Ngày 14 tháng 5 năm 1926, Tưởng Giới Thạch đã viết trong cuốn nhật kí: “Mặc dù các điều kiện áp đặt đối với ĐCSTQ rất khắc nghiệt, nhưng khi một đảng lớn cho phép một đảng nhỏ thực hiện các hoạt động trong đảng thì cũng giống như tự hủy diệt”… 

Thanh lọc đảng cứu quốc

Chiến thuật nhắm vào nhân tâm

“Cương lĩnh về Phong trào Cộng sản ở Trung Quốc” của Quốc tế Cộng sản vào tháng 4 năm 1922 đã chỉ thị cho ĐCSTQ: “Cần phải thực hiện theo hai bước: Bước đầu tiên là lật đổ hoàn toàn chế độ phong kiến ​​và thúc đẩy nền độc lập tự chủ của Trung Quốc; bước thứ hai là phủ định tính hợp pháp của giai cấp chính trị, đoạt lấy chính quyền vào tay mình” (Theo: “Quốc tế cộng sản, cơ quan lưu trữ bí mật của Đảng cộng sản Liên Xô (Bolshevik) và lịch sử cách mạng Trung Quốc”, Nhà xuất bản lịch sử ĐCSTQ). Đây chính là “dùng cách mạng vũ trang phản đối cách mạng vũ trang”, dựa vào bạo lực đoạt lấy chính quyền.

Đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc là Karakhan đã nói rõ rằng việc tổ chức lại Quốc Dân đảng là để khiến cho nó “nằm dưới tầm ảnh hưởng của chúng ta”, “đối với uy danh của chúng ta ngập tràn lòng tôn kính và sùng bái”, “ngoan ngoãn phục tùng quyết định của chúng ta cùng với Quốc tế Cộng sản”. Đại biểu Quốc tế Cộng sản tại Trung Quốc là Borodin đã viết trong một báo cáo bằng văn bản rằng “đem tất cả các tổ chức hành chính tai địa phương của Quốc Dân đảng thâu tóm vào tay chúng ta”. Đại diện của Quốc tế Cộng sản tại ủy ban trung ương ĐCS Trung Quốc là Vojensky, thậm chí còn xây dựng một “kế hoạch để từng bước đả kích phe cánh hữu” (Do phòng nghiên cứu lịch sử Trung Hoa Dân Quốc, Viện lịch sử cận đại, Học viện khoa học xã hội Trung Quốc và trường lịch sử và văn hóa, Đại học sư phạm Tứ Xuyên biên tập: “Trung Quốc những năm 1920”).

Dưới sự che chở của Liên Xô, ĐCSTQ bắt đầu thâm nhập vào Quốc Dân đảng. Tưởng Giới Thạch chỉ rõ: “Sau khi quốc phụ (Tôn Trung Sơn) bắc thượng, ĐCS luôn tích cực hoạt động, có dã tâm muốn chia rẽ đảng ta. Họ âm mưu lung lạc sinh viên học viện quân sự rồi chiếm đoạt trường quân sự, ý đồ ngày càng rõ ràng hơn”(“Nước Nga Xô Viết ở Trung Quốc”).

Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, Uông Tinh Vệ đã nhận được sự ủng hộ toàn lực của Quốc tế Cộng sản và trở thành người lãnh đạo của Quốc Dân đảng. Ngày 1 tháng 7 năm 1925, Chính phủ Quốc dân Quảng Đông được thành lập, dưới sự ủng hộ của Lev Karakhan và Markovich Borodin, Uông Tinh Vệ được bầu làm chủ tịch Ủy ban thường vụ chính phủ quốc dân kiêm chủ tịch quân ủy.

Vào ngày 23 tháng 11, những người phe cánh hữu của Quốc Dân đảng là Đới Quý Đào và Lâm Sâm đã tổ chức “Hội nghị Tây Sơn” để phản đối phong trào cánh tả của Uông Tinh Vệ. ĐCS đẩy nhanh quá trình xâm nhập và lên kế hoạch giành lấy quyền lãnh đạo trong Quốc Dân đảng.

Đới Quý Đào (theo Wikipedia)

Vào tháng 1 năm 1926, “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai” của Quốc Dân đảng được tổ chức, trong số 256 đại biểu tham dự đại hội, có ba phần năm là đảng viên ĐCSTQ. Trong số ba mươi sáu ủy viên được bầu của ban chấp hành Trung ương, có bảy người  là đảng viên ĐCSTQ. Trong số chín ủy viên ban thường vụ ban chấp hành trung ương được bầu tại hội nghị toàn thể lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương khóa II diễn ra sau đó, ĐCS chiếm bốn vị trí. Trong số tám bộ là bộ tổ chức, bộ tuyên truyền, bộ nông dân và bộ ngoại giao được nắm giữ bởi các đảng viên ĐCSTQ, trong khi các bí thư của bốn bộ khác là thanh niên, công nhân, thương mại và phụ nữ, tất cả đều là đảng viên ĐCSTQ. Đại hội đã quyết định luận tội phe cánh hữu tổ chức “hội nghị Tây Sơn” có lập trường chống Cộng, và khai trừ các nhà lãnh đạo của họ là Trâu Lỗ và Tạ Cầm ra khỏi đảng. “Chiến thuật lấy lòng” của ĐCSTQ rất hiệu quả. Quốc Dân đảng lúc này rơi vào tình thế lâm nguy. Quyền lực của ủy ban trung ương Quốc Dân đảng về cơ bản đã bị đảng viên ĐCS soán giữ; các cơ quan đảng bộ ở địa phương của Quốc Dân đảng phần lớn cũng bị kiểm soát bởi đảng viên ĐCSTQ; trong số sáu vị chính trị viên trưởng 6 quân đoàn của quân đội cách mạng quốc gia thì có 5 vị trí là do đảng viên ĐCSTQ đảm nhiệm.

ĐCSTQ “chủ trương thông qua ‘Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai’ của Quốc Dân đảng sẽ đả kích phe cánh hữu, cô lập nhóm người thuộc phe trung lập, mở rộng cánh tả, đồng thời khiến cho Tưởng Giới Thạch ngày càng dựa dẫm phụ thuộc vào cánh hữu nhằm đạt mục đích phản công đánh trả” (“Cuộc đấu tranh giữa ĐCSTQ và phái tân hữu Quốc Dân đảng”, Trang web chính của bộ mặt trận thống nhất Ủy ban trung ương ĐCSTQ).

Tưởng Giới Thạch toàn tâm toàn ý cho quân đội và luôn tránh các cuộc tranh chấp đảng phái. Là người hùng “bình định Quảng Đông”, Tưởng Giới Thạch trở thành mục tiêu của nhiều phe phái. Ông nằm trong số chín ủy viên ủy ban thường vụ ban chấp hành “Đại hội toàn quốc lần thứ hai” và nằm trong cấp lãnh đạo đưa ra quyết sách của Quốc Dân đảng. Đối diện với từng bước bành trướng và ổn định của Borodin cùng với ĐCSTQ, Tưởng Giới Thạch đã đắn đo suy nghĩ về các biện pháp đối phó.

Tưởng Giới Thạch, tổng tư lệnh quân đội cách mạng quốc gia, duyệt binh trong lễ tuyên thệ khi tiến hành cuộc viễn chinh phương Bắc ở cơ sở phía đông tỉnh Quảng Châu (Theo Wikipedia)

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Quốc Dân đảng, Tưởng Giới Thạch đề xuất phát động cuộc Bắc phạt để thực hiện tâm nguyện cuối cùng của Quốc phụ. Vào thời điểm đưa ra cuộc Bắc Phạt, mọi người đều cảm thấy vô cùng hợp lý, danh chính ngôn thuận, khi đó cả Borodin và Uông Tinh Vệ đều không bày tỏ sự phản đối nào. Tuy nhiên sau đó không lâu, Borodin đã trở về nước để báo cáo nhiệm vụ của mình. Nikolai Kuibyshev, người đứng đầu cố vấn quân sự Liên Xô, sau khi nhận được lệnh từ Matxcova, đã bất ngờ quay sang phản đối quyết liệt kế hoạch viễn chinh lên phía Bắc, tạo thành tình thế đối đầu gay gắt với Tưởng Giới Thạch. Tại Học viện Quân sự Hoàng Phố, Quý Sơn Gia (bí danh của Kuibyshev) đã cố gắng tung ra những tin đồn như “cuộc viễn chinh phương Bắc nhất định sẽ thất bại” và hiệu trưởng Tưởng Trung Chính “không thể làm nên một cuộc cách mạng”.

ĐCSTQ đã phối hợp với yêu cầu của ĐCS Liên Xô phân phát truyền đơn ở Quảng Châu, trong đó công kích và mô tả Tưởng Giới Thạch như một “quân phiệt”. Khi Tưởng Giới Thạch gặp Uông Tinh Vệ, ông đã đau xót nói rằng “thành quả của cuộc cách mạng không thể rơi vào tay người Nga”; thậm chí ông còn lựa chọn từ chức để khuyên Uông Tinh Vệ bày tỏ quan điểm của mình và trục xuất Kuibyshev. Tuy nhiên không ngờ được rằng, mối quan hệ thông đồng giữa Uông cùng với ĐCSTQ đã đến mức mật thiết, Uông không hề tỏ rõ thái độ đối với yêu cầu của Tưởng Giới Thạch, chần chừ không quyết. Tưởng Giới Thạch nhận ra mình đã trở thành chướng ngại cho sự cấu kết thông đồng giữa Uông Tinh Vệ và Liên Xô, lâm vào tình thế hiểm nghèo, nội tâm giày vò không thôi. (Tưởng Vĩ Quốc, “Cha tôi Tưởng Trung Chính”)

Nhật ký của Tưởng Giới Thạch đã miêu tả tình hình lúc bấy giờ: “Ngày 5 tháng 3 năm thứ mười lăm (1926): Phải đơn thương độc mã, trước sau đều là hổ sói, một mình chiến đấu, đây cũng là hoàn cảnh của ta lúc này. Quốc phụ cùng với chư Tiên trên trời có linh thiêng, xin hãy thương xót mà bảo hộ, đừng khiến ta phải rơi vào tuyệt cảnh. Ngày 15 tháng 3 năm thứ 15: Gian nan khổ cực sợ hãi đã đến cùng cực, tự cảm thấy hổ thẹn vì đã không biết quan sát ngôn hành cử chỉ mà chọn mặt gửi vàng, cuối cùng lại bị vây hãm vào trong đó, chuyện thiên hạ quả thực là không thể cưỡng cầu mà được. Ngày 17 tháng 3 năm thứ 15: Buổi sáng, nghị sự. Nỗi thống khổ phải nhận quả thật đã nằm ngoài khả năng chịu đựng, đến mức không thể diễn đạt bằng lời, trong mơ cũng không thể tưởng tượng nổi. Áp lực trên chính trường đã đến bước này, nào có khác gì Phật xuống địa ngục?”

Thu hồi lại chiến hạm Trung Sơn

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1926, quyền cục trưởng cục hải quân Lý Chi Long và là một đảng viên ĐCSTQ, đã mạo danh quyền hiệu trưởng của Tưởng Giới Thạch, tự ý điều động đưa đón Tưởng Giới Thạch từ Quảng Châu trở về Hoàng Phố trên chiến hạm Trung Sơn, với ý định bắt cóc và uy hiếp Tưởng Giới Thạch. Việc này được ghi lại trong cuốn sách “Nước Nga Xô Viết ở Trung Quốc”:

Vào ngày 18 tháng 3, Lý Chi Long, quyền cục trưởng cục hải quân, đã ra lệnh cho tàu Trung Sơn của tôi nhanh chóng từ Quảng Châu trở về Hoàng Phố. Anh ta đã báo cáo với Đặng Diễn Đạt, chủ nhiệm giáo dục của Học viện Quân sự: “Nghe theo mệnh lệnh của hiệu trưởng, đặc biệt điều động tàu đến đây chờ đợi”. “Lúc này, tôi đang ở Quảng Châu, Đặng đã gọi điện cho tôi để hỏi xem sự việc thế nào, nhưng tôi không hề hay biết về chuyện này. Sau đó Lý Chi Long cũng gọi điện đến và hỏi tôi: “Tàu Trung Sơn phải chăng là đang đến Quảng Châu để nghênh đón?” Tôi cảm thất rất kinh ngạc, liền hỏi anh ta: “Ai đã ra lệnh cho tàu Trung Sơn quay trở lại Hoàng Phố?” Anh ta không nói được gì. Thực ra khi anh ta nhanh chóng cho tàu quay về Hoàng Phố, trước tiên là muốn chất đầy than ở Hoàng Phố để tạm thời chuẩn cho một chuyến đi xa. Đến tối ngày 19, tàu Trung Sơn bắt đầu quay trở lại Quảng Châu, tàu đã đốt lửa suốt đêm, lúc đó canh phòng cực kỳ nghiêm ngặt. Tôi biết chính xác đây là âm mưu được sắp đặt bởi ĐCSTQ. Tuy nhiên tại thời điểm đó, tôi chỉ biết rằng họ muốn tạo phản, làm hại tôi, nhưng tôi không biết mục đích cuối cùng của họ là gì. Mãi cho đến sau này khi đã dẹp yên được cuộc nổi loạn, tôi mới biết kế hoạch của chúng là nhân cơ hội tôi trên đường từ Quảng Châu quay lại học viện quân sự Hoàng Phố, muốn ép buộc tôi phải rời Quảng Đông, trực tiếp chạy thẳng đến Vladivostok, chuyển giao cho Liên Xô. Nhằm loại bỏ trở ngại duy nhất đối với ‘chế độ độc tài của giai cấp vô sản’ dưới danh nghĩa cách mạng quốc gia”. Vào đêm ngày 19, tôi nhận thức được rằng tình thế cách mạng đã đến mức này, sinh tử của một cá nhân là không đáng để luyến tiếc, mà sự tồn vong của đảng và cách mạng lại càng không thể cho phép tôi chần chừ thêm một chút nào nữa”.

Chiến hạm Trung Sơn (Theo Wikipedia)

Vào ngày 20, Tưởng Giới Thạch tuyên bố thiết quân luật, bắt giữ Lý Chí Long, tịch thu tất cả súng ống của các đảng viên ĐCSTQ, thu hồi lại tàu Trung Sơn, bao vây nhóm cố vấn của Liên Xô và các cơ quan của ĐCSTQ, đồng thời hủy bỏ chức vụ các đảng viên ĐCSTQ trong học viện quân sự. Các hành động quyết đoán của Tưởng Giới Thạch đã phá vỡ thế trận của ĐCSTQ. Trong lúc Borodin đang làm báo cáo tại Liên Xô, nghe được tin báo đã vô cùng hoảng sợ, ngay lập tức điều động Quý Sơn Gia và các cố vấn của mình về nước. Đến cuối tháng 4, Borodin đã đến Quảng Châu xin lỗi Tưởng Giới Thạch và chấp nhận toàn bộ 8 điều trong thỏa thuận của Tưởng Giới Thạch về việc hạn chế đối với ĐCSTQ. Uông Tinh Vệ lấy cớ bị ốm và rời đến Pháp. Tưởng Giới Thạch theo đó đã nắm quyền lãnh đạo Quốc Dân đảng.

Tưởng Giới Thạch đã tự bảo vệ mình một cách chính đáng, và ông ấy cũng là một giáo viên có danh tiếng, ngay cả các nhà lãnh đạo của ĐCSTQ cũng phải kính phục. Trần Độc Tú vào ngày 3 tháng 4 và ngày 4 tháng 6 năm 1926, đã liên tiếp xuất bản một số bài báo trên tờ “Dẫn đường”, trong đó chỉ ra rằng: “Tưởng Giới Thạch là một trụ cột của phong trào cách mạng dân tộc Trung Quốc. ĐCSTQ nếu như không phải là công cụ của chủ nghĩa đế quốc, thì tuyệt đối sẽ không áp dụng một chính sách phá hoại sự đoàn kết của các lực lượng cách mạng ở Trung Quốc”. “Từ khi thành lập Học viện Quân sự Hoàng Phố cho đến ngày 20 tháng 3, thậm chí là không tìm thấy bất kì một hành động phản cách mạng nào của Tưởng Giới Thạch”. Hơn nữa ông cũng bày tỏ: “Nếu như ĐCSTQ có âm mưu muốn lật đổ Tưởng Giới Thạch, thì họ nên đả đảo ĐCSTQ, và nếu bất kì đảng viên của đảng này âm mưu ám sát Tưởng, họ cần phải bị xử tử” (Theo “Tiểu sử của Trần Độc Tú”, Nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải, ấn bản năm 1989). 

Theo “Trần Lập Phu hồi ức tự truyện”, phía Liên Xô đã cáo buộc Quý Sơn Gia và các cố vấn khác, “Họ đã hành động thiếu suy nghĩ… Họ hiểu rằng nếu Quốc Dân đảng một khi đã thất bại ở Quảng Đông, ĐCSTQ cũng sẽ không có cách nào để tiếp tục tồn tại”.

Quyết đoán giải quyết sự cố “Tàu Trung Sơn” là thắng lợi quan trọng đầu tiên của Tưởng Giới Thạch trong ván cờ khi phải đối đầu với liên minh “Liên Xô-ĐCSTQ-Uông Tinh Vệ”. Tưởng Giới Thạch đã đi bước đầu trong việc phản đối ĐCSTQ để cứu nước.

Phụ thể bám vào vật chủ

Ngày 14 tháng 5 năm 1926, Tưởng Giới Thạch đã viết trong cuốn nhật kí: “Mặc dù các điều kiện áp đặt đối với ĐCSTQ rất khắc nghiệt, nhưng khi một đảng lớn cho phép một đảng nhỏ thực hiện các hoạt động trong đảng thì cũng giống như tự hủy diệt” (Dương Thiên Thạch, “Nhật ký của Tưởng Giới Thạch ” – Bản thảo). 

Vào năm 1926,  sau khi Cuộc viễn chinh phương Bắc được bắt đầu, ĐCS Liên Xô đã chỉ thị cho ĐCSTQ “Yêu cầu các đảng viên lợi dụng các cơ quan của chính phủ Quốc dân Đảng để tiếp cận nông dân, nhằm thực hiện cái gọi là ‘cương lĩnh chỉ đạo tại nông thôn’ và tạo ra cái mà họ gọi là ‘cuộc cách mạng nông dân’. Mục đích của nó là tổ chức lực lượng từ các cuộc bạo động nông thôn và thiết lập chính quyền của ĐCSTQ” (“Nước Nga Xô Viết ở Trung Quốc”).

Ngày 10 tháng 2 năm 1926, trong “Ghi nhanh cuộc thảo luận về vấn đề Trung Quốc của đoàn chủ tịch ban chấp hành quốc tế cộng sản”, Grigori Voitinsky (Ngô Đình Khang) đã báo cáo với Quốc tế cộng sản: “ĐCSTQ trên thực tế đang lãnh đạo Quốc Dân đảng, còn một nhóm nhỏ nằm trong cơ cấu tổ chức của Quốc Dân đảng, hiện trong tổ chức và cùng phát triển với Quốc dân đảng”. “Ảnh hưởng của ĐCSTQ quá lớn, rất khó để phân rõ ranh giới giữa hai đảng phái, dường như tất cả quyền lãnh đạo đều nằm trong tay những người cộng sản Trung Quốc”.

Trong cuộc Viễn chinh Bắc phạt, quốc tế cộng sản đã tăng tốc kiểm soát quân đội Trung Quốc: “Trong việc lãnh đạo quân đội của ĐCSTQ, các đại diện của Quốc tế cộng sản được lưu lại Trung Quốc đã nâng cao công tác chính trị của quân đội lên mức cần có, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác chính trị trong quân đội Quốc dân đảng. Họ đặc biệt lựa chọn một nhóm người trong nội bộ đảng để tham gia vào nhiệm vụ này dưới danh nghĩa Quốc Dân đảng, phấn đấu để quyền lãnh đạo thực sự nằm trong tay đảng viên ĐCSTQ, thành lập một chi bộ của Đảng Cộng sản ở cấp cơ sở của quân đội Quốc Dân đảng, và thiết lập các cơ quan chính trị trong các đơn vị quân sự trong quân đội cách mạng quốc gia, thậm chí ở cấp trung đoàn. Tất cả đều có các chính ủy làm công việc này“. (“Quốc tế cộng sản, Liên Xô và lịch sử Cách mạng Trung Quốc”, Nhà xuất bản Lịch sử Đảng Trung ương)

Năm 1927, quân đội cách mạng quốc gia tiếp quản tô giới của Anh ở Hán Khẩu trong cuộc viễn chinh phương Bắc (Theo Wikipedia)

Trong cuốn “Hồi ký của Trần Minh Khu” có ghi: “Trâu Lỗ nói rằng sau khi quân viễn chinh phương Bắc tiến đến sông Dương Tử, Quốc tế cộng sản đã bắt đầu ra lệnh cho ĐCSTQ ‘lật đổ Tưởng Giới Thạch’. Vào thời điểm đó, ĐCSTQ ở Vũ Hán cùng với phe ‘cánh tả’ của Quốc Dân đảng đã tổ chức một cuộc họp nhằm nghiên cứu về phương diện ‘nâng cao quyền lực của đảng’, mục đích là để trấn áp ‘binh quyền” của Tưởng Giới Thạch. Ban đầu Tưởng Giới Thạch vẫn không cảm giác được cho đến khi khẩu hiệu ‘đả đảo Tưởng Giới Thạch’ trở nên phổ biến ở Hồ Nam và Hồ Bắc, Tưởng Giới Thạch lúc này mới đột nhiên bừng tỉnh”.

Vào ngày 13 tháng 12 năm 1926, “Borodin đã tổ chức một cuộc họp gồm các thành viên ủy ban trung ương và chính phủ quốc gia ở Vũ Hán, quyết định tổ chức  ‘Hội nghị liên tịch’, chỉ định Từ Khiêm làm chủ tịch, nhằm thực hiện cái gọi là  ‘Cơ quan quyền lực cao nhất của đảng’” (“Nước Nga Xô Viết ở Trung Quốc”).

Không lâu sau đó, Uông Tinh Vệ đã trở về từ châu Âu để điều hành chính quyền Vũ Hán. Tuy nhiên một số đảng viên ủng hộ Tưởng Giới Thạch đã thành lập chính phủ Quốc Dân ở Nam Kinh, hình thành nên “Ninh-Hán phân tách”. “Ngay khi Uông đến Thượng Hải, ông ta và Trần Độc Tú cùng đưa ra tuyên bố, chủ trương tổ chức ‘chế độ dân chủ độc tài của tất cả các giai cấp bị áp bức bóc lột để trấn áp phản cách mạng’.” (“Nước Nga Xô Viết ở Trung Quốc”)

Trong lúc hỗn loạn, một mặt ĐCSTQ tung tin đồn để ly gián, nhằm đào sâu thêm sự chia rẽ trong Quốc Dân đảng, một mặt tạo ra những rắc rối, kích động “phong trào nông dân” ở Hồ Nam và Hồ Bắc, giết người cướp của, xảo trá vơ vét tài sản của dân và tạo ra khủng bố.

Theo Epoch Times
Toàn Kan biên dịch