Ngày 23 tháng 5, Tokyo và mười ba quốc gia sáng lập đã khởi động Khuôn khổ thịnh vượng kinh tế Ấn Độ – Thái Bình Dương (IPEF). Tổng GDP của 13 quốc gia chiếm khoảng 40% GDP toàn cầu. Tổng thống Biden cho biết, khuôn khổ sẽ viết lại các quy tắc Ấn Độ – Thái Bình Dương, “mở rộng vai trò lãnh đạo kinh tế của Hoa Kỳ trong khu vực.” Tuy nhiên, Đài Loan, nơi bị ĐCSTQ chèn ép, nóng lòng gấp gáp mong muốn gia nhập, lại không được đưa vào.

Cùng ngày, khi trả lời câu hỏi của phóng viên, Ông nói, nếu ĐCSTQ xâm lược Đài Loan, Hoa Kỳ sẽ can thiệp quân sự. Tờ “New York Times” cho rằng Biden “Tuyên bố này đã khiến một số thành viên trong chính quyền có mặt trong cuộc họp báo ngạc nhiên, không ngờ ông lại thể hiện quyết tâm thẳng thắn như vậy”. Trước đó, vào tháng 10 năm ngoái, Biden cũng đã phát biểu những lời lẽ tương tự.

Nếu nói rằng tuyên bố công khai bênh vực Đài Loan được gọi là “tiến” (so với “chiến lược mơ hồ” mà nói), thì việc Đài Loan không tham gia vòng đầu của IPEF có thể nói là “lui” (so với tuyên bố của Bộ trưởng Thương mại Raimondo Mỹ rằng IPEF là quốc gia châu Á cung cấp “một giải pháp thay thế cho cách tiếp cận của Trung Quốc đối với những vấn đề quan trọng này”).

Trong vòng một ngày, giữa “một tiến” và “một lùi” có rất nhiều ý nghĩa. Bài viết này đưa ra ba cách giải đọc như sau.

Thứ nhất, chính quyền Biden tuyên bố đang “cạnh tranh gay gắt” với ĐCSTQ, nhưng sẽ thiết lập “hàng rào” để tránh xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, khả năng lớn nhất có thể xảy ra chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, là nhà cầm quyền Trung Quốc noi gương Putin, “thống trị quân sự” Đài Loan một cách không lý trí. Do đó, cái gọi là “hàng rào” của chính quyền Biden chứa đựng yếu tố răn đe, để ĐCSTQ không phán đoán sai.

Ngày 23/5, khi nói về việc bảo vệ Đài Loan bày tỏ “đó là những gì chúng tôi đã hứa”, trách nhiệm bảo vệ Đài Loan “nặng nề hơn” sau khi Nga xâm lược Ukraine. Ông cho rằng, lúc này ĐCSTQ không đến nỗi dùng vũ lực xâm lược Đài Loan, mà điều đó phụ thuộc vào thái độ của thế giới và mức độ mà kẻ xâm lược sẽ phải trả giá.
Mặc dù từ lâu nay có tranh luận về “Chiến lược mơ hồ” và “Chiến lược rõ ràng”, tuy nhiên các quan chức về chính sách của Hoa Kỳ bày tỏ – “Chúng tôi vẫn cam kết thực hiện chính sách một Trung Quốc từ trước tới nay, không phân biệt đảng phái, được hướng dẫn bởi Đạo luật Quan hệ Đài Loan, Ba Thông cáo chung và Sáu Bảo đảm” (tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Price được đăng bằng tiếng Trung Quốc trên Twitter của đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Trung Quốc vào ngày 22 tháng 5), từ lâu đã làm rõ trách nhiệm an ninh của Hoa Kỳ đối với Đài Loan.

Kể từ khi Biden nhậm chức vào tháng 1 năm 2021, ông cũng đã nhiều lần phát đi tín hiệu. Vào tháng 8 năm ngoái, sau khi Afghanistan rút quân, từng cam kết nếu các thành viên NATO bị tấn công, “chúng tôi sẽ đáp trả”, và sau đó nói thêm, “Đối với Nhật Bản cũng vậy, Hàn Quốc và Đài Loan cũng vậy”.

“Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” được tuyên bố vào tháng 2 năm nay đã nói lên thành lời lần đầu tiên người dân Đài Loan có thể tự quyết định tương lai của mình (“Hoa Kỳ sẽ làm việc với các đối tác trong và ngoài khu vực để duy trì hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan, bao gồm hỗ trợ khả năng tự vệ của Đài Loan để đảm bảo rằng có một môi trường trong đó tương lai của Đài Loan được xác định một cách hòa bình theo mong muốn và lợi ích tốt nhất của người dân nước này”).

Vào ngày 14 tháng 4, Cố vấn An ninh của Tổng thống Sullivan bày tỏ, Đài Loan không giống như Ukraine, chính phủ Hoa Kỳ sẽ làm mọi thứ có thể để đảm bảo rằng ĐCSTQ sẽ không bao giờ xâm lược Đài Loan.

ĐCSTQ nhận thức sâu sắc về điều này và một bằng chứng chắc chắn là kế hoạch của ĐCSTQ cho một cuộc chiến ở eo biển Đài Loan luôn coi Hoa Kỳ là kẻ thù trong tưởng tượng. Trong nhiều thập kỷ, cuộc đối đầu của ĐCSTQ với Hoa Kỳ, ở một mức độ nào đó, nhằm mục đích làm dịu (và tốt nhất là tiêu diệt) quyết tâm và ý chí can dự quân sự của Hoa Kỳ. Đổi lại, Hoa Kỳ đã tiến hành chiến tranh tâm lý với ĐCSTQ.

Thứ hai, việc Đài Loan không được phép tham gia vòng đầu tiên của IPEF là do cân nhắc tới vấn đề chiến lược, và không có nghĩa là Hoa Kỳ coi nhẹ giá trị của Đài Loan.

Toàn cầu hoá kinh tế thế giới ngày nay bị cản trở, quá trình khu vực hoá đang tăng tốc, nó đã trở thành xu hướng ba bên của Bắc Mỹ, Liên minh Châu u và Châu Á. Năm 2010, Hoa Kỳ đề xuất “trở lại Châu Á”, với mục đích chính là ngăn cản ĐCSTQ chi phối quá trình hội nhập kinh tế của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sau khi rút khỏi TPP vào năm 2017, Hoa Kỳ đã không có một nền tảng chính sách để hội nhập kinh tế với châu Á.

Xét thấy khó khăn trong việc giảm bớt áp lực chính trị trong nước, Hoa Kỳ đã không đi theo lộ trình thành lập khu vực thương mại tự do, mà đề xuất một “khuôn khổ kinh tế Ấn Độ – Thái Bình Dương”, tập trung vào khả năng phục hồi và an ninh của chuỗi cung ứng, công bằng thương mại kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng và năng lượng xanh, thuế và chống tham nhũng. Bốn lĩnh vực chính này là “tiêu chuẩn thỏa thuận” mang các đối tác lại với nhau.

IPEF có 13 thành viên sáng lập: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Ấn Độ, Hàn Quốc, New Zealand, Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Các quan chức Hoa Kỳ không né tránh khi nói rằng IPEF đối đầu với ĐCSTQ về ảnh hưởng kinh tế khu vực, nhưng một số quốc gia thành viên không muốn hiểu IPEF từ góc độ “ngăn chặn ĐCSTQ”.

Ví dụ, tân Tổng thống Hàn Quốc Yoon Seok-ryul bày tỏ, việc tham gia IPEF không nhất định có thể xảy ra mâu thuẫn với mối quan hệ kinh tế giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, “không cần phải coi nó như một trò chơi có tổng bằng không”. Một ví dụ khác, truyền thông Ấn Độ tiết lộ rằng Ấn Độ trước đó đã bày tỏ quan ngại về việc có nên tham gia hay không.

Do dự, sau nhiều ngày căng thẳng giữa các quan chức Mỹ và Ấn Độ, Ấn Độ cuối cùng đã đồng ý tham gia vào buổi ra mắt IPEF sau khi Hoa Kỳ sửa đổi nội dung của tuyên bố chính thức để phản ánh rằng khuôn khổ vẫn đang trong giai đoạn đàm phán và sẽ vẫn mở cửa cho các quốc gia khác.

Nếu Đài Loan cũng là một trong những thành viên sáng lập, mà Đài Loan đối lập với ĐCSTQ, thậm chí có thể nổ ra một cuộc chiến tranh, điều này chắc chắn sẽ làm gia tăng mối lo ngại của một số quốc gia thành viên. Để khởi động IPEF càng sớm càng tốt (vốn đã bị trì hoãn, theo kế hoạch ban đầu là khởi động vào đầu năm nay), Hoa Kỳ đã thực hiện biện pháp cuối cùng này.

Thứ ba, để làm sâu sắc hơn quan hệ kinh tế Mỹ-Đài Loan và tiến tới IPEF, Mỹ và Đài Loan sẽ “hoàn toàn có những cách tiếp cận mới.”

Việc Đài Loan không tham gia IPEF ngay từ vòng đầu không phải là bất ngờ. Vào ngày 22 tháng 5, trong khi Biden và nhóm của ông đang trên đường đến châu Á, trên “Không lực một”, ông Sullivan nói với các phóng viên, Đài Loan sẽ không trở thành một thành viên khởi động IPEF, nhưng Washington đang tìm cách làm sâu sắc hơn quan hệ kinh tế với Đài Loan.

Phía Đài Loan cũng có sự phối hợp ăn ý về vấn đề này. Ngày 23, tại Lập pháp viện Trung Hoa Dân Quốc, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loan Vương Mỹ Hoa bày tỏ, các nhóm của Hoa Kỳ và Đài Loan sẽ gặp gỡ và thảo luận trong một vài tuần, và chắc chắn sẽ có những cách tiếp cận mới.

Hoa Kỳ nhìn thấy rất rõ sự thống trị tuyệt đối về sản xuất chip của Đài Loan trên thế giới và giá trị chiến lược của Đài Loan. Cho dù đó là sự phát triển của nền kinh tế của chính Hoa Kỳ, nắm bắt những đỉnh cao chỉ huy của nền kinh tế kỹ thuật số, hay thúc đẩy tổ chức lại chuỗi công nghiệp và chuỗi cung ứng toàn cầu, và định hình lại trật tự kinh tế quốc tế, Hoa Kỳ rất cần sự hợp tác của Đài Loan.

Để làm sâu sắc hơn mối quan hệ kinh tế Mỹ-Đài Loan và thúc đẩy IPEF, Mỹ có hai lựa chọn. Một là ký Hiệp định Thương mại Tự do Hoa Kỳ-Đài Loan, hai là bao gồm Đài Loan khi IPEF mở rộng. Điều mà bài viết này muốn chỉ ra là hai phương án này nói khó cũng khó, nói không khó cũng không khó, và mấu chốt là vấn đề ý chí quyết định sách lược của chính phủ Mỹ.

Đây chỉ là một ví dụ về Hiệp định Thương mại Tự do Hoa Kỳ-Đài Loan. Năm 2001, Thượng viện Hoa Kỳ đề xuất dự luật thành lập “Khu vực Thương mại Tự do Hoa Kỳ-Đài Loan”, nhưng không có tiến triển nào trong 20 năm. Điều này bị ảnh hưởng bởi các lực lượng chống thương mại tự do ở Hoa Kỳ và ĐCSTQ, tuy nhiên phán quyết chính trị của chính phủ Hoa Kỳ thậm chí còn có tính phê phán hơn.

Có thể lấy Israel để so sánh. Hiệp định thương mại tự do đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Israel được ký kết vào năm 1985. Năm 1985, thặng dư thương mại của Hoa Kỳ với Israel lên tới 40,5 tỷ USD, nhưng vào năm 2002, con số này đã đảo ngược thành thâm hụt thương mại với nước ngoài là 5,4 tỷ USD với Israel. Điều này cho thấy Hoa Kỳ nhìn nhận FTA Hoa Kỳ-Israel từ góc độ chiến lược — Israel là “đồng minh dân chủ duy nhất của Mỹ ở Trung Đông”.

Đối với Hoa Kỳ, Đài Loan có giá trị ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng như Israel ở Trung Đông. Mối đe dọa mà Đài Loan đang phải đối mặt hiện nay lớn hơn nhiều so với Israel. Do đó, viện dẫn trường hợp của Israel và ký hiệp định thương mại tự do với Đài Loan, chính phủ Mỹ nên đưa ra quyết định càng sớm càng tốt.

Theo Epochtimes
Kiên Định biên dịch