Australia đang tăng cường đối thoại trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thông qua các khoản đầu tư mới và các thỏa thuận ngoại giao khi mà Bắc Kinh không ngừng bành trướng quân sự ở Biển Đông.

Australia ngày 27/10 đã tham gia Hội nghị Thượng đỉnh các nhà lãnh đạo ASEAN. Nước này cũng công bố quan hệ đối tác chiến lược mới với gói hợp tác 115 triệu đô-la Mỹ.

Ngay sau đó, trong Hội nghị Thượng đỉnh G20 vào ngày 31/10, Australia tham gia quan hệ đối tác chiến lược tương tự với quốc gia nổi bật nhất của ASEAN là Indonesia.

Thủ tướng Scott Morrison đã nêu rõ rằng điều này sẽ có nghĩa là sự tham gia song phương đáng kể, từ sự hợp tác giữa các cơ sở giáo dục đến phát triển, tài trợ và triển khai các công nghệ phát thải thấp.

Trong một tuyên bố chung cùng với Bộ trưởng Ngoại giao Marise Payne, ông Morrison gợi ý rằng ASEAN đang đóng vai trò quan trọng đối với Australia trong việc bảo đảm một Ấn Độ – Thái Bình Dương ổn định.

Tuy nhiên, một nhà phân tích Chính trị tại Đại học Curtin, Joseph Siracusa, cho biết Australia đã hỗ trợ Mỹ đối mặt với mối đe dọa ngày càng tăng từ quyền lực mềm của Trung Quốc bằng cách gia tăng cạnh tranh trong khối.

Ông Siracusa nói với The Epoch Times: “Tôi nghĩ rằng Australia đang tăng cường gấp đôi đối với khu vực vì họ muốn tăng cường uy tín của mình và họ muốn làm những gì có thể để kiềm chế Trung Quốc – tức là chặn họ khỏi các khoản đầu tư”.

Sự hợp tác chặt chẽ này diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa ĐCSTQ với nhiều khu vực tài phán trên toàn thế giới và khắp Đông Nam Á, những người đã cảm thấy mệt mỏi trước sự bành trướng quân sự của Bắc Kinh vào Biển Đông.

Lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của ĐCSTQ đã khiến công ty viễn thông lớn nhất của Úc Telstra chi 1,6 tỷ đô-la Mỹ để tiếp quản Digicel, một công ty viễn thông thống trị ở Nam Thái Bình Dương (bao gồm khoản tài trợ trị giá 1,3 tỷ đô-la Mỹ từ Chính phủ liên bang).

Ngoài hỗ trợ tiền tệ, Úc đã tham gia Nhóm Bộ Tứ trong việc chống lại “chính sách ngoại giao vắc-xin” của Trung Quốc sau khi ĐCSTQ tận dụng các lô hàng vắc-xin của họ để thu hút ảnh hưởng quyền lực mềm thông qua Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và các khu vực khác trên thế giới.

Australia cũng đã cam kết cung cấp cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hơn 60 triệu liều vắc-xin vào cuối năm 2022.

Nhưng ông Siracusa nói rằng mặc dù sự can dự của Canberra là không thể tránh khỏi, nhưng điều đó sẽ không ảnh hưởng nhiều đến chỗ đứng hiện có của Bắc Kinh trong khối ASEAN.

Đặc biệt, Trung Quốc đã tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào Đông Nam Á trong hai thập kỷ qua, bao gồm cả việc bán vũ khí với giá cạnh tranh.

Hơn nữa, thương mại song phương đã tăng lên 685 tỷ đô-la Mỹ trong bối cảnh đại dịch vào năm 2020, phần lớn là do sự di cư của các ngành sản xuất của Trung Quốc sang Đông Nam Á.

Ông Siracusa cho biết cách tiếp cận quyền lực mềm hoạt động chủ yếu để buộc các thành viên ASEAN phải chấp nhận những bước tiến của Trung Quốc vào Biển Đông.

“Chính sách của Bắc Kinh đối với ASEAN hiện nay rất được đo lường, rất hợp tác. Và họ đang cố gắng tích hợp lợi ích chính sách đối ngoại của họ với Trung Quốc — ít nhất là họ không muốn phe đối lập”, ông Siracusa nói.

Ông Siracusa đưa ra một số lý do chính khiến Bắc Kinh muốn giành quyền kiểm soát Biển Đông – nơi hiện có trữ lượng lớn về dầu và khí đốt trong khi cung cấp đường đi cho các chuyến hàng thương mại quốc tế trị giá hàng nghìn tỷ đô-la.

Ông Siracusa nói: “Đơn giản là họ muốn khu vực này, và họ phải kiểm soát khu vực. Bạn biết đấy, Trung Quốc muốn trở thành một cường quốc toàn cầu. Nhưng trước khi trở thành cường quốc toàn cầu, họ phải kiểm soát các hồ xung quanh các cường quốc trong khu vực — Mỹ đã không trở thành cường quốc thế giới cho đến khi kiểm soát vùng Caribe và Vịnh Mexico”.

Nhưng nỗ lực kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc vẫn hình thành nên những rạn nứt giữa quan hệ của Trung Quốc và một số thành viên ASEAN, bao gồm Indonesia, Malaysia và Philippines.

ĐCSTQ đã tuyên bố chủ quyền đối với 90% diện tích Biển Đông, xây dựng các đảo nhân tạo cho các căn cứ bán quân sự, và xâm phạm lãnh hải của một số quốc gia bất chấp luật pháp quốc tế từ chối công nhận “đường chín đoạn” của Bắc Kinh.