“Hình binh như nước. Nước tránh cao mà chảy về thấp, binh tránh chỗ thực (mạnh) mà đánh chỗ hư (chỗ yếu). Nước theo đất mà tạo dòng chảy, binh theo địch mà giành thắng lợi”…

Ở phần trước chúng ta đã đàm luận về tư tưởng ‘toàn thắng’ trong Binh pháp Tôn Tử, sau đó có đưa ví dụ về nước Mỹ đã áp dụng tư tưởng này để ‘thảo phạt’ những phần tử gây rối loạn mà không cần dùng ‘vũ khí nóng’. 

Tôn Tử cho rằng không để chiến tranh xảy ra là tốt nhất, kế đến là ‘không đánh mà làm khuất phục quân người’. Vậy thì nếu đánh thì dụng binh như thế nào? 

Chương thứ sáu – ‘Thiên Hư thực’, Tôn Vũ viết rằng: “Hình binh giống nước. Nước tránh cao mà chảy về thấp, binh tránh thực (chỗ mạnh) mà đánh hư (chỗ yếu). Nước theo đất mà tạo dòng chảy, binh theo địch mà đạt thắng lợi. Cho nên binh không có hình tướng cố định, nước không có hình trạng, có thể thuận theo biến hoá của địch mà giành thắng lợi, ấy gọi là dụng binh như thần” (1).

Binh pháp là Nghệ thuật

Binh pháp là điều bác đại tinh thâm, hơn nữa nếu thật sự bước vào trận chiến, sẽ có rất nhiều biến hoá. Nếu bạn câu nệ cố chấp vào những điều trong sách, bạn không thể giành được thắng lợi. Từ đó thấy rằng, Binh pháp là ‘nghệ thuật’ chứ không phải ‘khoa học’. Vì sao như vậy?

Chúng ta biết khoa học rất nghiêm túc cẩn mật, có thể lấy một vài công thức để biểu đạt. Đồng thời, nếu bạn chiểu theo công thức mà làm, bạn sẽ đạt được kết quả mong muốn. Ví như khi học môn Hoá, axit tác dụng với bazơ tạo ra muối và nước, hơn nữa từ lượng chất ban đầu, bạn có thể tính ra lượng chất thành phẩm. 

Nghệ thuật (Art), dù cũng có quy luật của nó, nhưng ở một trình độ cao hơn là dựa vào trực giác và linh cảm, hoặc là tự sáng tạo ra. Bạn rất khó dùng một phương trình trong Toán học mà biểu đạt được việc người này rất dễ nhìn hay bức họa kia rất đẹp. Vậy nên trong rất nhiều tình huống là không thể dùng lời nói để truyền đạt, không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả. 

Nếu bạn lấy chiến tranh làm thành một môn Khoa học, bạn sẽ nghĩ rằng, Tôn Tử đã nói rằng trong tình huống này phải làm thế này thế kia. Nếu bạn tuân thủ nghiêm ngặt quy luật trong Tôn Tử binh pháp mà làm, trái lại bạn có thể… phải trả giá đắt. 

Một trong những ‘cái giá’ phải trả vì dùng binh máy móc đã được đúc kết thành một câu thành ngữ là ‘bàn việc quân trên giấy’, nguyên gốc là ‘Chỉ thượng đàm binh’ – 紙上談兵. Đằng sau 4 chữ này là… máu của 40 vạn quân Triệu thời Chiến Quốc. 

Trận chiến Trường Bình do Triệu Quát lãnh binh được nói rất kỹ trong Phong vân mạn đàm (Kỳ 67): Triệu Quát ‘bàn việc binh trên giấy’, 40 vạn quân Triệu bại vong, cho nên ở đây chúng ta không nói lại. 

Binh pháp rất linh hoạt, cho nên chúng ta đọc bản phiên dịch sang tiếng Anh của Binh pháp Tôn Tử sẽ thấy rất có ý tứ. Họ dịch thành ‘Nghệ thuật chiến tranh’ (The Art of War), chứ không phải là Khoa học chiến tranh (The Science of War). Bản dịch sang tiếng Anh cũng rất phù hợp với nguyên ý của cuốn sách.

Binh pháp Tôn Tử bản bằng tre thời Càn Long.

Cùng ‘đánh khi qua sông nửa chừng’ nhưng kết quả lại khác nhau

Chúng ta sẽ cùng phân tích hai trận đánh minh chứng cho việc ‘hình của binh giống nước’, cùng một cách đánh nhưng một thắng một thua. Trận thứ nhất xảy ra vào cuối thời Xuân Thu, khi nước Ngô tấn công nước Sở. Trận thứ hai là trận chiến Phì Thuỷ (năm 383) thời Ngũ Hồ thập lục quốc. 

Ở trận chiến thứ nhất, tướng quân nước Sở khi ấy là Vi Việt bị thua trận phải chạy đến Hán Thuỷ (sông Hán). Quân Ngô gấp rút đuổi theo, rất nhiều binh sĩ cho rằng làm vậy sẽ tiêu diệt được quân Sở. Nhưng người lãnh binh nước Ngô là Phu Khái đã ngăn binh sĩ lại. Phu Khái giải thích nếu tiếp tục đánh nữa, thì quân Sở nhất định sẽ quay lại liều mạng vì họ không còn đường lui. Cho nên ông cho quân Ngô lùi lại một chút, để quân Sở chuẩn bị thuyền qua sông. Đợi đến khi họ qua được một nửa, quân Ngô sẽ phát động tấn công. 

Phu Khái đã nói rằng: “Con thú đến lúc cùng khốn còn biết quật lại, huống chi là người. Nếu họ biết là không thoát khỏi mà liều chết chống lại, thì ta ắt thua với họ. Cho nên đợi lúc họ sang sông nửa chừng rồi đánh thì hơn”. Đây gọi là ‘đánh khi qua sông nửa chừng’ (Bán độ nhi kích – 半渡而擊). Người đã qua sông thì không muốn quay lại, còn người chưa qua thì muốn qua thật mau để tránh nguy hiểm. Lúc đó quân Sở không còn sức chiến đấu, cho nên trận này quân Ngô thắng. 

Mấy trăm năm sau cũng xuất hiện Trận chiến Phì Thuỷ ‘đánh khi qua sông nửa chừng’, nhưng kết quả lại tương phản. 

Khi đó Phù Kiên dẫn 87 vạn đại quân tấn công 8 vạn quân Đông Tấn (quân Phù Kiên hơn 10 lần quân Đông Tấn). Đại tướng của Đông Tấn là Tạ Huyền lãnh binh đóng ở bờ nam Phì Thuỷ, còn quân Phù Kiên đóng ở bờ bắc. Khi trận chiến bắt đầu, Phù Kiên đã phái tướng Chu Húc (tướng Đông Tấn đầu hàng) đến đàm phán với Đông Tấn nói rằng ‘các người đừng kháng cự, hãy chịu quy hàng’.

Dù Chu Húc đầu hàng Phù Kiên nhưng lòng ông vẫn hướng về Đông Tấn. Ông đã làm nội ứng, cung cấp thông tin về bố trí quân, điểm mạnh điểm yếu bên phía Phù Kiên cho Đông Tấn.

Vì chênh lệch giữa hai bên quá lớn nên chỉ có cách dùng kế thì Đông Tấn mới thắng được. Tạ Huyền viết một lá thư cho Phù Kiên nói rằng: “Quân ông nhiều như thế, còn quân tôi ít như vậy, cách nhau bởi Phì Thuỷ (sông Phì). Bên ông có thể lùi về bắc, để quân Đông Tấn chúng tôi qua sông, sau đó chúng ta sẽ quyết một trận sống mái”.

Phù Kiên đồng ý. Ông nghĩ rằng đợi quân Đông Tấn qua được một nửa, ông sẽ phát binh quét sạch.

Vì quân Phù Kiên rất đông, nên chia thành tiền quân và hậu quân. Khi tiền quân thoái lui, hậu quân không biết chuyện gì đang xảy ra. Thêm vào đó, tướng hàng của Đông Tấn là Chu Húc ở hậu quân lại hô lớn rằng: “Quân ta thua rồi, quân ta thua rồi”. Hậu quân không thấy được tình huống ở trước, họ cho đó là thật. Thế là hậu quân bắt đầu thoái lui.

Tiền quân thấy hậu quân bỏ chạy như thế, họ không biết làm sao, cũng bắt đầu chạy theo hậu quân. Kết quả đội hình bị chia tách, bỏ chạy tán loạn, Phù Kiên thất bại, chết trong loạn quân.

Cùng một chiến lược ‘đánh khi qua sông giữa chừng’ nhưng Phu Khái thì thắng, còn Phù Kiên thì thua. Bởi vì trong đó có những thay đổi vô cùng nhỏ bé cũng quyết định thành bại. Vậy nên khi ra trận, vị tướng phải sử dụng binh pháp linh hoạt, không được cố chấp vào bất cứ điều gì. 

***

Vì trong Binh pháp Tôn Tử có rất nhiều tư tưởng nên khó mà liệt kê hết, hơn nữa mỗi người khi đọc đều có đúc kết mang tính cá nhân, cho nên trong phạm vi bài này, người viết chỉ trích ra những phần mà bản thân cảm thấy tâm đắc cộng với ví dụ minh hoạ rõ ràng. 

Trong ‘Đạo đức kinh’ của Lão Tử có một câu là ‘lấy chính trị quốc, lấy kỳ dùng binh’. Khi quản lý quốc gia, nhất định phải đi con đường chính, khi đánh trận, ắt phải vận dụng kỳ mưu (mưu lạ), xuất kỳ binh (xuất binh bất ngờ). Mà ‘kỳ mưu’ chính là ‘đạo dối trá’ (để lừa quân địch), chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần sau. 

Chú thích: 
(1) Trong bản tiếng Việt Binh pháp Tôn Tử do cụ Trúc Khê Ngô Văn Triện không có đầy đủ nguyên câu này.