Mưu thần của Lưu Bang là Lục Giả từng nói một câu có nội dung như thế này: Lấy thiên hạ trên lưng ngựa nhưng không thể trị thiên hạ trên lưng ngựa. Nhà Tần từ đầu đến cuối lấy Pháp gia ‘trị thiên hạ trên lưng ngựa’, do đó vương triều chỉ kéo dài 15 năm, ngắn ngủi nhất trong lịch sử.

Vậy Pháp gia có bối cảnh xuất hiện như thế nào và ảnh hưởng gì đối với lịch sử?

Bối cảnh xuất hiện của Pháp gia

3 nhân vật của Pháp gia

Liên quan đến thời gian xuất hiện của Pháp gia có tồn tại những cách nhìn khác nhau. Có người nói Pháp gia sớm đã xuất hiện vào thời Xuân Thu, Thừa tướng của Tề Hoàn Công – Quản Trọng, Tử Sản của nước Trịnh v.v. là nhân vật của Pháp gia. Nhưng Giáo sư Chương Thiên Lượng cho rằng những nhân vật kể trên không nói được Pháp gia thật sự là gì, bởi vì tư tưởng của họ không thành hệ thống, không hoàn toàn hình thành một loại học thuyết, họ làm việc còn có giới hạn chừng mực… điều này đều là chỗ không giống với Pháp gia. 

Chúng ta không thể nói Nho gia là do Chu Công sáng lập, mà phải nói do Khổng Tử sáng lập. Do đó Giáo sư Chương nhìn nhận, Pháp gia xuất hiện vào thời Chiến Quốc, và 3 nhân vật đại biểu của Pháp gia gồm: Thương Ưởng, Lý Tư, Hàn Phi Tử.

Đặc điểm thời Chiến Quốc: lấy thôn tính đất đai, tư nguyên làm chủ

Vậy thời Chiến Quốc có đặc điểm gì? Chúng ta biết rằng từ thời Xuân Thu, Trung Quốc tiến nhập vào thời kỳ Lễ băng Nhạc hoại. Nhưng thời Xuân Thu, thì lực lượng truyền thống còn khá lớn; ít nhất vào sơ kỳ vẫn còn là một xã hội mà con người biết nhau, dựa vào tình cảm ấm áp mà duy trì trật tự, duy trì quan hệ giữa quân – thần – phụ – tử, chiến tranh cũng không tàn khốc và kịch liệt.

Nhưng đến thời kỳ Chiến Quốc, Chư hầu đều muốn thôn tính đất đai của người khác, đoạt lấy nhân khẩu và tài phú của đối phương. Do đó trên chiến trường mọi người có thể dùng học vấn của Binh gia, về ngoại giao giữa các Chư hầu có thể dùng học vấn của Tung hoành gia (đại biểu là Tô Tần và Trương Nghi), còn nội chính thì dùng học vấn của… Pháp gia.

Thời kỳ đầu nhà Chu thực hành chế độ phân phong (phân đất phong hầu) theo đẳng cấp trong tông pháp. Nhưng thuận theo việc khai khẩn đất đai và sự gia tăng nhân khẩu, thì chế độ phân phong mang tính chất ‘cộng đồng nhỏ lấy tình cảm ấm áp là cơ bản’ đã không còn phù hợp với yêu cầu cho chiến tranh thôn tính.

Chúng ta nhìn vào tấm hình này, hình tròn lớn màu vàng đại biểu cho quốc gia của Chư hầu (Chư hầu quốc). Trong Chư hầu quốc này sẽ cắt rất nhiều đất phân cho Đại phu. Đại phu là con trai của phi chứ không phải vợ cả.

Tranh vẽ thể hiện mối quan hệ giữa Chư hầu và Đại phu trong bang quốc. Ảnh chụp từ sách ‘Trung Hoa văn minh sử’ quyển hạ của Giáo sư Chương Thiên Lượng.

Tuy đất đai của Đại phu ở trong bang quốc, nhưng lại là một vùng độc lập; Đại phu vừa là chủ nhân, tức hết thảy tư nguyên, sản xuất đều quy về Đại phu. Nếu quốc quân của Chư hầu quốc muốn điều động tư nguyên, thì phải thương lượng với Đại phu. Ông ta không thể hạ lệnh bảo Đại phu đưa binh, đưa tiền v.v. bởi vì tư nguyên không phải của quốc quân. Dưới tình huống này, quốc quân khó mà huy động toàn bộ tư nguyên của một quốc gia.

Vì để điều động toàn bộ tư nguyên của quốc gia phải phế trừ chế độ phân phong, đem đất phong cho Đại phu trước đây thu hồi lại. Đây gọi là ‘phế phân phong’. Thời kỳ Chiến Quốc các nước đều tiến hành cải cách, rất nhiều nội dung cải cách là ‘tước bỏ quý tộc’ (Toả ức quý tộc – 摧抑貴族), phải nghĩ ra biện pháp thu hồi lại tư nguyên có trong tay Đại phu. ‘Thương Ưởng biến pháp’ (cải cách Thương Ưởng) của nước Tần, ‘Lý Khôi biến pháp’ của nước Nguỵ, ‘Ngô Khởi biến pháp’ của nước Sở đều có quan hệ với ‘tước bỏ quý tộc’. Ngô Khởi vì chuyện này mà sau đó bị quý tộc giết.

Các quốc gia thời Chiến Quốc đều vận tác xoay quanh ‘phú quốc cường binh’ (nước giàu binh mạnh), ‘chiến tranh thôn tính’, tất cả các quốc gia đều đi theo hướng chủ nghĩa quân quốc; mà Pháp gia chính là con đường thực hiện chủ nghĩa này.

Trong quá trình đi theo chủ nghĩa quân quốc, chế độ ‘thế khanh thế lộc’ (khanh tướng và bổng lộc được truyền đời) bắt đầu tan rã, bởi vì sau khi phế trừ chế độ phân phong, đại phu không còn đất đai nữa nên cũng không thể truyền lại cho đời sau.

Trong quá khứ giữa quốc quân và đại phu có quan hệ họ hàng, đại phu là anh em con cháu với chư hầu, như vậy quốc quân rất khó ‘sa thải’ đại phu vì đại phu là họ hàng với quốc quân. Dưới chế độ phân phong, giữa quân thần với nhau là quan hệ gia đình, nhưng đến thời kỳ Chiến Quốc thì không như vậy.

Vì để thắng trong chiến tranh nên không thể bổ nhiệm anh em của mình, nhỡ huynh đệ mình không có năng lực, đánh trận thua thì phải làm thế nào? Do đó trong quốc gia, quốc quân ắt phải tuyển chọn đề bạt nhân tài làm quan, cho đi quản lý kinh tế, chế định pháp luật v.v. Điều này nghĩa là chế độ tuyển quan không xem quan hệ huyết thống xa gần, mà là nhìn năng lực. Đây chính là sự tan rã của chế độ ‘thế khanh thế lộc’ và sự xuất hiện của chế độ quan liêu (quan lại).

Bởi vì ‘chọn nhân tài làm quan’, sẽ đưa đến vấn đề: sau khi quan viên nhậm chức, liệu có xứng đáng với chức vụ hay không? Người ấy không thể trên miệng nói tốt còn làm thì rất kém, hoặc là tham ô hủ bại. 

Đại phu trong quá khứ không dễ xuất vấn đề tham ô, bởi vì hết thảy những thứ được phong đều là của người ấy, cho nên không thể tham ô… thứ của mình được. Nhưng dưới chế độ quan liêu, vùng đất quản lý không phải của người ấy, họ lấy tài phú này bỏ trong túi của mình thì đã là tham ô. 

Vậy phải giám sát quan lại như thế nào? Chính là phải có chế độ khảo sát quan viên, sau đó căn cứ theo kết quả khảo sát để thưởng phạt thăng giáng chức, đây gọi là chế độ ‘thượng kế’ (上計).

Từ đó thấy rằng phương thức quản lý của tất cả các quốc gia đều khác với quá khứ. Sự xuất hiện của Pháp gia chính là để giải quyết những vấn đề vô cùng hiện thực ở trên.

Pháp tiên vương’, ‘Pháp hậu vương’ và câu chuyện ‘ôm cây đợi thỏ’ đánh tráo khái niệm

Chúng ta biết rằng, truyền thống Trung Quốc là xã hội nông nghiệp, canh tác trên miếng ruộng, người dân lặp đi lặp lại cuộc sống như vậy. Cho nên người ta quen với việc dùng truyền thống trong quá khứ để giải quyết những vấn đề hiện tại, bởi vì những vấn đề này rất có thể đã từng phát sinh trước đây. Ví như năm nay có hạn hán, vậy thì tra hạn hán trước đây và cách giải quyết; năm nay bị nạn châu chấu, vậy thì tra lịch sử năm nào đó có nạn châu chấu và cách giải quyết. 

Thời ‘bách gia tranh minh’ (trăm nhà đua tiếng), Chư Tử hầu như đều tìm đáp án trong quá khứ. Do đó Nho gia của Khổng Tử tôn sùng Chu Công; Mặc Tử vì để đối chọi với Khổng Tử nên tìm những kinh nghiệm thời Đại Vũ trước cả Chu Công 1000 năm; Mạnh Tử vì để đối kháng với Mặc gia đã tìm kinh nghiệm thời Nghiêu Thuấn; Đạo gia tìm ở thời Tam Hoàng.

Mọi người đều tìm ở thời cổ đại, hy vọng có thể từ kinh nghiệm lịch sử mà tìm thấy đáp án giải quyết cho những vấn đề hiện thực, đây gọi là ‘Pháp tiên vương’.

Nhưng Pháp gia không cho rằng như vậy. Pháp gia nhìn nhận những điều chúng ta đối mặt là những vấn đề mới, phải dùng phương cách hoàn toàn mới để giải quyết, do đó Pháp gia được gọi là ‘Pháp hậu vương’.

Hàn Phi Tử còn giảng một câu chuyện riêng để hợp thức hoá điều này, câu chuyện này đã trở thành một thành ngữ là ‘ôm cây đợi thỏ’ (Thủ chu đãi thố – 守株待兔).

Chuyện kể rằng ở nước Tống có một nông dân đang trồng trọt, đột nhiên có một con thỏ chạy đến đâm đầu vào gốc cây rồi chết. Người nông dân cho rằng thỏ đã đâm đầu vào cây thì mình không cần làm ruộng nữa, chỉ cần hàng ngày đợi thỏ. Anh ta đã lấy kinh nghiệm trong quá khứ xem là điều bất biến, hơn nữa nhất định xảy ra trong tương lai, kết quả thửa ruộng anh này trở nên hoang vu.

Ý tứ của Hàn Phi Tử chính là: nếu ôm giữ pháp trong quá khứ mà không thay đổi, thì sẽ giống như người nông dân nước Tống kia ‘ôm cây đợi thỏ’ vậy. Đây là bối cảnh lịch sử xuất hiện của Pháp gia, mục đích là để ‘nước giàu binh mạnh’.

Vì để điều động toàn bộ tư nguyên quốc nội, phải ‘phế phân phong, trí quận huyện’; vì để thắng trận, phải trọng dụng nhân tài, như thế sẽ phát triển một bộ chế độ quan liêu, biến quan hệ thân thuộc của quân – thần trong quá khứ thành quan hệ thuê mướn giữa quân – thần trong tương lai; sau đó còn có ‘thượng kế’ và chế độ khảo hạch v.v. đều là để giải quyết những vấn đề hiện thực nên mới xuất hiện Pháp gia.

Ảnh hưởng lịch sử của Pháp gia

Nho gia, Đạo gia đều khá là chính, cũng là học vấn cần thiết cho xã hội chính thường. Còn về Pháp gia, Giáo sư Chương cảm thấy học vấn của Pháp gia rất tồi tệ. Có người hễ thấy 2 chữ ‘Pháp gia’ (tiếng Anh là Legalism) liền khẳng định họ nghiên cứu pháp luật, kỳ thực không phải như vậy. Điều Pháp gia nghiên cứu không phải là pháp luật mà là âm mưu. Do đó Pháp gia hoàn toàn là một học vấn liên quan đến âm mưu, đây là lý do vì sao Giáo sư Chương nói Pháp gia không tốt.

Tuy rằng nó không tốt, nhưng chúng ta không cách nào tránh nó, bởi vì ảnh hưởng lịch sử của nó quá lớn. Chúng ta biết rằng thế gian có đạo lý ‘tương sinh tương khắc’, nhỏ như là người, lớn như quốc gia, thậm chí đến toàn thế giới, luôn có người tốt xấu; có học thuyết ‘chính’ cũng có học thuyết ‘tà’; giống như phương Tây có Cơ Đốc giáo cũng có Satan giáo, chính là xuất hiện từng cặp từng cặp như vậy. Trung Quốc có Nho gia, cũng có Pháp gia, chính là một cặp như thế. Chủ trương của Nho gia là lấy ‘chính đạo trị quốc’, còn chủ trương của Pháp gia là lấy ‘âm mưu trị quốc’.

Ảnh hưởng của Pháp gia đối với lịch sử vô cùng lớn, ít nhất biểu hiện ở 3 phương diện mà Giáo sư Chương tổng kết như sau.

Thứ nhất, do ‘Thương Ưởng biến pháp’ (cải cách Thương Ưởng) đã giúp nước Tần ‘phú quốc cường binh’, cuối cùng Tần thống nhất được thiên hạ, trong đó không thể không có công của Pháp gia.

Thứ hai, Pháp gia chủ trương ‘phế phân phong, trí quận huyện’, đem chế độ phong kiến của triều Chu biến thành chế độ trung ương tập quyền. Từ thời Tần trở về sau, các vương triều qua các thời đại lịch sử đều thực hành chế độ trung ương tập quyền. Trung Quốc từ xã hội phong kiến biến thành một đế quốc, hơn nữa thời đại của đế chế này kéo dài hơn 2000 năm.

Thứ ba, Hán Vũ Đế nghe kiến nghị của Đổng Trọng Thư, lấy Nho gia làm học vấn chính thức, nhưng hình bóng của Pháp gia vẫn luôn ở đó. Khi Giáo sư Chương giảng loạt bài ‘Tần – Hán sử’ sẽ đề cập đến vấn đề này.

Điều Nho gia nhắm vào là xã hội cộng đồng nhỏ, mà sau khi Tần thống nhất thiên hạ, thì xuất hiện quốc gia trung ương tập quyền rộng lớn. Khi đó, giữa học vấn của Nho gia nhắm vào cộng đồng nhỏ và trung ương tập quyền không tương xứng, cho nên phải tiến hành một số cải tạo đối với Nho gia, thế là trong Nho gia xuất hiện rất nhiều thứ của Pháp gia. Giáo sư Chương cho rằng ảnh hưởng lịch sử của Pháp gia là điều chúng ta khó tránh.

Là một người nghiên cứu lịch sử văn hoá, Giáo sư Chương nhìn nhận Pháp gia rất giống Binh gia, bởi vì Binh gia chủ yếu nhấn mạnh trá thuật, lừa gạt kẻ địch, suy đoán tâm lý kẻ địch… thì Pháp gia cũng như thế. Pháp gia lấy trá thuật để trị quốc, đem một bộ âm mưu quỷ kế trá thuật lừa người của Binh gia ra trị lý đất nước. Đây là nguyên nhân vì sao Giáo sư Chương nói rằng Pháp gia không chính.

Chiểu theo cách nói của Đạo gia: “Việc binh là điềm chẳng lành, không phải việc của người quân tử, bất đắc dĩ mới dùng”; mà Pháp gia lại đem âm mưu ‘vạn bất đắc dĩ mới dùng’ trở thành điều thường ngày trong cuộc sống, do đó nó phản đạo đức.

Chúng ta biết rằng thiên hạ có thể lấy trên lưng ngựa, nhưng không thể trên lưng ngựa mà trị thiên hạ. Mà Tần là vương triều duy nhất trong lịch sử từ đầu đến đuôi lấy tư tưởng Pháp gia để trị quốc, do đó Tần chỉ tồn tại 15 năm. Có thể nói rằng: Tần thống nhất thiên hạ là do Pháp gia, mất thiên hạ cũng do Pháp gia; do đó Đại Tần đế quốc ‘thành nhờ Pháp gia, mà bại cũng do Pháp gia’.

Pháp gia coi ‘nhân tính bản ác’ nên chủ trương dùng hình phạt

Tiếp theo Giáo sư Chương nói một chút về tranh luận giữa ‘tính bản thiện’ và ‘tính bản ác’. Chúng ta biết rằng Nho gia có 3 nhân vật là: Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử; thì Pháp gia cũng có 3 nhân vật là: Thương Ưởng, Lý Tư và Hàn Phi Tử, trong đó Lý Tư và Hàn Phi Tử sống vào cuối thời Chiến Quốc, đều là học trò của Tuân Tử.

Khi giảng về tư tưởng Nho gia, Giáo sư Chương có đề cập đến ‘tính ác luận’ (nhân tính bản ác) của Tuân Tử. Đối với ‘nhân tính bản ác’, Tuân Tử đưa ra phương án giải quyết là thông qua Lễ mà ước thúc dục vọng con người, từ đó khiến con người trở thành tốt. 

Nhưng Pháp gia cho rằng ‘nhân tính bản ác’ là không thể cải tạo được, người người đều là người xấu, cho nên Pháp gia cho rằng giảng ‘đại đạo lý’ căn bản không có tác dụng, từ đó đưa ra phương án giải quyết ‘dĩ ác chế ác’ (以惡制惡: lấy ác trị ác. Đây là lý do vì sao Pháp gia chủ trương ‘nghiêm hình tuấn pháp’ (hình pháp nghiêm khắc).

***

Thương Ưởng là một trong 3 nhân vật tiêu biểu của Pháp gia. Nếu hiểu được ‘cải cách Thương Ưởng’, chúng ta sẽ hiểu được vì sao khi cầm tấm biển trắng không ghi gì cả ở quảng trường Thiên An Môn vẫn bị cảnh sát của ĐCSTQ bắt. 

Rốt cuộc Thương Ưởng là người như thế nào và ‘cải cách Thương Ưởng’ có ảnh hưởng gì đến những sự việc diễn ra ngày hôm nay, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích: Link Trung Hoa văn minh sử tập 36.