Trung Quốc đang sử dụng AI như một công cụ hữu hiệu để đạt được tham vọng thống trị thế giới của mình. Sự tinh vi trong các thủ đoạn nhằm đạt mục đích của ĐCSTQ đang dần lộ ra trước toàn thể thế giới, theo Vision Times.

“Mỹ chưa chuẩn bị sẵn sàng để bảo vệ hoặc cạnh tranh trong kỷ nguyên của AI [trí tuệ nhân tạo]”, theo một báo cáo dài 750 trang do Ủy ban An ninh Quốc gia về Trí tuệ Nhân tạo (NSCAI) công bố vào ngày 1/3. NSCAI là một nhóm lưỡng đảng bao gồm 15 nhà công nghệ, chuyên gia an ninh quốc gia, giám đốc điều hành kinh doanh và các nhà lãnh đạo học thuật. Báo cáo nhấn mạnh việc Trung Quốc đang khai thác trí thông minh nhân tạo, “chúng tôi rất coi trọng tham vọng của Trung Quốc là vượt Mỹ để trở thành nhà lãnh đạo AI thế giới trong vòng một thập kỷ”.

Trong khi AI có một loạt các ứng dụng đột phá có thể nâng nhân loại lên một tầm cao mới, NSCAI đã chất vấn tính đạo đức trong các nỗ lực và chiến lược AI của Trung Quốc, bao gồm cơ sở dữ liệu gen di truyền khổng lồ, việc đăng ký bản quyền và trộm cắp các ứng dụng sở hữu trí tuệ (IP) đáng ngờ và việc chuyển giao công nghệ bất hợp pháp từ Mỹ sang Trung Quốc.

Kiểm soát những người bất đồng chính kiến bằng công nghệ sinh học

Với sự ra đời của các công nghệ sinh học tiên tiến như công cụ chỉnh sửa gen CRISPR, dữ liệu gien di truyền giờ đây có thể lập trình được. Rất nhiều vấn đề thách thức phức tạp nhất của nhân loại liên quan đến sức khỏe, nguồn cung lương thực và tính bền vững của môi trường có thể được giải quyết thông qua các đổi mới công nghệ sinh học.

Tuy nhiên, “AI có thể cho phép một mầm bệnh được thiết kế chủ đích để gây chết người hoặc nhắm mục tiêu vào một cấu trúc di truyền – vũ khí có phạm vi và khả năng tiếp cận tối hậu”, NSCAI tuyên bố. Đối với đại dịch viêm phổi Vũ Hán, NSCAI thừa nhận rằng “sự nguy hiểm của mầm bệnh rất dễ lây lan”, nhưng không đưa ra quan điểm rõ ràng đối với mối liên hệ bị ngờ vực giữa Covid-19 và phòng thí nghiệm Vũ Hán.

Mặc dù vẫn còn là một lý thuyết gây tranh cãi, nhà khoa học và giáo sư người Đức, Tiến sĩ Roland Wiesendanger cho rằng “một số nguồn tin uy tín” chỉ ra khả năng một “sự cố phòng thí nghiệm” tại Viện Virus học Vũ Hán (WIV) là nguồn gốc của đại dịch. Lý thuyết phòng thí nghiệm được dựa trên tiền đề rằng Trung Quốc đã có lịch sử lâu dài tham gia các hoạt động nghiên cứu nguy hiểm nhằm tăng cường chức năng virus, có thể tạo ra các mầm bệnh truyền nhiễm hoặc chết người mới.

Chính quyền Trung Quốc hiện đã tích lũy được một cơ sở dữ liệu di truyền lớn nhất trên thế giới với hơn 80 triệu hồ sơ, và theo Newsweek, ĐCSTQ có kế hoạch “thống trị ngành công nghệ sinh học” và phát triển “vũ khí sinh học được thiết kế để nhắm mục tiêu vào một số nhóm chủng tộc nhất định”. Năm ngoái, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố các kế hoạch tăng cường giám sát vi mô công dân của mình, thúc đẩy “sự di chuyển dòng người một cách có trật tự” bằng cách tạo ra “mã QR được quy chuẩn hóa rộng rãi trên phạm vi quốc tế”, mà về cơ bản là giấy chứng nhận sức khỏe toàn cầu dựa trên kết quả xét nghiệm Covid bằng axit nucleic, hay một loại công cụ giám sát người dân.

Tập đoàn BGI (Viện Cấu trúc Gien Bắc Kinh) đã thực hiện nhiều nỗ lực bất thành vào năm 2020 nhằm thu thập DNA của người Mỹ trong một phần dự án khai thác trí thông minh nhân tạo của Bắc Kinh. Trong ảnh là đồng sáng lập BGI, Yang Huanming, chụp vào năm 2005 (Ảnh: David Cowhig qua Wikimedia Commons CC BY-SA 3.0)

Những gã khổng lồ về công nghệ sinh học như Tập đoàn BGI, trước được gọi là Viện Cấu trúc Gien Bắc Kinh, đang nỗ lực mở rộng cơ sở dữ liệu di truyền của Trung Quốc bằng cách thu thập DNA từ người dân Mỹ và các nước khác. Một bộ phim tài liệu trong chương trình 60 Minutes của CBS News tiết lộ rằng BGI đã gửi thư đến nhiều bang ở Mỹ vào năm ngoái, đề nghị cung cấp dịch vụ chuyên môn và giải trình tự gen. Kết luận chung trong việc từ chối các dịch vụ của BGI đã được xác thực bởi đây là công ty của Trung Quốc, và công ty này đã nhận được 1,5 tỷ đô-la từ ĐCSTQ vào năm 2010 và nó đã thu thập dữ liệu di truyền từ người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ để “nhận diện các cá nhân, nhắm mục tiêu vào các thành viên khác trong gia đình và cải tiến phần mềm nhận dạng khuôn mặt”.

Khai thác và đánh cắp chính sách sở hữu trí tuệ

Trung Quốc đã bắt đầu vượt xa Mỹ trong cuộc đua sở hữu trí tuệ (SHTT) nhờ các chính sách khai thác và đầu tư mạnh vào lĩnh vực này. SHTT là một thành phần quan trọng của an ninh quốc gia, tăng trưởng kinh tế và đổi mới công nghệ.

“Năm 2019, tổng số đơn đăng ký bằng sáng chế ‘phát minh’ được nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia Trung Quốc (CNIPA) nhiều gấp ba lần số đơn đăng ký bằng sáng chế hữu ích được nộp tại Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO)”. Hơn nữa, Trung Quốc thường được coi là nước dẫn đầu thế giới về hồ sơ đăng ký bằng sáng chế trong nước cho các phát minh liên quan đến AI.

Sự gia tăng đột biến gần đây của các hồ sơ đăng ký bằng sáng chế có thể sẽ gây hại cho sự đổi mới của Hoa Kỳ thông qua một hiện tượng được gọi là “tiền nghệ thuật”, một thuật ngữ về luật trong lĩnh vực bằng sáng chế để chỉ các kiến ​​thức khoa học và công nghệ mà một sáng chế sẽ được đánh giá để xác định xem nó có thật sự là một phát minh mới hay không. Vì một số lượng lớn các tác phẩm tiền nghệ thuật phải được xem xét cho mọi đơn xin cấp bằng sáng chế, nên quá trình đánh giá có thể sẽ ngày càng trở nên dài và phức tạp.

Trung Quốc đã tận dụng thêm những thành công về sở hữu trí tuệ của mình bằng cách xác định một số lượng lớn các bằng sáng chế với “tiêu chuẩn thiết yếu” (SEP). Để minh họa cho khái niệm này, việc sản xuất các sản phẩm tuân thủ tiêu chuẩn như điện thoại thông minh sẽ là bất khả nếu không sử dụng SEP liên quan đến việc truyền dữ liệu giữa điện thoại di động và tháp ăng ten. Trái lại, các bằng sáng chế phi SEP, ví như bằng sáng chế thiết kế cho công nghệ “trượt để mở khóa (slide to unlock) [trên iPhone]” thì sẽ thường bị lu mờ bằng cách sử dụng các tính năng thiết kế thay thế.

Trung Quốc đang đồng thời thúc đẩy tăng trưởng sở hữu trí tuệ (IP) trong nước bằng cách khuyến khích người nộp đơn đăng ký sở hữu trí tuệ và đánh cắp công nghệ IP nước ngoài. Trong hình là bằng sáng chế năm 1972 về máy quay đĩa hoặc máy ghi âm Sony đời đầu (Ảnh: Archives New Zealand qua Flickr CC BY 2.0).

NSCAI tuyên bố rằng việc đăng ký bản quyền quá mức các SEP có thể khiến các quốc gia vô tình bao hàm cả các công nghệ Trung Quốc đã được đăng ký bản quyền trước đó vào cơ sở hạ tầng truyền thông của họ và “kết quả đáng lo ngại có thể là các công ty Mỹ phải trả hàng tỷ USD tiền bản quyền cho các công ty Trung Quốc hoặc đối mặt với các yêu cầu bồi thường và kiện tụng phát sinh vì chủ đích xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của công ty Trung Quốc”.

Những lo ngại này càng được củng cố bởi bằng chứng cho thấy “Trung Quốc tiếp tục ăn cắp một cách tràn lan các tiến bộ công nghệ được bảo vệ bằng quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ thông qua các phương tiện khác nhau như tấn công mạng các doanh nghiệp và viện nghiên cứu, gián điệp công nghệ, tống tiền và chuyển giao công nghệ bất hợp pháp”. Rõ ràng, Hoa Kỳ phải nhanh chóng hành động để tăng cường các biện pháp an ninh, khuyến khích đầu tư vào các bằng sáng chế SHTT và tái thiết lập vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực SHTT.

Chuyển giao công nghệ bất hợp pháp

ĐCSTQ có kế hoạch trở thành “siêu cường đổi mới về KH&CN [khoa học và công nghệ] thế giới” vào năm 2050, theo Chiến lược phát triển theo hướng đổi mới quốc gia được công bố vào năm 2016. Cả chiến lược chuyển giao công nghệ hợp pháp và bất hợp pháp đều đang được tiến hành để chống lại các lĩnh vực, công ty và các tổ chức nghiên cứu quan trọng của Hoa Kỳ dẫn đến thiệt hại ước tính khoảng 300 đến 600 tỷ đô-la mỗi năm cho Mỹ khi nhiều bí mật thương mại bị đánh cắp.

Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) hiện đang tiến hành song song khoảng 1.000 cuộc điều tra liên quan đến việc Trung Quốc cố gắng đánh cắp các công nghệ của Hoa Kỳ ở hầu hết mọi lĩnh vực. Giám đốc FBI Christopher Wray giải thích trong một hội nghị năm 2020 tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington rằng bằng cách thiết lập “các đại diện trong các trường đại học” và “các viện nghiên cứu trong các trường đại học của chúng ta”, Trung Quốc đã lợi dụng tính cởi mở trong môi trường học thuật của Mỹ để đánh cắp công nghệ.

Theo dữ liệu của CSIS, trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2020, có 137 trường hợp gián điệp có liên quan đến Trung Quốc được báo cáo, 73% trong số đó diễn ra trong vòng một thập kỷ qua. Các công nghệ quân sự và thương mại là mục tiêu phổ biến nhất. Ngoài ra, 90% trong số 180 cuộc điều tra nghiên cứu y tế đang được thực hiện của FBI vào năm ngoái là có liên hệ đến Trung Quốc, bao gồm việc sử dụng sai quỹ của Viện Y tế Quốc gia (NIH), làm chệch hướng nghiên cứu SHTT và vi phạm quy chuẩn bảo mật.

Chế độ Trung Quốc cũng đã thâm nhập vào các công ty Mỹ ở mức độ đáng kể, với hơn 1,3 tỷ USD đầu tư vào các công ty khởi nghiệp AI của Mỹ từ năm 2010 đến năm 2017. NSCAI tuyên bố rằng “rủi ro chuyển giao công nghệ đáng kể [cho các nước thù địch]” có tồn tại bởi vì chính phủ Mỹ đã hạn chế quyền tiếp cận các thông tin chi tiết về các giao dịch với các chính sách hiện hành.

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.news||82533e752__

Ad will display in 09 seconds