Gần đây, các chuyên gia về các vấn đề an ninh và quân sự của phương Tây đã đưa ra cảnh báo rằng ông Tập Cận Bình rất có thể sẽ nắm lấy cái mà ông gọi là “thời cơ chiến lược” và tấn công Đài Loan, theo VOA.

Nhà phê bình Độc lập Tang Jingyuan tin rằng cơ hội chiến lược đầu tiên là khi Tập Cận Bình muốn tái đắc cử trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 20. Ông ấy phải đưa ra những thành tựu chính trị của mình. Nếu vấn đề Đài Loan có thể được giải quyết, nó chắc chắn sẽ thiết lập tính hợp pháp của quy tắc tái tranh cử của ông Tập. Thời kỳ cơ hội chiến lược thứ hai là khi Quân Giải phóng Nhân dân đang tiến tới hoàn thành mục tiêu xây dựng quân đội thế kỷ vào năm 2027, trong vòng vài năm qua, họ đã tăng cường hiện đại hoá, có thể thách thức quân đội Hoa Kỳ.

Tang Jingyuan cho rằng theo quan điểm cá nhân của ông, việc sáp nhập Đài Loan sẽ là một “kỳ tích thế gian” vô song trong lịch sử thành lập chính trị của ĐCSTQ, đồng thời cũng là điều kiện cần và bảo đảm để Tập Cận Bình đạt được nhiệm kỳ Đại Liên lần thứ 20. 

Theo quan điểm địa chiến lược, nếu ĐCSTQ muốn đạt được mục tiêu chung là “trồng cờ đỏ trên toàn thế giới” kế thừa từ thời Mao Trạch Đông, thì việc thôn tính Đài Loan sẽ giúp họ đạt được sự thống trị tại châu Á, đây là chìa khoá đầu tiên.

Tang Jingyuan nói với VOA: “Tập Cận Bình đang chờ đợi cơ hội chiến lược hiếm có, đặc biệt là trong năm tới. Nếu ông ấy có thể hoàn thành việc tái đắc cử, sau khi phá vỡ giới hạn nhiệm kỳ này, eo biển Đài Loan có thể đi vào ngưỡng cao” – thời kỳ khủng hoảng. Nhiệm kỳ bốn năm của ông Biden là cơ hội tốt nhất để ông ta tấn công Đài Loan bằng vũ lực”.

Đấu trường của thế giới tự do

Tang Jingyuan tin rằng từ góc độ giá trị và hệ tư tưởng, eo biển Đài Loan sẽ là trận chiến đầu tiên để chế độ độc tài toàn trị thách thức tự do, dân chủ và thiết lập lại trật tự thế giới. Vấn đề Đài Loan không chỉ là một đấu trường giữa ĐCSTQ và Hoa Kỳ, mà còn là một đấu trường chống lại toàn bộ thế giới tự do, do đó đã trở thành một nền tảng để chứng minh lý thuyết của Tập Cận Bình về “phương Đông và phương Tây” và liệu chủ nghĩa toàn trị hay dân chủ sẽ thống trị.

Trong khi cuộc thảo luận về việc eo biển Đài Loan trở thành “vùng nóng” chiến tranh tiếp tục lên men trên chính trường quốc tế, các nước láng giềng đang lần lượt có những hành động phòng thủ. Ngày 6/5, Tạp chí Tài chính Australia đăng một bài xã luận cho biết nếu chiến tranh nổ ra ở eo biển Đài Loan, Australia có thể cần thực hiện Công ước Quốc phòng Mỹ-Australia-New Zealand để hỗ trợ Mỹ bảo vệ Đài Loan.

Ngày 3/5, trước thềm cuộc họp G7, ngoại trưởng Mỹ và Nhật Bản đã hội đàm song phương, tái khẳng định tầm quan trọng của hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan được nhấn mạnh trong tuyên bố chung Mỹ-Nhật. Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Nhật diễn ra ngày 16/4 rõ ràng đã đưa nội dung “hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan” vào tuyên bố chung do hai bên đưa ra.

Giới quan sát cho rằng căng thẳng ngày càng gia tăng ở eo biển Đài Loan có liên quan trực tiếp đến sự bành trướng quân sự của Trung Quốc. Trước lễ kỷ niệm 72 năm ngày thành lập Hải quân Trung Quốc, hàng không mẫu hạm “Liêu Ninh” đã xuất kích vào đầu tháng 4, băng qua eo biển Miyako và tiến vào Tây Thái Bình Dương. Đồng thời, các phương tiện truyền thông Trung Quốc cũng công bố hình ảnh hàng không mẫu hạm Sơn Đông tự chế tạo đầu tiên của Trung Quốc. Mặc dù hiệu suất của hàng không mẫu hạm Trung Quốc thua xa hàng không mẫu hạm Mỹ, nhưng việc Trung Quốc là quốc gia duy nhất ở châu Á có hàng không mẫu hạm kép đã khiến các nước láng giềng cảnh báo.

Tại Phiên họp toàn thể lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 diễn ra vào năm ngoái, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra mục tiêu kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Quân Giải phóng Nhân dân, cam kết “đẩy nhanh hiện đại hóa quốc phòng và quân đội, hiện thực hóa sự đoàn kết của một đất nước thịnh vượng và quân đội mạnh, bảo đảm hoàn thành mục tiêu xây dựng quân đội thế kỷ vào năm 2027. ” Thế giới bên ngoài cho rằng thời điểm năm 2027 là cơ sở chính để Davidson, cựu tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, dự đoán rằng ĐCSTQ sẽ tấn công Đài Loan trong vòng sáu năm.

Tuy nhiên, nhà phê bình độc lập Tang Jingyuan nói rằng kể từ khi ĐCSTQ thành lập chế độ, việc chuẩn bị cho cuộc tấn công vũ trang vào Đài Loan chưa bao giờ được nới lỏng, vì vậy việc huy động quân sự của chế độ không phải là vấn đề. Vấn đề lớn nhất đối với ĐCSTQ là làm thế nào để ngăn chặn quân đội Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp và tránh một cuộc chiến toàn diện với Hoa Kỳ. Do đó, cốt lõi của Bắc Kinh là đẩy nhanh việc mở rộng sức mạnh quân sự của mình.

Tang Jingyuan nói rằng bằng cách này, một khi tiến hành một cuộc xâm lược, ĐCSTQ có thể bảo đảm lợi thế quân sự cục bộ ở eo biển Đài Loan. Bây giờ họ đang tiếp tục mở rộng sức mạnh quân sự của mình, đó là sự “tiếp diễn” của quá trình này.

Sức mạnh Mỹ-Trung sắp ở ngưỡng cân bằng

Tang Jingyuan cho rằng nhận định của ông Tập Cận Bình về “thời cơ chiến lược” là hiện tại và vài năm tới sẽ là thời điểm sức mạnh của Hoa Kỳ và Trung Quốc gần nhau nhất, đặc biệt là đại dịch COVID-19 đã gây ra tổn thất nặng nề cho sức mạnh quốc gia của Hoa Kỳ. Lúc này là thời điểm tốt nhất để xâm lược Đài Loan. Tuy nhiên, nếu một tổng thống tương đối quyền lực xuất hiện ở Hoa Kỳ trong 4 năm nữa, thì khó khăn cho việc thôn tính Đài Loan của ông ta chắc chắn sẽ tăng lên.

Đối với học giả Trung Quốc Bao Chengke, trợ lý Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á Thượng Hải, đưa ra một quan điểm hoàn toàn khác, ông tin rằng tình hình ấm lên ở eo biển Đài Loan không liên quan gì đến “thời kỳ cơ hội chiến lược” của Tập Cận Bình, mà là “Đài Loan độc lập”. Ông nhấn mạnh rằng chúng ta không nên tìm kiếm các yếu tố nguy hiểm của quan hệ hai bên bờ eo biển từ sự phát triển chính trị trong đất liền, mà nên xem xét mối quan hệ nhân quả của căng thẳng giữa hai bên từ vấn đề quan hệ hai bên bờ eo biển.

Bao Chengke nói: Vấn đề bây giờ là Đài Loan đang thúc đẩy sửa đổi hiến pháp. Đây là một động thái rất nguy hiểm. Nó sẽ không tuân theo định nghĩa của sự đồng thuận năm 1992. Nếu Tổng thống Thái Anh Văn đưa ra một định nghĩa về sự độc lập của Đài Loan, thì nguy cơ giữa hai bờ eo biển rõ ràng là đến một điểm tới hạn. 

Bao Chengke nói rằng sức mạnh quân sự hiện tại của Trung Quốc là quá đủ để giải quyết vấn đề Đài Loan và không cần phải đợi sáu năm sau. Học giả này lưu ý ông Tập Cận Bình vẫn hy vọng có thể xử lý các mối quan hệ xuyên eo biển trong tương lai thông qua các biện pháp hòa bình thay vì sử dụng các biện pháp quân sự để giải quyết những khác biệt giữa hai eo biển. Bao Chengke nói: “Đây là thiện chí của đại lục.”

Cả hai bờ eo biển Đài Loan đều đáp ứng các điều kiện dẫn đến xung đột 

Wu Chonghan, phó giáo sư Khoa Ngoại giao, Đại học Quốc gia Chengchi, Đài Loan, nói với VOA rằng trong quá trình nghiên cứu các mô hình xác minh xung đột quốc tế, các nguyên nhân được quan tâm nhất là: lòng thù hận (chiến tranh trong chiến tranh), lãnh thổ (Trung Quốc tuyên bố Đài Loan là một phần lãnh thổ của mình), liên minh (Hoa Kỳ đang tích cực lôi kéo các đồng minh của mình), hệ thống của nó (độc tài toàn trị so với dân chủ), và quyền lực của nó là không bình đẳng. Nếu bạn đặt các điều kiện này lại với nhau và tham khảo chúng, bạn sẽ thấy rằng Đài Loan và Trung Quốc hoàn toàn đáp ứng được các điều kiện “nguy hiểm” trong nghiên cứu quan hệ quốc tế và xung đột quốc tế trong chính trị Mỹ.

Wu Chonghan cho rằng “thời cơ chiến lược” của Tập Cận Bình đã đẩy eo biển Đài Loan trở thành vùng nóng của chiến tranh. sự trổi dâỵ của đất nước Trung Quốc vào năm 2050, có một sự cấp bách về thời gian.

Wu Chonghan nói: “Bởi vì nếu ông ấy (Tập Cận Bình) không lập được thành tựu và hoàn thành các ý tưởng của mình trong nhiệm kỳ, thì tính chính danh và hợp pháp của việc ông ấy tái cử có thể không đủ. Ông ta có cơ hội phát động chiến tranh bên ngoài để duy trì tính hợp pháp của quyền lực của mình, điều này thường được công nhận trong giới học thuật. “

Tuy nhiên, Richard Bush, cựu chủ tịch của Viện Mỹ tại Đài Loan (AIT) và là nhà nghiên cứu cấp cao hiện tại tại Viện Brookings, đã được hỏi về khả năng Đảng Cộng sản Trung Quốc tấn công Đài Loan trong vòng sáu năm khi đang quảng bá cuốn sách mới, Richard Bush nói: ĐCSTQ “có khả năng không có nghĩa là có ý định.” Rốt cuộc, câu trả lời về thời điểm tấn công Đài Loan nằm trong suy nghĩ của Tập Cận Bình.