ĐCSTQ đẻ ra rất nhiều cái gọi là “Tập đoàn phản đảng”, trong lịch sử hơn 170 năm của phong trào cộng sản quốc tế, những “tập đoàn phản đảng” do nó đánh đổ là nhiều nhất. Nhưng sau khi cuộc Cách mạng Văn hóa kéo dài 10 năm kết thúc, chính bản thân ĐCSTQ đã thừa nhận rằng, tuyệt đại đa số những “tập đoàn phản đảng” đó đều là đánh nhầm.

Xin chào quý vị độc giả, chào mừng quý vị đến với “Trăm năm chân tướng“. Hôm nay, chúng tôi muốn kể với quý vị về sự thật lịch sử được tiết lộ khi ĐCSTQ đánh phá các “Tập đoàn phản đảng”.

“Tập đoàn phản đảng” đầu tiên trong lịch sử ĐCSTQ

Năm 1942, khi Mao Trạch Đông phát động vận động Chỉnh phong Diên An, ông ta đã túm 5 vị: Vương Thực Vị, Phan Phương, Tông Tranh, Trần Truyền Cương và Vương Nhữ Kỳ, đả thành “Tập đoàn 5 tên phản đảng”.

Phan Phương và Tông Tranh là vợ chồng; Trần Truyền Cương và Vương Nhữ Kỳ cũng là vợ chồng; còn Vương Thực Vị là nhà phiên dịch nổi danh ở Diên An, người đã dịch hàng triệu từ tài liệu tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lê.

Theo bài báo của Đái Tình có tên “Vương Thực Vị và hoa ‘Dã bách hợp’”, hai cặp đôi họ Phan và họ Trần trong thời kỳ tại Diên An có mối quan hệ với Vương Thực Vị nhưng không quá thân thiết, chỉ bất quá là ở gần thì gặp gỡ. Thậm chí khi họ trò chuyện, cũng chỉ là xã giao, không có chuyên môn liên quan đến chính trị, thỉnh thoảng có lúc hơi thiên về tình cảm, đây cũng là chuyện thường tình giữa con người.

Tuy nhiên, 5 người này trong thời kỳ chỉnh phong Diên An, chỉ vì nói vài câu chân thật mà bị ĐCSTQ dán nhãn, đả thành “tập đoàn phản đảng”.

Ngày 2/2/1982, Ban Tổ chức Trung ương ĐCSTQ đã ra quyết định bình phản cho bốn người là Phan Phương, Tông Tranh, Trần Truyền Cương, Vương Nhữ Kỳ. Quyết định này cho thấy cái gọi là “Tập đoàn 5 tên phản đảng” do Vương Thực Vị cầm đầu đơn giản là không tồn tại.

“Tập đoàn phản đảng” đầu tiên sau khi ĐCSTQ kiến chính

Từ năm 1954 đến năm 1955, giới tối cao tầng của ĐCSTQ lại đánh phá “Tập đoàn phản đảng Cao Cương, Nhiêu Sấu Thạch”. Ban đầu nó được gọi là “Liên minh phản đảng Cao, Nhiêu”, sau này được sửa thành “Tập đoàn phản đảng Cao, Nhiêu”.

Sau khi Cách mạng Văn hóa kết thúc, không ít chuyên gia và học giả đã tiến hành nghiên cứu cái gọi là “liên minh phản đảng” này. Ví dụ, giáo sư Đại học Quốc phòng Lâm Uẩn Huy có bài “Trọng khảo sự kiện Cao Cương, Nhiêu Sấu Thạch phản đảng”, bí thư của Cao Cương là Triệu Gia Lương và những người khác trong hồi ký “Một nửa quá khứ dưới bia mộ – Cao Cương tại Bắc Kinh”, tạp chí “Viêm Hoàng xuân thu” có bài “Người trong cuộc nói về sự kiện Nhiêu Sấu Thạch” v.v.

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, cả Cao Cương và Nhiêu Sấu Thạch đều không tồn tại vấn đề phản đảng, và cả hai đều không tồn tại vấn đề liên minh.

Vào ngày 25/10/2015, Bành Khải Lôi, chủ biên chấp hành của trung tâm tin tức Bắc Kinh “Văn Hối Báo”, đăng trên Weibo rằng “Hội nghị chuyên đề kỷ niệm 110 năm ngày sinh của đồng chí Cao Cương, nguyên lão công thần khai quốc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” được tổ chức tại Khách sạn Vạn Thọ Trang. Cao Yến Sinh, con trai của Cao Cương, đã tham dự và phát biểu.

Bành Khải Lôi viết: “Ông nội tôi đã đi theo Lưu Chí Đan, Cao Cương, Tạ Tử Trường, Tập Trọng Huân làm cách mạng … Hôm nay tôi được mời tham dự buổi gặp mặt kỷ niệm, tôi vô cùng cảm khái trước bộ phim tài liệu về đồng chí Cao Cương. ‘Đồng chí Cao Cương’ lần đầu được chính danh.”

Sáu mươi năm sau khi bị đả đảo, Cao Cương lại một lần nữa được gọi là “đồng chí”, vấn đề không hề đơn giản, khẳng định phải được sự chấp thuận của Trung ương ĐCSTQ. Điều này cho thấy rằng ĐCSTQ lại công nhận Cao Cương là “người của mình”, và theo phương thức này, nó gián tiếp thừa nhận rằng “Tập đoàn phản đảng Cao và Nhiêu” của những ngày đó chỉ là trò bịp.

“Tập đoàn phản đảng” có tính toàn quốc đầu tiên sau khi ĐCSTQ kiến chính

Năm 1955, ĐCSTQ lại đánh phá “Tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong”, còn được gọi là “Tập đoàn phản đảng Hồ Phong”.

Nguyên nhân của vụ việc là do Hồ Phong, một nhà lý luận văn nghệ, nhà thơ và dịch giả văn học nổi tiếng của Trung Quốc, vào tháng 7/1954 đã viết một “Báo cáo về tình huống thực tiễn của văn nghệ kể từ khi giải phóng”, nhờ người chuyển nó đến Mao Trạch Đông, nói rằng ông về tư tưởng nhân văn và nghệ thuật bất đồng với Chu Dương, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền Trung ương và những người khác. 

Từ tư liệu lịch sử mà xét, Chu Dương đương thời là người phát ngôn tư tưởng văn nghệ của Mao Trạch Đông. Phản đối Chu Dương chẳng phải tương đương phản đối Mao? Vì vậy, sau khi đọc báo cáo, Mao khẳng định đã rất phản cảm, chụp ngay lấy Hồ Phong để khai đao. Từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1955, Mao đã viết một ghi chú cho Nhân dân Nhật báo, trong đó ông ta chụp cho Hồ Phong và những người được gọi là “phần tử Hồ Phong” nhiều cái mũ chính trị kinh khủng. Ngay sau đó, những lời chỉ trích khác nhau về Hồ Phong lần lượt được đưa ra.

Theo “Báo cáo phúc tra về tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong” do Bộ Công an, Tối cao Pháp viện và Viện kiểm sát tối cao ban hành ngày 21/7/1980, toàn quốc tổng cộng đã thanh tra hơn 2.100 người, bắt giữ 92 người, cách ly 62 người, đình chức phản tỉnh 73 người.

Nhưng đến năm 1988, Ủy ban Trung ương ĐCSTQ đã triệt để bình phản cho Hồ Phong. Nói cách khác, bản thân ĐCSTQ thừa nhận rằng, cái gọi là “tập đoàn phản đảng Hồ Phong” căn bản không tồn tại.

“Tập đoàn phản đảng” do Bành Đức Hoài đứng đầu

Tại Hội nghị Lư Sơn được tổ chức từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1959, ĐCSTQ đã đả đảo “tập đoàn phản đảng” do Bành Đức Hoài đứng đầu, thành viên bao gồm: Nguyên soái ĐCSTQ, Ủy  viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài; Tổng tham mưu trưởng Quân ủy Trung ương Hoàng Khắc Thành, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trương Văn Thiên, Bí thư thứ nhất tỉnh ủy Hồ Nam Châu Tiểu Đan.

Ngày 27/6/1981, Hội nghị toàn thể lần 6 Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ khóa XI đã thông qua “Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử của đảng từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, trong đó nêu rõ: “Phiên họp toàn thể lần thứ tám của Ủy ban Trung ương khóa VIII về cái gọi là ‘Tập đoàn phản đảng Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thanh, Trương Văn Thiên, Châu Tiểu Đan’ là hoàn toàn sai lầm.”

“Tập đoàn phản đảng” do Tập Trọng Huân đứng đầu

Vào ngày 24/9/1962, ĐCSTQ đã công kích “tập đoàn phản đảng” do Tập Trọng Huân đứng đầu.

Tập Trọng Huân, cha ruột của Tập Cận Bình, là Phó thủ tướng kiêm Trưởng bí thư Quốc vụ viện trước khi ông bị lật đổ.

Ngày 25/2/1980, Ủy ban Trung ương ĐCSTQ phát bố thông tri nói rằng cái gọi là “Tập đoàn phản đảng Tập Trọng Huân” là hoàn toàn sai sự thật, và những cáo buộc tội danh chống đảng áp đặt lên họ nên bị gỡ bỏ.

“Tập đoàn phản đảng” Bành La Lục Dương

Vào tháng 5 năm 1966, khi cuộc Cách mạng Văn hóa bắt đầu, ĐCSTQ đã tấn công “tập đoàn phản đảng” Bành, La, Lục, Dương.

Trước khi bị đả đảo, Bành Chân là Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSTQ và là Bí thư thứ nhất Thành ủy Bắc Kinh. La Thụy Khanh là Bí thư Ban Bí thư Trung ương, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện và Bí thư trưởng Quân ủy Trung ương. Lục Định Nhất làm Bí thư Ban Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Còn Dương Thượng Côn là Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương.

Sau Cách mạng Văn hóa, Ủy ban Trung ương ĐCSTQ đã ra quyết định bình phản triệt để cho Bành Chân, Lục Định Nhất, La Thụy Khanh và Dương Thượng Côn lần lượt vào tháng 2 và tháng 6 năm 1979, tháng 5 và tháng 10 năm 1980.

“Bộ tư lệnh giai cấp vô sản” Lưu và Đặng

Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, hai quan chức cấp cao nhất là: Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước, và Đặng Tiểu Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ. Ngày 5/8/1966, Mao Trạch Đông viết “Bắn phá Bộ Tư lệnh – Áp phích chữ lớn của tôi”.

Ngày 23 tháng 10 cùng năm, Đặng Tiểu Bình phát biểu tại Hội nghị Công tác Trung ương ĐCSTQ: “Áp phích chữ lớn của Mao Chủ tịch, chính là để bắn phá bộ tư lệnh của đồng chí Thiếu Kỳ và tôi.”

Mặc dù Lưu và Đặng không bị gọi là “tập đoàn phản đảng”, nhưng bị gọi là “Bộ tư lệnh giai cấp tư sản Lưu và Đặng”, trên thực tế thì chính là “tập đoàn phản đảng”.

Ngày 29/2/1980, Hội nghị toàn thể lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ khóa XI đã thông qua nghị quyết bình phản cho Lưu Thiếu Kỳ. Sau khi Đặng Tiểu Bình được bình phục và trở lại công tác vào năm 1977, ông ta đã trở thành cốt cán của thế hệ lãnh đạo thứ hai của ĐCSTQ, và cái gọi là “Bộ tư lệnh giai cấp tư sản Lưu và Đặng” căn bản không tồn tại.

“Tập đoàn phản đảng” trong các cơ quan quốc gia và giới văn nghệ

Sau khi ĐCSTQ kiến chính, các cơ quan nhà nước trung ương cũng tấn công rất nhiều “tập đoàn phản đảng”, ví dụ như Bộ Thủy lợi và Điện lực đã đánh phá “tập đoàn phản đảng” theo chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh Lý Duệ cầm đầu, Bộ Ngoại giao thì công kích “tập đoàn phản đảng” của Trương Văn Thiên. Quân ủy Trung ương thì công kích “tập đoàn phản đảng” Tiêu Khắc và Lý Đạt v.v.

Sau Cách mạng Văn hóa, những “tập đoàn phản đảng” này đều được bình phản. Từ năm 1955 cho đến cuộc Cách mạng Văn hóa kéo dài mười năm, giới văn nghệ bị ĐCSTQ thanh trừng nặng nề nhất. Ví dụ, chế tạo ra “tập đoàn phản đảng” Đinh Linh, Trần Xí Hà, “tập đoàn phản đảng” Lý Chi Liễn, Lý Tân, Trương Hải, Thôi Nghị, “tập đoàn phản đảng” Lưu Sa Hà và các cánh hữu, “tập đoàn phản đảng” Giang Phong, “tập đoàn phản đảng Tiểu Bạch Lâu”, “tập đoàn phản đảng Văn Liên hữu phái”, “tập đoàn phản đảng ẩn náu trong giới âm nhạc, mỹ thuật”, “tập đoàn phản đảng” Xuân Lôi v.v.

Sau Cách mạng Văn hóa, tất cả các “tập đoàn phản đảng” này cũng được bình phản.

Các “tập đoàn phản đảng” địa phương

Ngoài ra còn có nhiều “tập đoàn phản đảng” ở các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương. Ví dụ, tại Thượng Hải có “tập đoàn phản cách mạng” Phan Hán Niên, Dương Phàm; tại Chiết Giang có “tập đoàn phản đảng” do Sa Văn Hán, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy kiêm Tỉnh trưởng, cầm đầu; tại An Huy có “tập đoàn phản đảng” do Lý Thế Nông, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Phó Tỉnh trưởng cầm đầu; ở Quảng Tây có “tập đoàn phản đảng” do Trần Tái Lệ, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy và Phó Tỉnh trưởng cầm đầu; tại Cam Túc có “tập đoàn phản đảng” do Tôn Điện Tài, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy kiêm Phó Tỉnh trưởng cầm đầu; tại Sơn Đông có “tập đoàn phản đảng” do Hướng Minh, quyền bí thư phân cục Sơn Đông, đứng đầu v.v.

Sau Cách mạng Văn hóa, tất cả các “tập đoàn phản đảng” này đều được bình phản.

Các “tập đoàn phản đảng” khác nhau mà chúng tôi đề cập vừa rồi đều do ĐCSTQ tự mình thừa nhận là đánh phá nhầm.

Ngoài ra còn có hai “tập đoàn phản đảng” – tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu và tập đoàn phản cách mạng Giang Thanh – cho đến nay vẫn chưa được phục hồi.

Tuy nhiên, theo Lưu Gia Câu, phó tổng biên tập của tờ “Viêm Hoàng Xuân Thu”, ông đã được bộ phận biên tập của “Tinh Hỏa Liệu Nguyên” của Báo Quân giải phóng Nhân dân, đề nghị tuyển viết “Tiểu sử Lâm Bưu”. Để đạt được mục tiêu này, ông đã thâm nhập phỏng vấn gần một trăm người, thu được một số lượng lớn các sự kiện lịch sử đáng tin cậy, cuối cùng chứng minh rằng “tập đoàn phản đảng” Lâm Bưu hoàn toàn không tồn tại.

Lâm Bưu là người kế nhiệm do đích thân Mao Trạch Đông tuyển chọn, và là người kế nhiệm được ghi vào hiến pháp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ĐCSTQ.

Còn về “tập đoàn phản đảng” Giang Thanh thì càng kỳ quái. Giang Thanh là vợ của Mao Trạch Đông, trợ thủ đắc lực nhất của Mao trong Cách mạng Văn hóa, và là người thực thi cốt lõi nhất cái mà Mao gọi là “lý luận tiếp tục cách mạng dưới chuyên chính của giai cấp vô sản”. Tại sao Giang Thanh lại muốn phản đảng?

Phần kết

ĐCSTQ đã nhiều lần tự tuyên truyền mình là “vĩ đại, quang minh, chính xác”, nhưng xét từ lịch sử đấu tranh với “tập đoàn phản đảng”, nó vẫn không ngừng lặp lại những sai lầm tương tự trong nhiều thập kỷ.

Một kỷ luật chính trị khác của ĐCSTQ là “bảo trì sự nhất quán cao độ với Ban Chấp hành Trung ương đảng”. Không chỉ các thành viên trong tổ chức của nó được yêu cầu làm như vậy, mà những người dân bình thường cũng bị cưỡng bức phải làm như vậy.

Vì vậy, mỗi khi Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ đánh phá một “tập đoàn phản đảng”, thì toàn đảng, toàn quân, toàn quốc đều phải hô đánh. Những cuộc vận động chính trị được tạo ra từ hư vô này đã dẫn đến đại nạn hạo kiếp hết lần này đến lần khác cho Trung Quốc, người dân Trung Quốc, cho dân tộc Trung Hoa, bao gồm tất cả các đảng viên của ĐCSTQ ở mọi cấp độ.

Tại sao ĐCSTQ lại lặp lại những sai lầm nghiêm trọng như vậy từ trung ương đến địa phương?

Cuốn sách “Chín bài bình luận về ĐCSTQ” tiết lộ nguyên nhân: triết học của nó là triết học đấu tranh, và “đấu” là một trong chín căn nguyên lớn của ĐCSTQ. Muốn duy trì chữ “đấu” thì phải phiến động lòng căm thù cừu hận trong nhân dân, không có cừu hận thì cũng phải tạo ra cừu hận, thậm chí phải trả giá bằng những cuộc đại tàn sát. Mục đích là gì? Đó là làm cho mọi người trong bạo chính mà trở nên quen thuộc và tê dại, khiến cho việc may mắn đào thoát khỏi bạo hành thành chuyện hạnh phúc nhất, từ đó giúp cho sự thống trị của ĐCSTQ có thể được duy trì thông qua trấn áp tàn khốc. 

Mời quý vị xem video gốc tại đây.

Theo Epoch Times
Mộc Lan biên dịch