ người. 

Một người bình thường đều sẽ sợ chịu khổ, cho nên dùng cây gậy để doạ sợ. Ở một phương diện khác, con người đều có tâm tham, cho nên dùng lợi ích để dụ dỗ mê hoặc. Hàn Phi Tử nói rằng, nếu sau khi quốc vương một nước nắm chắc 2 thứ này, thì có thể khống chế toàn bộ lão bách tính.

Nếu nói một cách tổng quát, Pháp gia thông qua điều gì để khống chế con người? Chính là thông qua chấp trước để khống chế con người, vì vậy Pháp gia hy vọng mọi người đều có thể biến thành người xấu. Càng là người xấu, thì dục vọng càng lớn, mà dục vọng càng lớn, Pháp gia càng dễ dàng khống chế người ấy.

Giáo sư Chương kể thêm một câu chuyện từ thời nhà Tống. Tống Cao Tông từng hỏi Nhạc Phi rằng: khi nào thiện hạ thái bình. Nhạc Phi đáp: “Quan văn không yêu tiền, quan võ không sợ chết, thiên hạ thái bình”. Chúng ta hễ nghe liền cảm thấy quá đúng. Xã hội mà có quan văn không yêu tiền, quan võ không sợ chết thật là quá tốt. Hoàng đế nào cũng đều hy vọng quan văn thanh liêm, quan võ dũng cảm.

Nhưng Hàn Phi Tử lại nói rằng: Hoàng đế mà thật sự hiểu chính trị sẽ không thích những người như vậy, bởi vì nếu họ đã không yêu tiền lại không sợ chết; thưởng cho họ, họ sẽ không quan tâm vì họ không yêu tiền; trừng phạt họ, họ cũng không sợ; giống như vị quan Hải Thuỵ vừa không yêu tiền vừa không sợ chết, bản thân nghèo đến chết, nhưng lại dám đối chọi với Hoàng đế, Hoàng đế không thể làm gì Hải Thuỵ. 

Do đó Hàn Phi Tử mới nói rằng: “Nếu là bề tôi như vậy, không sợ hình phạt nặng, không tham thưởng lớn, thì không thể trừng phạt – cấm đoán, không thể lấy trọng thưởng để sai khiến họ, đây gọi là bề tôi ‘vô ích’. Ta coi khinh mà gạt bỏ họ, mà các vị vua trên đời lại khen và tìm kiếm họ”. Ý tứ câu trên là: một người vừa không sợ chết cũng không tham thưởng, không có cách nào dao động nguyên tắc của họ bằng trừng phạt, đã không dụ dỗ mê hoặc lại còn không doạ sợ để họ hành sự theo ý muốn, người như thế theo Hàn Phi Tử là người vô dụng nhất.

Do đó chúng ta sẽ phát hiện rằng, Pháp gia căm ghét người có đạo đức. Một người có đạo đức chân chính, đã không yêu tiền lại không sợ chết, vẫn theo nguyên tắc của mình mà hành sự, thì Pháp gia cảm thấy không có cách nào khống chế được người đó.

Rất nhiều người sẽ thắc mắc rằng: ĐCSTQ vì sao trấn áp Pháp Luân Công? Nếu chiểu theo tư tưởng của Pháp gia để lý giải thì rất đơn giản. Bởi vì học viên Pháp Luân Công là tu luyện Phật Pháp, phải vứt bỏ các chủng chấp trước đối với thế gian, họ không yêu tiền cũng không sợ chết, cho nên theo logic của Pháp gia mà lý giải, ĐCSTQ phải trấn áp Pháp Luân Công. Bởi vì ĐCSTQ đi theo chủ nghĩa cực quyền, cho nên không cho phép bất cứ ai không chịu sự khống chế của nó.

Giáo sư Chương đã giảng một chút về ‘Thuật’ và ‘Thế’ của Pháp gia, đồng thời chia sẻ phương pháp mà Pháp gia khống chế xã hội. 

Chúng ta cũng có thể thấy rằng, tư tưởng của Pháp gia có nét giống với tư tưởng của ĐCSTQ. Nhưng cụ thể ‘hai gia’ này giống nhau như thế nào, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích: Link Trung Hoa văn minh sử tập 39.