Hơn một tháng kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, hầu như không còn hy vọng vào việc Bắc Kinh sẽ thực sự dang rộng vòng tay đối với Matxcơva.

Vào ngày 7 tháng 3, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị nhấn mạnh sự ủng hộ ngầm của Bắc Kinh đối với Matxcơva: “Bất kể tình hình quốc tế có thể bấp bênh và thách thức đến đâu, Trung Quốc và Nga sẽ duy trì chiến lược trọng tâm”.

Đối tượng của trọng tâm chiến lược này là Hoa Kỳ. Công khai thừa nhận sai phạm của Nga đồng nghĩa là đứng về phía phương Tây mà chống lại Nga. Đối với một chế độ coi Mỹ là mối đe dọa nước ngoài lớn nhất đối với sự tồn vong của mình như Trung Quốc, thì một lập trường như vậy là không thể tưởng tượng được.

Phản đối quyền bá chủ của Hoa Kỳ là nền tảng vững chắc của mối quan hệ Trung Quốc và Nga thời hậu Chiến tranh Lạnh, từ Tuyên bố chung năm 1997 về một Thế giới Đa cực và Thiết lập Trật tự Quốc tế Mới cho đến quan hệ đối tác “không có giới hạn” gần đây. Cả hai đã kêu gọi “nỗ lực chống lại các thế lực bên ngoài phá hoại an ninh và ổn định” trong khu vực láng giềng Trung-Nga.

Mặc dù một số lập luận trong các tuyên bố chính thức của Trung Quốc về Ukraine đã thể hiện sự do dự nhất định. Nhưng các nguyên tắc cơ bản là không đổi: Chỉ tay vào Mỹ và NATO, lặp lại các luận điểm của Điện Kremlin và tuyên bố Pavlovian về giá trị của Hiến chương Liên hợp quốc, “chủ quyền” và “toàn vẹn lãnh thổ.”

Đối mặt với sự lựa chọn rõ ràng giữa một bên là các ưu tiên chiến lược và một bên là các giá trị của quốc gia, không thể phủ nhận và không ngạc nhiên khi Bắc Kinh đã lựa chọn vế thứ nhất.

Nhưng bất chấp một nền tảng chiến lược vững chắc, khía cạnh kinh tế của mối quan hệ Trung-Nga luôn là một quá trình định hướng chính trị từ trên xuống, tập trung nhiều vào việc khai thác tài nguyên. Quy mô tương đối nhỏ của nền kinh tế Nga và sự thiếu đa dạng của nó đã làm giảm bớt sức hấp dẫn đối với Bắc Kinh. Những điều này làm suy giảm triển vọng cho trục Nga-Trung trong một mối quan hệ giao thương kinh tế đã từng được kỳ vọng rất nhiều.

Về việc giảm bớt các lệnh trừng phạt của phương Tây, Bắc Kinh sẽ có thể cung cấp một số hỗ trợ, nhưng khả năng làm như vậy thực sự bị hạn chế trên một số mặt.
Bắc Kinh có thể cung cấp cho ngân hàng trung ương Nga khả năng thanh khoản ngắn hạn, nhưng họ bị ràng buộc bởi nguồn Nhân dân tệ hạn chế lưu hành bên ngoài Trung Quốc đại lục.

Liên kết một phần đáng kể các khoản tiền gửi ở nước ngoài với nền kinh tế Nga bị tẩy chay sẽ cản trở nỗ lực quốc tế hóa đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. Nó cũng sẽ gây áp lực biến động lên tỷ giá hối đoái được quản lý chặt chẽ của nước này.

Trung Quốc cũng không thể hoàn toàn bù đắp được việc các ngân hàng Nga bị khai trừ khỏi Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu (SWIFT), nhà cung cấp độc quyền về truyền thông thanh toán quốc tế intrabank.

Bản thân Hệ thống thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới của Trung Quốc, hay CIPS, phần lớn phụ thuộc vào SWIFT để liên lạc quốc tế, với chỉ một số ít trong số 760 tổ chức tài chính không phải của Trung Quốc, so với 11.000 của SWIFT, được kết nối với CIPS do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc hậu thuẫn , cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ và thanh toán bằng đồng nhân dân tệ.

Trung Quốc có thể giảm bớt một số thiệt hại do lệnh cấm xuất khẩu công nghệ đến Nga, nhưng đây sẽ là những biện pháp khắc phục tạm thời mang tính vi mô chứ không phải là thay thế quy mô lớn tầm vĩ mô. Bản thân các sản phẩm thâm dụng công nghệ do Trung Quốc sản xuất đòi hỏi đầu vào từ nước ngoài, khiến chúng dễ bị Mỹ trừng phạt.

Ngay cả khả năng cứu trợ của Trung Quốc với tư cách là người mua hàng hóa của Nga cũng bị hạn chế, với việc chuyển hướng xuất khẩu năng lượng sang Trung Quốc bị hạn chế bởi tắc nghẽn cơ sở hạ tầng và Trung Quốc không muốn trở nên quá phụ thuộc vào một nhà cung cấp cho các mặt hàng quan trọng.

Nhiều khó khăn trong số này có thể được khắc phục với chi phí cao đối với phía Trung Quốc, nhưng sự đánh đổi như vậy là chưa có tiền lệ. Sau khi sáp nhập Crimea năm 2014, Bắc Kinh được coi như một toa thuốc giảm đau cho các lệnh trừng phạt áp đặt vào Nga, nhưng phần lớn trong số này là thỏa thuận có điều kiện chứ không phải là viện trợ.

Ví dụ, đường ống dẫn khí đốt tự nhiên Power of Siberia, được ký kết ngay sau khi sáp nhập, đã cung cấp cho Nga một thị trường thay thế, nhưng nó nằm trong giới hạn hợp tác kinh tế dự kiến và không có sự nhượng bộ nào từ phía Bắc Kinh.

Các nhà đầu tư Trung Quốc, vốn đã thể hiện sự quan tâm hạn chế đối với thị trường Nga, sẽ không dại gì mà vướng vào nền kinh tế Nga ngày một sa sút và thậm chí phải đối mặt với những bất ổn pháp lý xung quanh các lệnh trừng phạt, và dĩ nhiên họ sẽ chọn cách tiếp cận thị trường quốc tế.

Kể từ ít nhất là năm 2018, Bắc Kinh đã khiến các đối tác Vành đai và Con đường thất vọng vì một mức độ rủi ro cao hơn đối với sự tiếp xúc kinh tế quốc tế, và họ sẽ không tạo ra một ngoại lệ cho những gì đã trở thành một trong những thị trường rủi ro nhất hành tinh.

Một hoạt động giải cứu nền kinh tế Nga đầy mạo hiểm không nằm ở vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Với việc Tập Cận Bình dự kiến sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thứ ba vào cuối năm nay, ưu tiên của ĐCSTQ là ổn định kinh tế trong nước. Nhu cầu nội địa không tốt, các cuộc đấu tranh liên quan đến COVID và giá hàng hóa tăng vọt đã gây nguy hiểm cho mục tiêu tăng trưởng cao của Trung Quốc cho năm 2022, và không còn nhiều chỗ để có thể chứa thêm cho những lợi ích riêng của Nga.

Do đó, Bắc Kinh có khả năng hạn chế hỗ trợ cho việc mua các tài sản và hàng hóa chiến lược với giá thấp. Viễn cảnh là Nga sẽ thực sự có ít cơ hội và phải phụ thuộc vào Trung Quốc theo một cách không mấy dễ chịu.

Đối với ĐCSTQ, các mối quan tâm trong nước lấn át các tham vọng quốc tế. Điều mà cho đến nay là sự liên kết cho những lợi ích bè phái đang dần chuyển hướng đến mục tiêu kinh tế và địa chính trị ngày càng lớn.

Một mặt lập trường trung lập thân Nga vẫn sẽ được duy trì, nhưng mặt khác việc Bắc Kinh không hành động sẽ cho thấy giá trị thực sự mà họ đặt vào mối quan hệ đối tác không giới hạn này.

Theo asia.nikkei
Văn Sơn biên dịch